Thứ Hai, 18 tháng 6, 2007

Đảng CSVN lại phong Thánh cho HCM, ÐỂ "BÁC" MÃI MÃI ÐƯỢC SỐNG TRONG QUẦN, CHÚNG TA


Sau ngày 30-4-1975, cộng sản VN làm chủ cả nước, đã hành xử như những đế quốc thực dân từng chiếm đóng nước ta buổi trước: Tàu, Pháp, Nhật... Vì đã tự coi mình là chủ nhân ông, nên chúng đã hủy bỏ tư cách làm người, làm dân của đồng bào Miền Nam chiến bại, từ vĩ tuyến 17 trở vào. Các lãnh tụ đảng mà gần hết thuộc thành phần bần cố nông đúng nghĩa, gặp dịp vàng ròng, nên ai nấy tha hồ chuyển vận tài sản của miền Nam, công cũng như tư, trong đó có 16 tấn vàng y và hằng trăm triệu đô la công khố quốc gia, ra Bắc để cùng chia chác làm của riêng, vì cho rằng đây là chiến lợi phẩm. Một nền kinh tế thời hậu chiến, do chênh lệch trình độ quá mức giữa hai miền Nam-Bắc, từ sự phát triển tới cung cách quản lý, đã đem tới kết quả thê thảm, gần như cướp bóc và phá hoại hoàn toàn tài nguyên của đất nước và tài sản đồng bào Miền Nam bị giặc đô hộ.

Cũng từ đó, xã hội VN xuất hiện thành phần thực dân đỏ, bao gồm nhà cầm quyền mới và nhân dân mới, hầu hết đều là người miền Bắc hay Miền Nam tập kết, cán bộ đảng, công an bộ đội và bọn nằm vùng, trở cờ miền Nam. Tất cả đều kiêu ngạo, lì lợm, tự phụ, vì đã nắm giữ hết các quyền lợi, truyền thống, tạo thành nếp sống mới, yêu nước là phải nhắm mắt hi sinh, bằng lòng chấp nhận xưng tụng, tôn thờ tổ quốc xã hội chũ nghĩa. Phận người Miền Nam chiến bại, thành hạng công dân thứ hai, bất kể ở thành phố hay nông thôn, nguỵ hay loại đâm sau lưng chiến sĩ ngày trước, sống lêu bêu bên lề cuộc sống đói nghèo. Thì ra cách mạng chỉ là sự thay ngôi đổi chủ, nhờ phương tiện máu xương của nhiều thế hệ và cuối cùng hầu hết những người có công giúp đảng, đều ôm nhau tủi nhục, trong cảnh đói nghèo, mất hết tất cả tự do kể cả quyền được làm một kiếp người rất bình thường, chỉ cần có cơm ăn áo mặc, một sự việc, nếu đem so sánh với cuộc nhân sinh qua các giai đọan lịch sử của dân tộc, thì còn tệ mạt cả trăm lần hồi Pháp thuộc, nói chi tới thời VNCH hai mươi năm, dù bị chiến tranh liên tục, nhưng đâu thấy ai đói cơm rách áo và bị bóp nghẹt đời sống riêng tư, ai phải làm dâu khắp xứ hay bán xác lao động như hiện nay, cho dù thời đó có một vài phụ nữ do hoàn cảnh chiến tranh đã phải làm vợ người ngoại quốc.

Tóm lại VC vì lượm được chiến thắng thật bất ngờ và quá dễ dàng tại Miền Nam, nên nhóm lãnh đạo cộng sản tại Bắc Bộ Phủ, càng kiêu căng phách lối, điên cuồng mơ mộng đến nổi thành mê muội. Cuối cùng đã nhận chìm cả nước vào vũng bùn xã nghĩa u tối tanh hôi. Có điều, chiến thắng là đồng nghĩa với sự chấm dứt viện trợ của các nước trong khối cộng sản đệ tam quốc tế. Ngoài ra, tới lúc VC phải bắt đầu trả nợ súng đạn mua chịu của Nga, Tàu, Ðông Âu. cùng tất cả những gì đã vay mượn trong quá khứ, cộng với tiền lời. Số nợ núi trên của đảng cộng sản, hoàn toàn chỉ dùng để làm phương tiện cưỡng chiếm cho bằng được Miền Nam, chứ không hề liên hệ tới công ích của đồng bào miền Bắc, vì trong suốt thời gian từ 1955-1975, Bắc Việt tức Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, chỉ có hai công trình vĩ đại, đó là Lăng Hồ ở Ba Ðình do Nga xây và Khách Sạn quốc tế tại Hà Nội, được Fidel Castro giúp. Tóm lại cả hai miền VN đều sống bằng ngoại viện, chứ không phải chỉ có miền Nam. Có điều chính phủ VNCH từ TT Ngô Ðình Diệm, các tướng Nguyễn Khánh, Nguyễn Cao Kỳ, cho tới TT Nguyễn Văn Thiệu, Trần Văn Hương và cuối cùng la Dương Văn Minh, . tuy phải qui lạy xin quân viện Mỹ để có phương tiện chiến đấu giữ nước nhưng không hề có một cấp lãnh đạo nào, đã cắt bán hay bí mật nhượng đất đai của tổ quốc mình cho ngoại bang. Trái lại Việt Gian Cộng Sản, từ Hồ Chí Minh, Pham văn Ðồng, Lê Duẩn cho tới Ðổ Mười, Lê Khả Phiêu, Nông Ðức Mạnh, Võ Văn Kiệt, Trần Ðức Lương, Phan Văn Khải, Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Minh Triết... Tất cả từ lớn tới nhỏ, lúc nào cũng bí mật thậm thụt đủ điều, tìm đủ mọi cách mãi quốc cầu vinh để giữ đảng, giữ chức, đã bán đứng Hoàng Sa, Biên Giới Việt-Bắc và Biển Ðông cho giặc Tàu và ngoại bang, tới nay ai cũng biết. Ðây mới chính là điều sỉ nhục nhất trong giòng sử Việt.

Ðể tuyên truyền, lừa bịp quần chúng cũng như đầu độc dư luận trong và ngoài nước, nên từ khi xuất hiện cho tới nay, cộng sản VN luôn luôn tìm đủ mọi cách để chà đạp và hạ uy tín các chúa Nguyễn Ðàng Trong cũng như Nhà Nguyễn (1802-1945). Có làm như vậy, đảng mới đánh bóng và đưa Hồ Chí Minh lên tận mây xanh, đồng thời ngụy tạo được nhiều chứng liệu lịch sử để vu khống người xưa, mà điển hình là câu vè dưới nay, được đảng phổ biến ở miền Bắc VN trước ngày 30-4-1975:

"vạn niên là vạn niên nào?

thành xây xương lính, hào đào máu dân"

Ngày nay, qua cuộc phong trần, trước đống núi tài liệu và bằng cớ xác thực những hành động quan liêu, phong kiến, bán nước và hủ bại của những người cộng sản, nhất là trong cung cách suy tôn Hồ Chí Minh, kể cả đám táng, cái xác thối nằm ở Ba Ðình và những tuyên truyền lố lăng coi thường dư luận trong và ngoài nước, đặc biệt là việc phung phí công khố quốc gia, để bảo quản suốt mấy chục năm qua cái xác ướp của Hồ, rồi còn lập chùa, đúc tượng đồng mạ vàng thật, để Hồ chễm chệ ngồi ngang hàng với Phật-Thánh và Quốc Tổ Hùng Vương, hiện nay diễn ra khắp nước mà lố lăng nhất là đám phường chèo đang bày trò khỉ đột, tại một ngôi chùa quốc doanh trong tỉnh Bình Dương. Do trên dân chúng VN lại hát:

"Ba Ðình còn gấp chục lần,

Dân đen gãy cổ, mát thân cụ Hồ. "

Không có gì tồn tại với thời gian, ngoại trừ xú danh bia truyền muôn thuở, cho nên ta cũng đừng bận tâm làm gì những mất mát trong thời loạn. Ðược làm vua, thua là giặc, như là một biện chứng bi thảm trong thời đại chúng ta phải chứng kiến, do các tên giặc cỏ, được thời cơ, dành giựt công lao và xương máu của toàn dân suốt thời kỳ đánh đuổi thực dân Pháp, mục đích cũng chỉ để cải thiện cuộc sống cơ cực bần hàn, của một lớp người không còn biết làm gì hơn là nghề chém thuê giết mướn.

Bây giờ, trước cánh cửa tri thức, điện toán và trên hết là sự giải mật phần lớn các tài liệu có liên hệ tới những lãnh tụ chính trị, trong đó có đảng cộng sản VN, từ lúc chưa ăn thôi nôi, năm 1930 tới tận ngày nay. Hơn nữa, dù VC đang siết cổ họng để bịt miệng dân chúng trong nước bằng súng đạn và ngục tù, nhưng thực tế chẳng ai sợ ai, khi cái chính sách công an khu vực, hộ khẩu và phiếu tem cung cấp lương thực đã không còn giá trị trên kinh tế thị trường. Có tiền mua tổng bí thư và đảng cũng được, như bác Năm Cam đã làm, thì chuyện sang Mỹ du hý và vào Tòa Bạch Ốc để bắt tay các yếu nhân Hoa Kỳ cùng Tổng Thống G. W. Bush vào năm 2005 của Phan Văn Khải và Nguyễn Minh Triết sắp tới vào tháng 6-2007, xét cho cùng, cũng đâu có gì là kinh thiên động địa, nhất là từ khi cựu Tổng Thống Mỹ Bill Clinton đã biến Bạch Cung thành một siêu khách sạn, mở cửa đón nhận tất cả mọi người vào ăn chơi nhậu nhẹt, kể cả ngủ đêm, miễn sao trả đủ tiền nong thuế má đã được ấn định sẵn là xong chuyện

Bởi vậy khi đọc qua những tài liệu có dính líu tới lịch sử, đã cho nhiều cảm xúc bất ngờ. Hơn ai hết, người Bình Thuận-Phan Thiết, không biết trời xui đất khiến, tạo nên nghịch cảnh éo le, trong màn kịch đồng song, chung khoá giữa cử nhân Trương Gia Mô với Phó Bảng Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng và Nguyễn Sinh Sắc. Rồi thì trong một chuyến đưa bạn Trần Quý Cáp tới nhiệm sở Ninh Hòa, thẳng đường vào Phan Thiết, gây cho hậu thế trăm năm sau, cái họa "anh thanh niên Nguyễn Tất Thành" dạy học tại trường Dục Thanh và sau đó xuất dương tìm đường cứu nước. Người Phan Thiết vô cớ lãng xẹt, phải làm nhân chứng bất đắc dĩ của một thời đại nhiễu nhương ba xạo. Buổi trước ông cha ta, vì bản chất an phận thủ thường, và trên hết là do nghịch cảnh một tròng bốn cổ, nên phải giả vờ lấy vải thưa che mắt thánh, để miệng hoan hô đã đảo loạn ngầu cho an thân. Trò hề trống đánh xuôi kèn thổi ngược hòa đồng trong tiếng trống chầu của bọn hề chèo ngông nghênh viết lách, nhiều chuyện trên trời dưới biển, vu vơ sáo rỗng, chỉ có tác động tuyên truyền ra oai, làm cho người nay càng bi phẫn khinh miệt. Lịch sử, nhất là lịch sử VN, đã dạy cho hậu thế nhiều đạo lý làm người, nhất là trong thời đại mạt pháp, mạt vận của dân tộc đang ngoi ngóp trong vũng bùn xã nghĩa.

Năm 1989, qua những khuôn mặt đấu tranh như Lech Walesa, Vaclav Havel... từ Ba Lan, Tiệp Khắc, Hung, Lỗ... khiến cho các chế độ cộng sản đệ tam tại Ðông Âu, lần lượt sụp đổ. Năm 1990 nước Ðức thống nhất sau khi Ðông Ðức từ bỏ thiên đàng xã nghĩa và đập nát bức tường ô nhục Bá Linh. Cuối cùng tại Liên Xô, đất tổ và sào huyệt của Ðệ Tam CSQT, chẳng những chế độ cộng sản bị diệt tuyệt, mà tính đến tháng 8-1990, đã có 13 trong số 15 nước Cộng Hòa trực thuộc Liên Bang Xô Viết, tuyên bố tách rời và độc lập hoàn toàn. Như vậy trên thế giới chỉ còn lại bốn thiên đàng xã nghĩa là Bắc Hàn, Cu Ba, Trung Cộng và Việt Cộng, từ đó đến nay, qua bao nhiêu năm, dựa vào tư bản, để cố lội ngược thời gian, tiến thẳng lên cách mạng xã hội chủ nghĩa... như luận cương của đệ tam quốc tế cộng sản đề ra năm 1930.

Tại VN, sau khi chủ thuyết Marx-Lenin bị nhân loại quăng vào sọt rác, đảng vội vã vơ vét lại những lời nói của Hồ cách đây hơn nửa thế kỷ trước, và gọi đó là "Tư Tưởng Hồ Chí Minh", vừa để dụ khị bọn cán bộ trung kiên già nua đang chao đảo trước cuộc đổi đời, vừa lừa gạt thế giới rằng là đảng ta độc lập, không liên hệ gì tới chủ nghĩa LêMarx... Nói một cách tử tế không cần úp mở, VC khi cho Hồ Chí Minh bật dậy sống lại với đảng, để khẳng định một đường lối cho đất nước, bằng thứ tư tưởng có hơn nửa thế kỷ trước, đã lỗi thời trước sự tiến hóa của nhân loại, chẳng qua cũng chỉ mượn miệng Hồ, để khẳng định: "Quyết tâm của VC là tiêu diệt các hình thức sở hữu không thuộc xã hội chủ nghĩa, làm cho nền kinh tế riêng rẽ trở thành thuần nhất và trên hết chế độ sở hữu của toàn dân, là không ai có được của riêng vì nhà nước là chủ tất cả từ người tới của cải vật chất... "Ðã coi chủ nghĩa Marx-Lenin là lỗi thời, đã biết Hồ Chí Minh một đời gây ra không biết bao nhiêu là tội ác và nỗi bất hạnh trầm thống cho dân tộc, đã biết xã hội chủ nghĩa là đói nghèo và huyễn hoặc, đã phải quì gối van lạy người Việt tị nạn cũng như thế giới văn minh của loài người, để cứu đảng. Thế nhưng VC chứng nào tật nay, không bao giờ biết nghĩ tới dân tộc và non sông, không bao giờ chịu thành tâm ăn năn sám hối trước biển tội ác, vẫn cứ tiếp tục làm tôi tớ cho ngoại bang Nga-Tàu, kể cả Mỹ-Nhật và bọn Tàu Trắng, Nam Hàn. Trò hề kéo xác chết Hồ ra khỏi nhà mồ vĩ đại Ba Ðình, xây chùa tạc tượng, bắt mọi người sùng bái như Phật-Thánh, chẳng qua chỉ để dựng lại những huyền thoại tưởng tượng, tuy có gây chút hào khí nơi bọn đảng viên VC già nua trong nước và một đám Việt gian trí thức, ăn chén đá bát, no cơm rửng mỡ nơi hải ngoại, thì cũng không thể dấu nổi Sự Ngiệp Vĩ Ðại Bán Nước và làm tôi tớ cho Nga Tàu, của Cáo Hồ và đồng đảng trong bảy mươi lăm năm qua...

+ ÐI TÌM CHÂN TƯỚNG HỒ CHÍ MINH, QUA CÁC LỐI MÒN TRONG THÂM CUNG BÍ SỬ DƯỚi TRIỀU HỒ:

Tới bây giờ, dù sự thật lịch sử VN đã gần như phơi bày toàn vẹn trước ánh sáng của nhân loại nhưng trong nước, hầu hết người dân kể cả người miền Bắc, vẫn không biết đích thực" Hồ Chí Minh" là ai ? vì từ lúc ra đời với cái tên Nguyễn Sinh Cung (Cuông), tới năm 1942 Hồ đã thay tên đổi họ tới 26 lần (Nguyễn tất Thành, Nguyễn Ái Quốc, Lý Thụy, Linov, PC Lin, Hồ Quang, Vương Quốc Tuấn, Sáu Sán, Hồ Chí Minh...). Năm 1944 Hồ từ Côn Minh về nước, lúc đó chỉ mới 53 tuổi nhưng bắt buộc mọi người gọi mình là "Cụ". Nhưng Trần Huy Liệu đang làm trưởng ban tuyên truyền của đảng, nghe các cán bộ gốc Thanh, Nghệ, Tỉnh mỗi khi gọi Hồ là "Cụ" lại phát âm như không có dấu nặng, nên âm thanh rất chướng tai và bất nhã. Do đó Ðảng không cho mọi người gọi Hồ là "Cụ" mà đổi thành "Bác" từ đó.

Về chuyện tếu có liên hệ tới việc dân ta đã gọi "bác Hồ" là Người, cũng lại được chính Hồ sáng tạo như đã tự mình viết sách ca tụng mình. Ðể nhận chữ Người, Hồ bịa chuyện từ định nghĩa "Nhân là thật thà yêu thương, hết lòng giúp đỡ đồng chí và đồng bào", nên chữ nhân này là Ðức Nhân, chứ không phải là chữ Nhân thông thường, dùng để chỉ con người. Hởi ơi sự đời tráo trở đến thế là hết ý, vì ai cũng biết "Nhân giả nhân dã" của triết lý Ðông Phương tự ngàn đời, nói về "Ðức Người". Chính Khổng Phu Tử cũng đã nhận rằng "Nhân viễn hồ tai, ngã dục nhân tư nhân chí hĩ" ý ngài nói lòng Nhân đâu ở xa, nếu ta muốn thực hiện, thì sẽ có ngay trước mặt. Ngoài ra ai cũng biết "Ðức Nhân" là sự kết tụ tinh túy của mọi đức tính khác của con người như Trung, Tín, Trí, Dũng, Nghĩa, Lễ, Cương Nghị, Hiền Lành... Hồ Chí Minh suốt một kiếp người, từ khi xuất dương năm 1911 tới lúc nhắm mắt năm 1969, là một kẻ xảo ngôn, phô sắc, gian ác, hiểm độc, bán nước, phản dân tộc, xét về tư cách và hành động, đích thật là một tiểu nhân. Như vậy đương sự lấy gì, để tự mình cuồng điệu về Ðức Nhân, Lòng Khoan Hồng Ðại Ðộ cùng với sự Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Công Bằng... để bắt buộc mọi người gọi Mình là Cụ, Bác và Người (viết Hoa).

Sau ngày 30-4-1975, bộ mặt thật của Hồ và Ðảng CSVN lần lượt rơi rớt vì đã hết cơ hội, để "Bác" tạo thêm sự nghiệp cứu nước, khi đòi độc lập và thống nhất cho quốc gia dân tộc. Tất cả đã trở thành phường chèo trước mắt của đồng bào miền Nam, khiến cho không ai, kể cả đám văn nô quốc doanh, còn dám bẽ cong ngòi bút, để tuyên truyền dụ dổ những người nhẹ dạ nhắm mắt chạy theo Hồ và đảng Cộng Sản như thuở hồng hoang buổi trước:

"đồng bào hãy vùng lên

quyết tâm theo bác Hồ

nông dân sẽ có đất

người nghèo sẽ có ăn

gạo lúa sẽ đầy sân... ".

Bởi vì các thế hệ VN, kể cả lớp người sinh sau cuộc chiến, đâu có ai quên được những cuộc thanh trừng đẵm máu của Hồ và phe cánh, đối với những người được gọi là đồng chí đồng đảng, để tranh giành quyền lực, trong thâm cung bí sử triều Hồ. Ai quên được sự sát hại người Quốc Gia của Hồ, trong Mặt Trận Việt Minh và những lần hòa hợp, hòa giải Quốc-Cộng, suốt chín năm kháng Pháp. Ai quên được Hồ ra lệnh tàn sát hằng triệu đồng bào vô tội ở miền Bắc, qua chiến dịch cải cách ruộng đất vào thập niên 50, mà trong số này có rất nhiều người đã từng xả thân chống Pháp, để dành độc lập cho dất nước và nửa mảnh sơn hà cho Hồ. Ai quên được xương máu VN của cả hai miền Nam Bắc, khi Hồ bày trò "Ðánh Mỹ-Ngụy cứu nước". Thảm tuyệt nhất trong lịch sử Việt, cũng vẫn là những vụ tàn sát đồng bào vào Tết Mậu Thân 1968 tại Huế, trên các đại lộ kinh hoàng Quảng Trị-Huế, Bình Ðịnh, Kon Tum-Pleiku và Bình Long-An Lộc năm 1972 và khắp VNCH vào những ngày tháng 4-1975. Ai quên được các cuộc tàn sát trả thù Quân Công Cán Cảnh VNCH của CS Hà Nội sau ngày 30-4-1975, các cuộc cướp giựt tài sản đồng bào Miền Nam VN qua những lần đổi tiền, đánh tư sản, xuất cảng người vươt biển, lao động, làm điếm... để Hồ và Ðảng hoàn thành sự nghiệp cách mạng vô sản quốc tế, đưa đất nước lên Xã Hội Chủ Nghĩa.

Ðó cũng là lý do Dương Thu Hương đã dám viết "Dân tộc VN tự ngàn xưa bao nhiêu lần ngăn chống giặc Tàu phương Bắc để giữ và cứu nước. Ho luôn cần tới những vi anh hùng dân tộc như Trần Hưng Ðạo, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Quang Trung... chứ đâu có ai cần tới Ðảng CS và lãnh tụ Hồ Chí Minh". Còn Trần Văn Giàu, một Việt Cộng gộc có tới 60 tuổi đảng, trước sự tan rã của chủ nghĩa CS Ðệ Tam tại Ðông Âu, Ðông Ðức và Liên Xô, nên không còn biết làm gì hơn để gỡ gạc, vì vậy trong lần hội nghị của Trung Ương Ðảng VC vào tháng 6-1992 tại Hà Nội, Giáp đã thẳng thừng đề nghị Bắc Bộ Phủ hãy quăng cái lý luận Mac Lê lỗi thời vô dụng vào sọt rác, như nhân loại vừa làm, bởi đồng bào VN cả nước đang đói rách ngu nghèo, nên không còn ai muốn nghe thêm lời Ðảng tuyên truyền nữa. Tuy nhiên nhức nhối và nhục nhã nhất đối với VC, đó là sự kiện cơ quan UNESCO của tổ chức Liên Hiệp Quốc, trước sự chống đối của Cộng Ðồng Người Việt Tị Nạn CS khắp trên thế giới, cũng như dư luận toàn cầu. Nhờ đó Họ đã nhìn rõ con người Hồ và bộ mặt thật của Ðảng CSVN suốt thời gian qua, nên quyết định hủy bỏ Việc Vinh Danh Hồ là Vĩ Nhân theo đề nghị của Ðảng, qua lần sinh nhật thứ 100 của Ðảng CS. Tóm lại từ sau ngày 30-4-1975, bộ mặt thật của Xã Hội Chủ Nghĩa VN đã gần như phơi bày một cách trần trụi khắp nước, nhờ đó mọi người mới thấu triệt được "sự nghiệp cách mạng của Hồ" suốt 75 năm qua, chủ yếu dựa trên nền tảng của "Thần Quyền" để trấn áp mọi người. Ðiều này cũng dễ hiểu vì Hồ vốn xuất thân từ lò chính trị "Ðông Phương Hồng" do Lê Nin sáng lập. Trong khi đó họ Lê trước khi lập Ðảng CS chống lại Nga Hoàng, vốn xuất thân từ giới quý tộc, nên đã nhận thức rõ ràng về giá trị thần quyền của tín ngưỡng. Vì vậy Lê Nin đã tôn giáo hóa lập thuyết kinh tế chính trị của cả Mark và mình, tổng hợp thành "Học Thuyết Mác Lê" để các nước Xã Hội Chủ Nghĩa trong đó có Ðảng CSVN, đã được Hồ và các lãnh tụ khác mang về nước, làm thành Ý Hệ Cầm Quyền cho tới mgày nay vẫn không có gì thay đổi.

Ðó là tất cả nguyên lý bất khả phân của Ðảng CSVN, suốt 75 năm qua, tự coi mình như là một thần tượng, một thứ Tôn Giáo qua giáo lý "Bác Hồ chỉ Một, Ðảng không thể Hai", có vậy mới Thần Hóa Ðảng, Thánh Hóa Nhà Nước... để Ðảng và Nhà Nước thay Trời cai trị cả nước, theo đường lối chính sách Giáo Ðiều, cấm không cho ai được chỉ trích phê phán. Bởi vậy dưới triều đại Thiên Ðàng Xã Nghĩa, toàn bộ quyền lực các cấp thuộc Ðảng đều "Bất Khả Xâm Phạm", đặc biệt Hồ Chí Minh, đã hóa kiếp thành Thần Linh ngay lúc còn sống, nên khi chết phải có lăng tẩm Ba Ðình và tạc tượng đem vào thờ phụng trong các đình chùa cả nước. Sự tâng bốc Hồ của Ðảng CSVN qua núi tài liệu Ðảng vừa công bố, cho thấy Hoàng Ðế Ðỏ Hồ Chí Minh khi băng hà tới nay, đâu có thua gì bạo chúa Tần Thỉ Hoàng của Tàu hơn 2000 năm về trước.

Nhưng Hồ Chí Minh là ai, tới bây giờ đố ai biết hết, ngoại trừ chính bản thân của đương sự. Vì chỉ riêng năm sinh của "bác" theo các tài liệu hiện hành đã có tới năm thời điểm khác nhau như 1890, 1891, 1892, 1894 và 1895. Trong thông hành vào Liên Bang Sô Viết lần đầu, Hồ mang tên Nguyễn tất Thành bí danh Chen Vang, sinh năm 1895. Năm 1920, Hồ qua thông hành mang tên Nguyễn Ái Quốc, sinh năm 1894. Sau khi cướp được chính quyền vào tháng 9-1945, Hồ Chí Minh công bố vào năm 1946, sinh ngày 19-5-1890. Về ngày sinh của Hồ là 19-5 cũng là huyễn hoặc, được ngụy tạo vì nhu cầu chính trị mà thôi. Theo nhiều nguồn tài liệu được phổ biến, thì sở dĩ Hồ bịa ngày sinh của mình là 19-5, để hôm đó bắt nhân dân Hà Nội mở hội hoa đăng, nói là ăn mừng sinh nhật Hồ, mặt thật là để đón tiếp Cao Ủy Pháp là Ðô Ðốc D'Argenlieu khi hắn tới nơi này. Cũng nhờ có cuộc đón tiếp long trọng trên, mà Hồ và thực dân Pháp đã đạt được sự dồng thuận, cho phép quân Pháp từ Sài Gòn đổ bộ lên đất Bắc, tiếp tục gây chến tranh. Có như vậy Hồ mới nhân danh là lãnh tụ Mặt Trận Liên Hiệp Việt Minh, kêu gọi đồng bào cả nước kháng chiến chống Pháp từ cuối năm 1946. Còn Pháp thì vin vào cớ Việt Minh gây chiến, nên phải đánh nhau, chứ không phải vì muốn cướp nước VN như dư luận thế giới đã lên án.

Ngoài ra để danh chánh ngôn thuận như Phạm Văn Ðồng thường nói "Bác là ánh sáng dân tộc". Bắc Bộ Phủ đã sửa soạn cho Hồ rất chu đáo trước khi ra diễn tuồng, Ðảng ra lệnh cho Cao Xuân Huy, Ðào Duy Anh, Trần Văn Giáp... ngay từ năm 1956, phải ngụy tạo cho "bác" một lá số tử vi, thật le lói vì có chân mạng đế vương, cốt cách thần thánh. Có vậy Hồ mới tuyên truyền dụ dỗ được dân chúng Miền Nam theo Ðảng đánh Mỹ-Ngụy cứu nước.

Về tướng diện của Hồ Chí Minh, qua các bức ảnh cũ trên báo chí sách vở lưu hành trong và ngoài nước, trước năm 1955 là niên lịch Hồ sang Nga sửa sắc đẹp. Theo tướng mệnh học, thì mặt Hồ thuộc loại tứ phủ trơ xương, râu lơ thơ như râu tôm kho có thể đếm được. Trong các giác quan, đôi tai không thay đổi từ lúc sinh ra cho tới chết và là biểu hiện đặc tính của con người. Tai Hồ to thuộc loại luân quách phản, đó là tướng của người bất nhân độc ác. Do hình tướng như vậy, nên trước năm 1955, mọi người xếp Hồ vào loại "Mặt Dơi Tai Chuột". Và dù sau đó qua Nga sửa mặt, cấy râu cấy tóc để có dung nhan của cha già dân tộc Nhưng tai Hồ cho tới khi chết vẫn là tai chuột, vì khoa học thẩm mỹ thời đó bất lực.

Lịch sử là sinh mệnh của dân tộc, nhờ nó mà người miền Bắc mới biết được sự tàn khốc của chế độ Cộng Sản, khi Hồ và Ðảng chiếm được nửa nước VN từ bên kia cầu Hiền Lương chạy lên tới biên giới Hoa-Việt qua Hiệp Ðinh Ngưng Bắn Genève năm 1954. Rồi ngày 30-4-1975 quân Bắc Việt vào Sài Gòn và từ ấy đến nay (2007) nhờ lịch sử, người Miền Nam mới biết rõ bộ mặt thật của Hồ và Ðảng là gì ? Cho nên dù người Việt trong nước hôm nay vì bị bóp họng bịt miệng khóa tay nên đã không thể ghi được những câu chuyện thật của cận sử nhưng họ đã dồn hết biển thù quốc hận suốt bao chục năm qua, thành những vết hằn lịch sử vong quốc trên từng khuôn mặt, khóe môi, vừng trán, ánh mắt kể cả nụ cười của người dân đang sống dưới cùm gông nô lệ. Ðó mới chính là sự bảo lưu quá khứ để biến thành cái "Thần" của Việt Sử, một sự trái ngược hoàn toàn với những câu chuyện "Sử Ngụy Tạo" của bồi bút Ðảng dành tâng bốc và phong thánh cho lãnh tụ Hồ Chí Minh.

+ CHUYỆN DÀI CỦA HOÀNG ÐẾ HỒ CHÍ MINH QUA SÁCH BÁO ÐẢNG:

Cõi thế vốn vô thường nên con người từ xưa tới nay không ai có thể thoát được qui luật tử sinh, một điều tất yếu cho dù ai cũng đều khao khát đến sự vĩnh cửu trường tồn, để kéo dài thêm sinh mệnh như trời đất. Ðể đạt được khát vọng trường sinh bất tử, vua chúa Tàu ngày xưa đã không ngớt đi tìm linh đan thần dược, giúp họ trở thành thiên thu bất hoại. Tư Mã Thiên trong Sử Ký, có ghi lại cái chết đột ngột của Tần Thỉ Hoàng khi đi tuần thú tại Sa Khâu. Lúc đó thừa tướng Lý Tư sợ có biến loạn, nên không phát tang và bày kế cho người gánh cá thối đi kềm theo xe chở xác nhà vua, để che mắt văn võ bá quan theo hộ tống. Bức tranh vân cẩu trên đầy mai mỉa và bi thảm, nói về lòng tham vô đá của con người.

1955-1975, Hồ Chí Minh làm hoàng đế nửa nước VN nên đảng mặc sức tuyên truyền, chẳng những bằng hò vè thơ truyện, mà còn đề ra sách lược đánh bóng và đưa lãnh tụ lên tận mây xanh, trong đó có những bịa đặt lịch sử địa chất liên quan tới dân tộc Việt ngay từ thời Tổ Hùng dựng nước Văn Lang. Ðây là mục đích chính của đảng CSVN, vì các vua Hùng được chứng minh là có thật trong lịch sử Việt, chẳng qua để tạo cơ hội cho Hồ có dịp nói "Các vua Hùng đã có công dựng nước, "bác" cháu ta phải cùng nhau giữ nước". Có như vậy, Hồ mới theo chân Lê Nin, Stalin cũng ướp xác, xây lăng như các bậc đế vương thời trước, bắt quần chúng rồng rắn xếp hàng chờ vào thi hành bổn phận "chiêm ngưỡng một xác ướp". Thật sự chuyện Hồ và đảng CS lợi dụng lịch sử vào mục đích chính trị, xét cho cùng cũng đã xa xưa như trái đất nhưng điều đang nói ở đây là những mẩu chuyện có liên quan tới Hồ, đã trở thành kinh nhật tụng cho đảng và cả một hệ thống quan lại cung đình mới, đã dùng truyền thống theo một dụng ý trục lợi, đã khiến cho ai đọc tới cũng thấy xấu lây và đau xót, phần chính không phải vì Miền Nam đã bị Hà Nội cưỡng chiếm vào trưa ngày 30-4-1975, mà còn phải bắt buộc tiếp nhận một hình tượng ác quỹ là Hồ Chí Minh, được đảng nâng vai trở thành "vị cha già dân tộc" và mang tên của một thành phố xinh đẹp quan trọng vào bậc nhất của nước Việt.

+ Những ngày tháng cuối cùng của Hồ Chí Minh:

Báo đảng viết, kể từ tháng 5-1967, sức khỏe của Hồ càng ngày càng sút kém, nên bộ chính trị do Lê Duẩn chủ trì, đã mở cuộc họp bí mật, bàn về việc giữ xác Hồ lâu dài khi hắn về chầu tổ Mác. Có làm vậy, đảng qua Duẩn, Thọ, Ðồng... mới tiếp tục sử dụng được sự mù quáng cuồng tín của cán binh bộ đội, đang sinh bắc tử nam, giúp đảng hoàn thành sứ mệnh nghĩa vụ quốc tế. Dịp này đảng sai Lê Thanh Nghi sang Liên Xô, để điều đình về việc dạy nghề ướp xác chết cho cán bộ y tế VN, còn Nguyễn Lương Bằng được giao nhiệm vụ trực tiếp nuôi bệnh và chăm sóc Hồ vào những ngày cuối đời. Cũng theo lời đảng nói, thì Hồ có để lại di chúc, muốn hỏa táng thi hài sau khi chết nhưng đảng lại muốn ướp xác Hồ để sống mãi với thời gian. Sau thảm bại Tết Mậu Thân (1968) tại Miền Nam, Hồ tuyệt vọng đến nỗi bị nhồi máu cơ tim. Tháng 5-1969 Hồ sửa lại bản di chúc viết từ năm 1965, được coi như một tài liệu tối mật, vì cho tới giờ, ngoài Hồ và đám cận thần quyền thế lúc đó như Duẩn, Tho... chưa ai biết được Hồ muốn gì, thì làm sao khẳng định là "bác" thích hỏa táng (?) để biệt tích, đối với một kẻ đầy tham vọng và hám danh như Nguyễn Tất Thành. Cuối cùng, lúc 9 giờ 47 ngày 2-9-1969, Hồ về nước Thiên Ðường Xã Nghĩa gặp lại tổ Lê Mác.

Ngay từ tháng 5-1969, dù Hồ còn sống nhăn răng nhưng đảng đã chuẩn bị sẵn mọi nghi lễ đặc biệt dành cho đám táng, trong đó có phần âm nhạc suy tôn công đức cứu nước của "bác". Quang Hải, một nghiên cứu sinh âm nhạc, vừa tốt nghiệp ở Liên Xô về, được Nguyễn Xuân Khoát và Ðỗ Nhuận, là lãnh đạo Hội Nhạc Sĩ Miền Bắc lúc đó, giao cho công tác soạn thảo các bài hát cũng như phần hòa âm, để phổ biến trên các đài phát thanh trong và ngoài nước, phần âm nhạc sử dụng nơi quàng xác Hồ và phần truy điệu tại quảng trường Ba Ðình. Vào hạ tuần tháng 8-1969, đảng ra lệnh tập trung tất cả các đơn vị văn công lúc đó như Ban ca nhạc của Ðài phát thanh Hà Nội, các nam nữ nghệ sỹ tại Nhà hát giao hưởng, hợp xướng, nhạc vũ kịch Miền Bắc, nhà hát ca múa, Ðoàn ca múa Tổng cục chính trị... tất cả hơn 300 người. Tất cả làm việc ngày đêm dưới quyền điều khiển của Quang Hải, Trần Quý, Ðổ Dũng, Cao Việt Bách... để sáng tạo những ca khúc theo toa đặt hàng của đảng, với yêu cầu chỉ tiêu phải viết sao cho thật bi thương cùng tận. Có như vậy, đảng qua đám tang của Hồ, mới tiếp tục "chiêu hồn" những cán binh đang "sinh bắc tử nam" ở bên kia vĩ tuyến.

+ Ðem Xác Hồ Chi Minh Lên Biên Giới Hoa Việt (1969-1975):

Tại Miền Nam VN, ngày 4-9-1967, liên danh Thiệu-Kỳ đắc cử tổng thống VNCH, chấm dứt những xáo trộn chính trị liên tục từ 1964-1967. Nhờ vậy mà QLVNCH đã lấy lại tinh thần chiến đấu, chẳng những đã bảo vệ được toàn vẹn lãnh thổ, trước sự gia tăng xâm lược của Cộng Sản Bắc Việt, mà còn đứng vững trước sự tấn công lén của Hà Nội vào dịp hưu chiến Tết Mậu Thân (1968). Trong cuộc tổng công kích này, Bắc Việt tung hơn 184. 000 cán binh, đồng loạt tấn công vào 36 tỉnh, 64 quận, 50 xã và 5 thành phố lớn, trong đó có thủ đô Sài Gòn của VNCH. Nhưng chúng đã chuốc lấy thảm bại nặng nề về nhân mạng, với số thương vong của hai lần tổng công kích, lên tới 111. 036 người.

Tại Bắc Việt, bắt đầu ngày 29-5-1966, tổng thống Johnson ra lệnh oanh tạc trở lại lãnh thổ miền Bắc. Theo thống kê của cả hai phía (Mỹ và Bắc Việt), trong khoảng thời gian từ 1965-1968, Hoa Kỳ đã oanh tạc khắp lãnh thổ Bắc Việt. Ngày 13-2-1967 tổng thống Johnson tuyên bố Mỹ chỉ ngưng oanh tạc khi nào quân Bắc Việt hết xâm nhập vào Nam VN. Từ tháng 2-1967 tới 5-1967 Mỹ leo thang các cuộc oanh tạc tại Hà Nội, Hải Phòng, Sơn Tây, Thái Nguyên. Cuộc oanh tạc Miền Bắc tạm ngưng từ ngày 29-9-1967 khi Bắc Việt chấp nhận hòa đàm với Mỹ tại Ba Lê.

Ðó là lý do khiến Bắc Bộ Phủ phải đem thi hài của Hồ lên quàng tại một địa điểm vô cùng bí mật ở gần biên giới Hoa Việt. Ðọc báo đảng mới phổ biến gần đây, cho biết từ tháng 9-1967 sức khỏe của Hồ dần mòn giảm sút, thậm chí còn bị liệt nửa thân sau khi từ Thái Bình về. Do đó Lê Ðức Thọ, đã chỉ thị cho các bác sĩ VC lúc đó như Nguyễn Gia Quyền, Lê Ngọc Mẫn, Lê Ðiều sang Liên Xô để học phương pháp ướp và bảo trì xác chết. Ba người đáp xe hỏa từ Ga Ðồng Ðăng (Lạng Sơn VN), sang Bắc Kinh và tới Mạc Tư Khoa ngày 14-9-1967. Tuy nhiên Liên Xô chỉ dạy cho các bác sỹ trên phương pháp ướp giữ thi hài người chết từ 15-20 ngày đầu mà thôi. Tất cả còn lại đều do người Nga đảm trách, từ ấy cho tới bây giờ không có gì thay đổi.

Tháng 6-1968, Quân Ủy Trung Ương VC phối hơp các cục Quân Y và Công Binh, lập một phòng ướp xác dành cho Hồ tại Quân Y Viện 108, đồng thời các kỹ sư Liên Xô cũng đang thực hiện đồ án thiết kế Lăng Hồ tại Quảng trường Ba Ðình (Hà Nội). Phòng ướp và giữ xác Hồ mang bí danh 75A, được Trung đoàn 259 Công Binh Bắc Việt thực hiện xong vào cuối năm 1968. Tháng 3-1969, Vương Quốc Mỹ lại được lệnh đảng sang Liên Xô học nghề xây lăng mộ LêNin, đồng thời Công Binh thuộc công trình 75 B cũng gấp rút làm một chiếc hòm kính đặc biệt, dày, trong suốt và không gợn sóng. Câu chuyện khôi hài cười ra nước mắt, là chẳng những phải làm hòm để chứa xác Hồ, mà còn phải bảo toàn "đôi dép râu của bác", vì vậy công binh lại phải làm thêm một hòm kính nhỏ. Chưa hết, đảng còn bắt 150 bộ đội thuộc lữ Ðoàn 144 ngày đêm chỉ lo chuyện tập dượt các nghi thức chào kính, rập khuôn theo lính Nga trong Ðiện Cẩm Linh, để chuẩn bị tang lễ cho Hồ. Riêng đội quân Tô Bia gồm 16 cán binh, hằng ngày tập luyện các động tác khiêng linh cữu, bằng một hòm gỗ Ngọc Am nặng trên 200 ký, thêm hai tạ gạo bên trong. Ngoài ra còn có các bộ phận khác canh giữ khu vực 75 A, toán hộ tống xác Hồ từ Phủ Chủ Tịch tới Quảng trường Ba Ðình... Tóm lại đọc báo VC và xem phim Tàu, nếu đem so sánh thì đám táng của Tần Thỉ Hòang ngày trước còn thua xa tang lễ của Hồ Chí Minh.

Ngày 2-9-1969, Hồ Chí Minh qua đời trong căn phòng nằm sâu dưới lòng đất, trong khi dó đoàn chuyên gia y tế của Liên Xô đã tới Hà Nội vào cuối tháng 8-1969, nên đã kịp thời bảo quản xác Hồ qua giai đoạn đầu, từ tóc râu mặt mũi cho tới hai tai chuột, không cho biến dạng, qua các hóa chất, thuốc sát trùng cực mạnh và tia quang tuyến màu tím. Sau cùng vào lúc 8 giờ tối đêm 5-9-1969, xác Hồ được đưa từ Quân y viện 108 ra Hội trường Ba Ðình với sự hiện diện của Ðồng, Duẩn và văn võ bá quan đất Bắc.

Cuối năm 1969 Nixon sau khi đắc cử tổng thống Mỹ, đã leo thang chiến tranh VN. Lo sợ Hà Nội bi oanh tạc làm hủy hoại xác ướp của Hồ đang quàng tại công trình 75A. Do đó Ðảng quyết định di chuyển quan tài Hồ lên dấu tại một địa điểm vô cùng bí mật có ám số là K9, nằm trên một ngọn đồi thông ở một tỉnh tượng du, gần biên giới Hoa Việt. Dù tới bây giờ, đảng vẫn không cho biết đính xác địa điểm như qua sự mô tả trong các bài viết, có thể đoán, đó là Bắc Kạn, nơi có Hồ Ba Bể nổi tiếng. Ðây cũng chính là nơi nghỉ mát của cán bộ cao cấp đảng, được Tổng Cục Hậu Cần xây cất từ năm 1960. Trong khu vực còn có một ngôi nhà sàn là nơi hội họp của Hồ và Bộ Chính trị, cùng với một hệ thống phòng thủ vô cùng kiên cố. Ngoài ngôi nhà kính trên mặt đất là chỗ quàng xác Hồ, Ðảng còn làm thêm một căn phòng chứa xác khác, cũng đầy đủ tiện nghi dành cho xác ướp, nằm sâu trong lòng núi đá, đề phòng tránh Mỹ có oanh tạc. Một hệ thống đường ray trong đường hầm, để chuyển vận hòm kính đựng xác Hồ lên xuống khi cần. Tất cả các công trình được hoàn thành vào ngày 15-12-1969. Lại để giữ bí mật tuyệt đối, đảng cho đổi K9 thành K84 và bí số này được giữ nguyên cho tới khi xác ươp Hồ được di chuyển về Lăng Ba Ðình Hà Nội.

Giai đọan chót là việc di chuyển xác Hồ từ Hà Nội lên K84 bằng đường bộ. Một chiếc xe vận tải lớn hiệu Zin 137, loại 3 cầu của Nga, được thiết kế như một phòng lạnh trong bệnh viện, dùng để chở chiếc hòm kính chứa xác ướp Hồ. Lữ đoàn 144 Công binh nhận trách nhiệm sửa sang đường xá cầu cống và xóa sạch những dấu vết khi đoàn quân chở xác đã đi qua, trên đoạn đường từ Hà Nội tới K84. Qua sự hướng dẫn của các cố vấn Nga, cơ xưởng Công binh 49 lại phải làm thêm hai chiếc hòm kính nữa, một dành đựng xác Hồ khi di chuyển, một chứa nước hóa chất đặc biệt để rửa thi thể Hồ. Ðể giữ cho thân xác "bác" không bị xóc khi di chuyển, Ðảng lại bắt những người phụ trách lái chiếc Zin 157 phải thực tập ròng rã trong đêm tối, đi về trên đoan đường sắp sử dụng, qua sự quan sát theo dõi của các đơn vị trưởng suốt ba tháng dài cực nhọc nhưng đâu có ai dám hé miệng, vì nếu có lời nào tới tai đảng, không chết thì cũng bị đưa vào Nam, thì còn khổ và nguy hiểm gấp trăm lần. Người đắm mình ngoài sương tuyết mưa lạnh thì đói khổ là cái chắc nhưng những người phục vụ ở hậu phương tại 75A cũng đâu có hơn gì, vì họ cũng phải luyện tập đêm ngày về các động tác khiêng hòm xác ướp lên xuống xe, bể thủy tinh, các bình đựng hóa chất.

Ngày 20-12-1969 Quân uỷ VC họp bàn và quyết định việc di chuyển xác Hồ tới K84 để tránh Mỹ oanh tạc. Sáng ngày 22-12-1969 các chuyên viên Nga và tổ y tế đặc biệt, chở bể thủy tinh đựng hóa chất lên K84 trước, để chuẩn bị. lữ đoàn 144 rải quân, phối họp với cảnh vệ và công an địa phương giữ an ninh lộ trình. Lúc 23 giờ đêm 23-12-1969, toàn bộ Bắc Bộ Phủ và các cán lớn của Mặt trận GPMN lạy chào giã từ xác ướp. Cũng từ đó, đoàn xe chở xác chính thức xuất phát. Trong xe chở linh cửu, ngoài hòm kính đựng xác, còn chất đầy những cây nước đá bao quanh hòm để giữ độ lạnh. Nguyễn Gia Quyền và một chuyên gia Nga là Igo, ngồi canh xác Hồ theo dõi ứng trực. Chỉ huy cuộc hành quân chở xác là Kinh Chi, xe chạy suốt đêm tới sáng sớm ngày 24-12-1969 thì tới địa điểm ấn định. Ngày 23-5-1970 một phái đoàn chuyên gia của Viện thi hài Lênin tới Hà Nội để khám xác của Hồ qua 8 tháng ướp. Sau tháng 5-1975, Miền Nam VN bị sụp đổ cũng là lúc Lăng Hồ ở Ba Ðình được Nga giúp xây dựng hoàn thành, nên đảng lại chuyển "xác ướp bác" về Hà Nội để ngày ngày triển lãm cho thiên hạ khen chê, dị nghị.

+ TỪ CHUYỆN XÂY LĂNG BA ÐÌNH (HÀNỘI) CHO TỚI VIỆC ÐẢNG LẬP CHÙA QUỐC DOANH ÐỂ THỜ CÚNG HỒ CHÍ MINH:

Tục ngữ ta có câu "sống về mồ về mả, không ai sống về cả bát cơm" như một căn bản về ý thức của chủ nghĩa dân tộc Việt. Bởi vậy gần suốt giòng sông lịch sử, người Việt đã đấu tranh không ngừng, đó chẳng phải vì chỉ lo cho chuyện cơm áo cá nhân, mà điều quan trọng hơn hết là bảo vệ mồ mả của tổ tiên ông bà. Nhiều người Việt thường hiểu sai lầm do ảnh hưởng khoa phong thủy đất cát, nên tưởng mồ mả ở đây có ý nghĩa đơn thuần là ba thước đất vùi chôn một xác thân đã lìa đời. Nói một cách tổng quát, tổ tiên ta ngày xưa khi dùng chữ mồ mã, là để nói tới anh linh của tiên tổ nòi giống Việt. Bởi vậy những kẻ tồi bại và đáng bị khinh bỉ nhất ở trên đời, chính là những tên Việt Gian "Rước Voi Về Dầy Mã Tổ", qua lịch sử Việt ta thấy có Trần Thiểm Bình, Lê Chiêu Thống, Hồ Chí Minh và Ðảng CSVN suốt bảy mươi lăm năm qua.

Trong cuộc đấu tranh để sinh tồn, chống lại sự thống trị và đồng hóa của người Tàu phương bắc, qua bao chục thế kỷ đã tạo cho dân tộc Việt một ý chí quật cường bất khuất, gần như một thứ tôn giáo nói về chủ nghĩa anh hùng của nòi giống Lạc Hồng. Cho nên ở đâu, cũng thấy người ta thờ cúng giống nhau: Ðức Phật, Thần Ðất và Các Vị Nam Nữ Anh hùng Dân Tộc. Tất cả đều xứng đáng để hậu thế ngưỡng vọng, tôn sùng và noi gương, vì ai cũng đều có công giúp nước, giúp dân, qua suốt một chuỗi dài lịch sử trên hai mươi thế kỷ chống giặc Tàu xâm lược.

Từ ngày xuất hiện tới nay, Hồ Chí Minh tự coi mình như vua chúa nên đã cuồng điệu hình thành một bước thang giai cấp trong chốn cung đình dưới triều Hồ. Ðể tạo ra một thứ ma lực trấn áp hồn phách dân chúng, hầu duy trì vững chắc chế độ, nên đảng đã đề ra nhiều điều cấm kỵ đối với Hồ cho tới lúc chết, dù chỉ còn là một xác ướp bất động nằm trong hòm kính. Sự kiện đảng ngày nay xuất công khố để cấp cho các địa phương xây dựng nhiều đình chùa thờ Cốt Hồ, đặt ngồi ngang hàng với Phật và Quốc Tổ, chẳng qua cũng chỉ muốn mượn sức mạnh của thần linh, để dọa dẵm, uy hiếp những người dân thường, khiến cho họ phải phục tùng và tiếp tục phục vụ cho đảng. Ðiều này cho thấy sự tham tàn bạo ngược có một không hai của Việt Cộng, khi chúng đã thâu tóm trọn vẹn chủ quyền của đất nước trong tay, nay còn ham hố tìm đủ mọi cách sang đoạt luôn thần quyền trong mọi tín ngưỡng, bằng cách gây xáo trộn khắp các tôn giáo đang hiện hữu trong nước.

Tóm lại theo dõi chuyện dài của Hồ Chí Minh và giới lãnh đạo CSVN, khiến cho ai cũng cảm thấy xiêu hồn bạt vía về những hành động tàn độc, gian hùng, tán tận lương tâm đối với cả dân tộc, người sống lẫn kẻ chết, làm cho ho xiêu mồ lạc nấm, nát cửa tan nhà, hủy hoại cả một nền văn hóa truyền thống và cương thường của nòi giống Lạc Hồng. Lúc sống thì buôn dân bán nước, làm di hại tới nhiều thế hệ của đất nước. Lúc chết lại hóa thân thành Hồ Ly Tinh từ xác ướp trong hòm kính nằm giữa lăng Ba Ðình, trù ếm và phá hỏng cả dòng sinh mệnh dân tộc phải tuột dốc xuống tận địa ngục đói nghèo lạc hậu, mà ai cũng đã hứng nhận suốt mấy chục năm qua.

Từ trước tới nay, Hà Nội có nhiều nghĩa trang lớn và thêm 100 bãi tha ma nhỏ khác, nằm rải rác khắp nơi trong thành phố và các vùng ngoại ô như nghĩa trang cạnh công viên Thủ Lê, hai cái khác ở thị trấn Nghĩa Tân và đường Minh Khai. Năm 1954 Ðảng vào Hà Nội và đã giải tỏa tất cả các nghĩa trang cũ, di chuyển ra tận các vùng ngoại ô xa xôi. Các khu Thủ Lê, Nghĩa Tân và Minh Khai trở thành công viên hay khu phố. Hiện Hà Nội chỉ còn duy nhất nghĩa trang Mai Dịch nằm trong nội thành, dành riêng cho các cán bộ và quan chức cao cấp đảng có quyền thế. Ngoài ra có một nghĩa trang lớn ở phía nam là Vân Ðiển, cùng hai nghĩa trang mới tân lập là Thanh Tước (Mê Linh-Phúc Yên) và Ba Vì (Bất Bạt-Sơn Tây).

Cũng theo Bùi Tín, thì các cán bộ có quyền thế tại Bắc Bộ Phủ, đã tranh dành nhau quyết liệt, để khi về chầu tổ Mác-Lê, được vào nằm ở Mai Dịch. Cũng vì vậy nhiều cán cao cuối đời bị thất sủng mất chức, đã phải chịu chôn chung với dân thường ở Vân Ðiển. Ðó là thân phận của các tướng VC Chu văn Tấn, Ðặng kim Quang, Trần Tử Bình... Kể cả những nhà khoa bảng, nhà văn nổi tiếng của Bắc Hà như Phan Khôi, Ðào Duy Anh, Vũ Ngọc Phan, Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Hồng, Nguyễn Tuân, Lưu Quang Vũ, Bùi Xuân Phái, Nguyễn Gia Trí... cúc cui tận tuỵ cho đảng, cuối cùng cũng bị đi Văn Ðiển.

Theo nhiều người cho biết, thì khu nghĩa trang này, cũng chẳng có gì quý báu và trang trọng, ngoài việc được nằm giữa các cơ quan nhà nước như Cư xá Ðoàn Văn Công, Trường Ðại Học Sư Phạm và Thương Nghiệp. Chính vậy, nên các ngày nghỉ và đêm khuya thanh vắng, trai gái thường rủ nhau từng cặp, ra đó vừa giải quyết bầu tâm sự cũng như những ẩn ức tình cảm. Theo tin mới dây, người Hà Nội vì căm ghét tên Lê Ðức Thọ, cặp bịp bài trùng với Kissinger, trong cái gọi là hiệp định ngưng bắn Ba Lê 1973, nên rủ nhau vào phóng uế trên lăng của y trong Mai Dịch. Vì không làm gì được ai, cuối cùng thân nhân tên đại ác phải tức tốc bốc mộ Thọ, đem về quê tại Nam Ðịnh chôn, để tránh sự xấu hổ và miệng đời bôi bác hằng ngày.

Không biết Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Ðồng... sau khi qua đời, có được Ðảng xây lăng đắp tẩm hay không nhưng trước mắt ngoài lăng Ba Ðình vĩ đại của Hồ Chí Minh, còn có khu lưu niệm to lớn của Tôn Ðức Thắng, được xây dựng trên một khu đất rộng trên 6 ha đất, thuộc Cù lao ông Hổ, tỉnh An Giang. Chi riêng đền thờ "bác Tôn" đã chiếm một một diện tích rộng 110 m2, mái cong, trên nóc có trang trí rồng cọp đang tranh châu, tượng trưng cho các địa danh trong vùng như Rạch Hàm Rồng, cù lao ông Hổ là sinh quán của Tôn Ðức Thắng. Có 19 bậc tam cấp dẫn đền thờ. Tượng đồng của Thắng nói là do hảng Ba Son đúc. Ngoài ra còn có Nhà trưng bày di tích lịch sử, lưu lại những vặt vãnh của một tay tứ chiếng giang hồ, xuất thân là anh chị trong làng dao búa, nên cũng được đảng phong chức "bác" như "bác Hồ" sống mãi trong quần, chúng ta.

+ Lăng Ba Ðình: Ðược cóp theo đúng nguyên bản lăng tổ Lênin ở Mạc Tư Khoa, có chiều cao 21, 6 m gồm 3 lớp, nằm trên một phần đất của chùa Diên Hựu, tức chùa Một Cột là một trong những di tích nổi tiếng nhất của Thăng Long như Hồ Gươm, Tháp Bút, Cột Cờ Thủ Ngữ, Khuê Văn Các, Quốc Tử Giám... vì ngôi chùa đã hơn 1000 năm tuổi. Chùa được xây dựng vào đời vua Lý Thái Tôn (1028-1054) ứng theo điều mộng, nên đã kiến tạo ngôi Phật Tự có hình dạng một đóa hoa sen, đặt trên một cột đá đứng giữa hồ sen Linh Chiểu, để phụng thờ Ðức Quan Thế Âm Bồ Tát, chuyên cứu nhân độ thế, rất phù hợp với triều đại và các vị thánh quân đời Lý. Ngôi chùa được trùng tu cũng như xây cất thêm các cơ sở, đúc chuông, dựng tháp và đặc biệt là nơi tổ chức Ðại Lễ Phật Ðản hằng năm vào ngày mùng 8 tháng 4 âm lịch, suốt triều Lý. Hiện Chùa Một Cột Hà Nội chỉ còn là huyền thoại trong những trang cổ sử, từ khi giặc Pháp lẫn Cộng Sản VN nắm quyền làm chủ đất nước. Cả hai đế quốc đâu có khác gì bọn Hồi giáo cực đoan Taliban khi chiếm được A Phú Hãn vào năm 1998, đã ra lệnh tàn phá hết mọi di tích và tượng Phật bằng đá, trong thung lũng Bamiyan. Pháp thì chiếm đất chùa để lập Dinh Toàn Quyền Ðông Dương, sau năm 1955 cơ sở này biến thành quảng trường Ba Ðình. Từ năm 1967, Nga giúp xây Lăng Hồ, trên nền cũ của lễ đài, mặt trước hướng về phía đông, coi như che khuất hoàn ngôi cổ tự nằm phía sau lăng, vì chiều cao toàn thể ngôi chùa chỉ có 2, 20m...

Theo các nhà phong thủy, thì chính cái nhà mồ vĩ đại của Hồ là đầu giây mối nhợ gây nên sự ô nhiễm sinh khí của vận mệnh dân tộc, vì phát xuất từ một tử thi dù là xác ướp nhưng bị đặt trong hòm kính vô sinh, lâu ngày bí hơi nên đã xì ra ngoài mùi xú uế, khiến cho mặt mũi của "bác" đổi dạng, khiến đảng phải đóng cửa mồ, nhờ chuyên viên Nga sang giúp. Ðó là chưa nói tới chuyện hàng năm phải tiêu phí không biết bao nhiêu công khố, để bảo trì, ngâm tẩm trong bồn hóa chất định kỳ thời gian 6 tháng. Phung phí tiền bạc hằng tỉ tỉ đồng, suốt thời gian từ tháng 9-1969 tới nay (2007) với mục đích chỉ để "bác còn sống mãi" vì lúc nào cũng bị người cả nước nguyền rủa hận thù.

Từ đầu năm 1975, sau khi chiếm được Phước và biết chắc Hoa Kỳ đã bỏ rơi VNCH, nên CS Bắc Việt một mặt dồn hết khả năng quân sự để cưỡng đoạt Miền Nam, mặt khác lo thủ tục đem xác ướp "bác" về lăng Ba Ðình. Tại K84, đảng ra lệnh cho đoàn 69 là lực lượng chính bảo vệ xác Hồ từ cuối tháng 12-69 phải hoàn tất việc tập luyện công tác di chuyển "xác ướp Hồ" về lại Hà Nội. Song song, có 150 cán binh thuộc Lữ đoàn 144 lên tận đồi núi tỉnh Vĩnh Phú, dựng một lăng giả theo đúng nhà mồ Ba Ðình để thực tập các động tác liên quan tới việc phục vụ xác Hồ trong tương lai. Bắt đầu ngày 26-5-1975, Ðoàn 69 được lệnh tu bổ lại đường xá cầu cống từ căn cứ K84 về Hà Nội. Ngày 15-7-1975 Phạm Ngọc Mậu, phùng Thế Tài, Kinh Chi đại diện đảng, lên tận chổ để kiểm tra đôn đốc mọi công tác. Ngày 17-7 một số cán bộ quân y, chuyên chở các dụng cụ ướp xác về thủ đô trước. Sau đó lúc 16 giờ chiều ngày 18-7-1975, xác ướp của Hồ Chí Minh nằm trong hòm kính, được di chuyển về lăng Ba Ðình bằng chiếc xe tải lớn của Nga chế hiệu Pap. Sau rốt Ðảng chính thức khánh thành ngôi nhà mồ vĩ đại, được xây dựng ngay trung tâm thủ đô ngàn năm văn vật của dân tộc Hồng Lạc vào ngày 29-8-1975, vừa là nhà tù cùm xích vĩnh viễn xác thân của đại ma đầu Hồ tặc, cũng là tử huyệt, dùng để trù ếm phá thối tất cả mọi nguồn sinh khí của đất nước, đã khiến cho VN từ ngày ấy tới nay (2007), từ một quốc gia oai hùng văn hiến rạng rở trong cõi Ðông Nam Á Châu, trở thành một xứ sở nghèo hèn mạt rệp, suy đồi phong hóa, giáo dục, đến nổi người dân phải bỏ quê hương đi tứ xứ tha phương cầu thực, ai mà không biết, ai mà không từng là nạn nhân trầm thống hận hờn, ngoại trừ đảng CSVN và các thành phần Việt Gian phù trợ.

Ðây là một sự báo ứng ghê gớm trong thời đại chúng ta, nên Trời Phật mượn tay Ðảng, hành hạ trừng phạt một tên đại gian hùng, buôn dân bán nước cho ngoại bang để thỏa mãn dục vọng cá nhân. Ðó là việc Ðảng đem xác ướp Hồ làm món hàng câu khách du lịch và những kẻ hiếu kỳ, đồng thời dựa vào đó như một tấm bình phong để bảo tồn quyền lực của chủ nghĩa xã hội. Nên kể từ đó Hổ đâu có khác gì một tội nhân thiên cổ, thay vì bị quỷ sứ chốn âm ty cưa chân cắt lưỡi bỏ vào nấu trong chảo dầu sôi như bà Thanh Ðề xưa "buôn Phât hại tăng". Theo truyền thống ngàn đời của dân tộc Việt (trừ duới chế độ CS), thì chết là an giấc nghìn thu, nên mồ mả phải được yên ổn thì con cháu đời sau mới phát tài hạnh phúc. Từ khi VN bị VC đô hộ, cả nước bị động mồ mả, nên luôn luôn gặp tai họa triền miên, thiên tai bão lụt, động đất cúm gà, đó là chưa kể tới những thảm họa chiến tranh giữa VC, Miên Cộng và Trung Cộng từ 1975-1990, làm thiệt thòi cho hàng triệu đồng bào và thanh niên nam nữ cả nước.

Ðó cũng là lý do mà các vua chúa ngày xưa của Tàu lẫn VN, đều chọn những chốn thâm sơn cùng cốc để được yên mồ. Hồ Chí Minh thì khác đời, thi hài chẳng những không được chôn cất hay hỏa táng, trái lại để nằm trong hòm kính trên mặt đất, hằng ngày được máy trục lên đẩy xuống cho người điểm mặt. Ngoài ra theo định kỳ, mỗi năm xác Hồ lại phải chở tới Nga Sô để ngâm trong bồn hóa chất, vào khoảng tháng 11-12. Riêng lăng Ba Ðình, theo nhận xét chung của mọi người, thì đâu có khác gì một sà lim vĩ đại với cửa nhỏ ra vào, có lính gác ngày đêm trong ngoài ngày đêm cẩn mật, đâu có khác gì các lò thiêu xác dân Do Thái thời đệ nhị thế chiến của Ðức quốc xã ?

Cường điệu tới mức trời hờn người kinh, còn thấy chưa đủ yếu tố, để cho "bác" thành "thần tượng", nên VC lại xuất công khố bắt các địa phương xây chùa lập đình tạc tượng thờ" bác" như là Phật Thánh, bên cạnh Vua Hùng và Ðức Phật. Nhưng trò chơi quý tộc này tồn tại được bao lâu nữa, trong khi cả nước đang sôi sục đứng lên để bứt xiềng xích nô lệ và tiêu diệt chế độ phi nhân phi thú của CSVN. Lịch sử vẫn còn lưu lại hằng ngàn trang nói về cái thói đời đua đòi khoe mẽ rởm rác của nhân loại. Nhưng cõi đời là một cuộc biển dâu, nên đâu có ai biết được ngày mai sẽ ra sao, bởi vậy nhìn cái gương của các vị hoàng đế Tàu ngày trước, chỉ vì muốn làm cho mình bất tử, nên đã lãng phí công khố để xây lăng tạc tượng. Ðâu có ai ngờ chính chuyện làm lãng xẹt đó, mà ngày nay số phận của họ bị trôi nổi hà phương, vì trò cướp mộ để đoạt báu vật, qua hình thức hoa mỹ là "khảo cổ". Tính đến nay, khu vực lăng mộ của 72 vị vua các đời Hán, Ðường, Tống kể cả lăng mộ của Tần Thỉ Hoàng, ở Cam Túc, Thiểm Tây, Hà Bắc... đều bị Trung Cộng đào xới tan hoang để tìm kho báu vật dưới lòng đất. Cùng chung số phận, là lăng mộ của các hoàng đế triều Minh, Mãn Thanh ở vùng đông bắc Trung Hoa. Xui xẻo nhất là lăng mộ của 17 vị hoàng đế Tây Tạng, được chôn rải rác từ cực tây Tứ Xuyên tới Lhassa, cũng bị cướp mồ, khi Trung Cộng xâm lăng và đô hộ nước này từ năm 1949. Biết trước số phận của mình sẽ bị phanh thây không sớm thì muộn, nên Thành Cát Tư Hãn(Mông Cổ) đã được chôn cất một nơi vô cùng bí mật, mà tới nay chẳng ai biết kể cả người Nhật hằng bao thế kỷ cố tìm mò ra vết tích nhưng đều bị thất bại. Ðó cũng là lý do Mao Trạch Ðông khi chết, xác cũng được đảng ướp nhưng lại được đem chôn giấu lặng lẽ một nơi nào đó, không hề nghe ai nhắc tới.

Chỉ có Nga Sô và CSVN thì biểu dương lực lượng: Lênin được ướp xác xây lăng và mở cửa triển lãm vào ngày 26-5-1924 nhưng vì bị động mồ nên thần tượng Lênin và đảng CS Liên Xô chỉ tồn từ năm 1917 tới 1990 thì diệt tuyệt. Mới đây tại Ðài Loan, đài tưởng niệm Tổng Thống Tưởng Giới Thạch cũng bị đổi tên, vì bị người Tàu kết tội làm mất lục địa. Những cuộc dâu biển trước mắt diễn ra không ngừng, như vậy "bác sẽ còn sống mãi" trong chiếc hòm kinh bịt bùng tại Ba Ðình được bao lâu, nói chi tới những tượng đài ngoài đường, cốt khỉ trong chùa... những thứ mà bất cứ người VN nào cũng chờ, chính tay mình được hủy hoại như người Ðức phá bức tường ô nhục Bá Linh, người Nga giựt đổ tượng Lênin trên đất nước họ, vào những ngày đảng CS bị tiêu diệt.

Bỗng dưng thấy thấm thía vô cùng khi đọc được những câu vè dân gian do các thế hệ trẻ Hà Nội làm sau ngày 30-4-1975, khi đất nước đã không còn chiến tranh và coi như thống nhất:

"bác Hồ nằm ở trong lăng
nhiều năm bác bỗng nghiến răng giật mình...

chiều chiều lại nhớ chiều chiều
dưới chân tượng bác, đĩ nhiều hơn dân... "

Xóm Cồn
Tháng 6-2007
Mường Giang

Không có nhận xét nào: