Thứ Hai, 18 tháng 6, 2007

Hồi ký của một Việt Cộng


Photo: Trương Như Tảng
Nguồn: A Vietcong Memoir

Minh Võ

“Nhưng các đồng chí đảng viên không thể nào bị thuyết phục bởi những luận cứ tình cảm hay lẽ phải. Họ đã từ bỏ cả lương tâm lẫn cảm quan thực tiễn vì những tín điều tôn giáo chính trị mà họ cho rằng không thể sai lầm. Giữa niềm tin sắt thép và ngạo mạn của họ”. – Trương Như Tảng

Hai từ Việt Cộng (thường được người Mỹ gọi tắt là Vi-Xi (V.C.=Vietnamese communists) có nghĩa là người cộng sản Việt Nam. Trong thực tế chúng chỉ những kẻ theo Cộng sản để chống chính quyền Quốc Gia, dù họ có phải là đảng viên cộng sản hay không. Cũng như trước kia có nhiều người theo Việt Minh kháng chiến chống Pháp; mà Việt Minh thì do đảng cộng sản lãnh đạo; nhưng không phải ai kháng chiến chống Pháp cũng là cộng sản. Hơn nữa, trong sch bo ngoại ngữ, hai tiếng “Việt Cộng” thường được dùng để chỉ lính hay cán bộ thuộc mặt trận “Giải Phóng Miền Nam”, chứ không phải bộ đội hay cán bộ miền Bắc. Nguyên cái phức tạp của nguồn gốc từ ngữ ấy cũng đã cho thấy phần nào khía cạnh phức tạp của cuộc chiến tranh quốc cộng trong ba thập niên.

Chính vì vậy Trương Như Tảng đã đề tựa cuốn hồi ký của ông là Hồi Ký của một Việt Cộng (nguyên văn bằng Php ngữ:"Mémoire d'un Vietcong”, và bản dịch Anh ngữ: “A Vietcong Memoir” ). (1) Mà trong tác phẩm này ông lại cho biết ông không phải là đảng viên cộng sản Việt Nam, và nhiều thành viên trong Mặt trận cũng như trong “chính phủ lâm thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam” cũng không phải là đảng viên cộng sản.

Với cương vị một cựu bộ trưởng tư pháp của “chính phủ lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam”, là chính phủ đã được ngồi ngang hàng với chính phủ Việt Nam Cộng Hòa dưới quyền tổng thống Nguyễn Văn Thiệu tại hòa đàm Paris, Trương Như Tảng đã được người ngoại quốc hết sức chú ý khi ông rời bỏ hàng ngũ cộng sản, để tìm về với thế giới tự do. Nhất là khi ông cho ra cuốn hồi ký viết rất cẩn thận, gồm nhiều chi tiết lý thú lôi cuốn người đọc, như những đoạn tả cảnh sinh hoạt lén lút cực kỳ gian khổ trong rừng ở biên giới Việt Miên, hay cảnh cùng với hàng chục “thuyền nhân” chen chúc trên chiếc tầu nhỏ xíu lênh đênh trên biển cả trong một tuần lễ, với bao trắc trở, hiểm nguy.

Trong cuốn hồi ký này họ Trương cũng nói khá chi tiết về thân thế và công việc làm của ông trong vùng quốc gia cũng như ở ngoài “bưng”, qua đó người đọc có thể biết thêm nhiều thủ đoạn, mưu mô mánh lới của đảng và sự việc những nhà trí thức miền Nam bị cộng sản đánh lừa và phản bội ra sao.

Ông hãnh diện được ở trong một gia đình mà cả 6 anh em đều thành đạt gần đúng như sự mong muốn và xếp đặt của cha ông, ngay từ khi ông mới 13 tuổi: một bác sĩ, một dược sỹ, một giám đốc ngân hàng và 3 kỹ sư. Sau khi tốt nghiệp trung học Chasseloup-Laubat, là nơi ông có những người bạn nổi tiếng như Norodom Sihanouk, Dương Quỳnh Hoa, Phạm Ngọc Thảo v.v… ông được gia đình gửi sang Pháp du học. Ông là người con duy nhất trong gia đình không theo đúng lời dặn của cha là phải học dược, vì đã bỏ khoa này nửa chừng để chuyển sang học chính trị và luật. Ông đã thi đậu cao học chính trị và cử nhân luật năm 1951. Rồi đi theo cộng sản Pháp chống chiến tranh. Cha ông hiểu cộng sản. Gia đình ông đã bị điêu đứng vì cộng sản. Cơ sở làm ăn buôn bán của gia đình ông bị cộng sản phá sạch. Vì vậy khi nghe tin ông theo cộng sản. Cha ông gọi ông về. Ông không về. Cha ông và cha vị hôn thê của ông bày mưu đưa cô này, lúc ấy mới 17 tuổi, sang Pháp làm đám cưới với ông, rồi đưa đi thăm thú nơi nọ nơi kia với mục đích làm ông mê vợ trẻ, quên chính trị. Nhưng ông lại thuyết phục được vợ theo chí hướng của ông mà cả hai coi là “chủ nghĩa yêu nước”. Đến nước này gia đình hai bên chỉ còn cách làm áp lực tài chính. Cắt chuyển ngân. Không tiếp tế gì nữa. Trương Như Tảng bèn để vợ mang bầu về Saigon còn mình ở lại đi rửa chén, gọt khoai kiếm tiền sinh sống ngỏ hầu có thể tiếp tục theo hướng đi đã vặch sẵn. Nhưng rồi sau ông cũng mềm lòng vì thương gia đình, (cha ông không còn đủ tiền cho các anh em ông tiếp tục theo học). Ông về nước vào năm 1954. Ông đã kể rõ trường hợp đó trong hai chương 3 và 4 của cuốn hồi ký.

Khi mới chân ướt chân ráo tới Pháp ông đã được hân hạnh gặp Hồ Chí Minh cũng vừa tới để thương thuyết với Sainteny. (1bis) Ông Hồ đã để cả một buổi chiều tiếp ông và một nữ sinh khác cũng người miền Nam tại phòng làm việc của phái đoàn Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà ở Fontainebleau. Cuộc gặp gỡ này đã để lại cho ông một kỷ niệm khó quên và những tình cảm sâu đậm dành cho ông Hồ, người luôn bắt ông phải gọi là “bác” chứ không được xưng hô là Hồ chủ tịch, hay chủ tịch. Cũng vì vậy cho nên khi về nước vào năm 1954, ông đã từ khước lời mời của những Võ Văn Hải, Ngô Khắc Tỉnh, Trần Hữu Thế là những người quốc gia chống cộng, để rồi chạy theo những người thuộc phe ông Hồ. Ngay từ 1958 ông đã bắt đầu hoạt động bí mật cho cộng sản, tại Saigon. Sau khi tổng thống Ngô Đình Diệm bị lật đổ, ông được cử làm tổng giám đốc Công Ty Đường Việt Nam, một công ty quốc gia lớn với trên 5000 nhân viên. Trong thời gian này theo ông cho biết (2) ông đã hoạt động ngầm qua hai tổ chức thân cộng là “Phong trào Tự Quyết” và “Ủy ban bảo vệ Hoà Bình” do bác sĩ Phạm Văn Huyến, cha của nữ luật sư Ngô Bá Thành, điều khiển. Năm 1967, do sự “phản bội” của Ba Trà, một cán bộ cộng sản khác, hành tung của ông bị bại lộ và ông bị cảnh sát quốc gia bắt giam. Nhờ có Trần Bạch Đằng (3) thu xếp với người Mỹ về trao đổi tù binh, ông được phóng thích cùng với vợ của Trần Bặch Đăng để ra bưng hoạt động hẳn cho cộng sản cho đến năm 1976.

Ngày 8 tháng 6 năm 1969 Trương Như Tảng được chỉ định vào chức vụ bộ trưởng bộ Tư Pháp của “chính phủ lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam”, do Huỳnh Tấn Phát, một đảng viên cộng sản kỳ cựu, làm thủ tướng. Gần 6 năm trời, từ 08/06/1969 đến 30 tháng 4 năm 1975, trong cuốn hồi ký không hề thấy tác giả nói ông làm gì trong cái bộ đó và nó hoạt động ra sao. (4) Đó chính là một điểm khôi hài nhất của cái gọi là chính phủ kia, đồng thời cũng là một lỗ hổng to tướng của cuốn hồi ký.
Sau khi Saigon thất thủ, Trương Như Tảng có dịp liên lạc với gia đình thì được biết cha ông mới qua đời, con gái ông đã được phu nhân tổng thống Thiệu bảo trợ cho đi du học ở bên Mỹ, con trai ông cũng đã sang Pháp, còn mấy người anh em ông thì bị đi “học tập cải tạo”, trong đó có một người cho đến khi ông viết xong cuốn hồi ký (1985) vẫn còn ở trong tù. Ông buồn rầu nhớ lại lời cha ông nói lúc vào thăm ông trong nhà tù của tổng nha cảnh sát quốc gia năm 1967:


Con à, ba không thể hiểu được con. Con đã bỏ tất cả - một gia đình êm ấm, hạnh phúc, giầu có - để đi theo bọn cộng sản. Chúng sẽ không cho lại con được mảy may những gì con đã bỏ đi. Rồi sẽ thấy. Chúng sẽ phản bội con và con sẽ khổ suốt đời. (5)


Ông cho rằng trước kia ông cùng với một số trí thức miền Nam khác vốn tin mình tranh đấu cho một miền Nam có một chế độ riêng, và thi hành chính sách hòa hợp hoà giải với phe quốc gia. Nhưng sau 30 tháng tư ông thấy những lời hứa hẹn, cam kết của những Tôn Đức Thắng, Phạm Văn Đồng và Lê Đức Thọ (trang 283-284) chỉ là giả dối. Chỉ một năm sau chiến thắng đảng đã hoàn tất việc thống nhất đất nước, nghĩa là giải tán chính phủ lâm thời cộng hòa miền Nam của nhóm các ông. Không có hòa hợp hòa giải. Không có chính phủ ba thành phần. Mà chỉ có đảng, một đảng duy nhất, từ danh xưng đảng Lao động đã đổi ngay trở lại thnh “đảng Cộng sản Việt Nam”, như trước khi đảng này giả vờ tự giải tán một cch xảo quyệt ngày 11/11/1945. Hơn 300.000 người (con số tối thiểu của ông đưa ra) bị bắt giữ, không có xét xử và không biết ngày về, trong đó có anh em ruột thịt, bà con thân thích, bạn bè của ông, hay của những người tai to mặt lớn trong Mặt trận, kể cả con rể của luật sư Trịnh Đình Thảo, người bạn vong niên của ông.

Vì đã tỉnh mộng, hết tin tưởng ở đảng nên khi được mời làm thứ trưởng bộ Thực Phẩm và Tiếp Tế, ông đã từ chối khéo. Cảm nhận được sự bất mãn của ông, chính Võ Văn Kiệt, lúc ấy là bí thư thành ủy Saigon, đã tìm cách giải thích và khuyến dụ ông nhận một chức nhỏ hơn tại miền Nam. Nhưng ông đã lợi dụng sự tin cẩn của Kiệt để tính chuyện chuẩn bị vượt biên. Ngày 25 tháng 8 năm 1979 ông xuống thuyền làm “thuyền nhân” và hơn một tuần sau thì được một tầu hàng Singapore chở tới đảo Galang, thuộc Indonesia, bắt đầu cuộc sống tha hương.

Bây giờ ta hãy xem trong cuốn hồi ký 350 trang của ông, Trương Như Tảng đã viết gì về những nhân vật và tổ chức có ảnh hưởng quyết định đến tình hình Việt Nam trong những năm ông bắt đầu nhập cuộc.


Về ông Hồ Chí Minh:

Như đã nói, sinh viên Trương Như Tảng, sau khi được gặp “chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa” tại Pháp, liền bị con người “khéo thu phục nhân tâm” này thu hút. Nhớ lại những giờ được gần ông Hồ trong hoàn cảnh thương thuyết có cơ thất bại ấy, Trương Như Tảng nhận định:


(Lúc ấy) ông (Hồ) biết rõ ông đang đối diện với khả năng kết liễu sinh mạng chính trị của mình, bằng không thì cũng là một cuộc chiến cam go, đẫm máu. Chính trong lúc tâm trí bị những ý nghĩ đó dày vò mà ông đã dành cả một buổi chiều cho hai sinh viên trẻ miền Nam. Thật khó có thể nghĩ về một nhà lãnh đạo thế giới nào, trong hoàn cảnh tương tự, làm được như ông. ( 6)


Đầu năm 1969 phái đoàn Liên Minh Trịnh Đình Thảo ra Bắc. Trương Như Tảng tả cuộc đón tiếp như của một quốc truởng, và được Hồ Chí Minh đích thân tới thăm. Ông viết:


Thảo có phần nào ngạc nhiên thấy mình được trọng đãi như một quốc trưởng…Người ta cũng xếp chương trình để phái đoàn tới yết kiến Hồ Chí Minh (lúc ấy đang bệnh nặng, và thực sự là chỉ mấy tháng sau ông qua đời). Nhưng ông Hồ, bằng một cử chỉ đặc sắc, đã từ chối không cho phái đoàn đến căn nhà gỗ của ông trong khuôn viên dinh chủ tịch. Thay vào đó ông đã gửi cho Thảo một thông điệp nói rằng đại diện của nhân dân miền Nam hào hùng không cần phải tới thăm ông, tốt hơn nên cho ông vinh dự đến thăm phái đoàn. (7)


Rồi ông Hồ đi vào cửa sau không có tiền hô hậu ủng và bắt gặp bà Thảo đang trang điểm. Ông Tảng viết:


Tất cả bọn họ cảm động nói không nên lời, vì cái vinh dự mà ông Hồ dành cho mình qua cử chỉ thân hữu giản dị đó. (tr.141)


Trong chương 16, nói về những lủng củng với cán bộ miền Bắc, Trương Như Tảng đã bênh ông Hồ, ngụ ý là nếu ông Hồ còn sống chắc không có những rắc rối, mâu thuẫn xảy ra. Ông cũng nói là nếu có cơ hội có lẽ ông Hồ đã thân thiện với Tây Phương chứ không đi theo con đường xã hội chủ nghĩa, mặc dù ông ta đã bấu víu lấy sự ủng hộ của cộng sản quốc tế như người sắp chết đuối vớ được cái phao. Lời lẽ của ông Tảng có vẻ cân nhắc, đắn đo:


…Nhưng ngay cả khi đắm mình trong chủ nghĩa Quốc Tế III và chủ nghĩa cách mạng chan hòa ông (Hồ) vẫn giữ mình ở vị thế cởi mở đối với những cơ hội có thể có. Viễn kiến chính trị độc đáo của ông phóng về trước hàng nhiều thập niên đã luôn luôn giữ lại sự bén nhậy đối với những lựa chọn và những đồng minh có thể có. Và những cơ hội đã đến, trong những năm 1944, 1945 khi ông điều khiển cuộc ve vãn với Mỹ ở cấp thấp, trong năm 1946 ở Fontainebleau khi ông nghĩ rằng có thể làm thân với Pháp, và cả năm 1954 khi chiến tranh với Pháp chấm dứt, và người Mỹ đứng trước sự lựa chọn của mình. (tr.190-191)


Trương Như Tảng chê các chính quyền Mỹ (Eisenhower và Kennedy) đánh giá sai ông Hồ, cho rằng ông Hồ là dụng cụ của Trung Quốc dùng để thực hiện chủ nghĩa bá quyền mà không đếm xỉa đến sự toàn vẹn và sức mạnh của lòng yêu nước của nhân dân Việt Nam. (tr.213)

Nhắc lại cuộc cải cách ruộng đất đẫm máu trong những năm 55-56, Trương Như Tảng cũng bênh ông Hồ bằng cách giải thích rằng khi biết là có sai lầm, ông Hồ đã hủy bỏ chiến dịch cải cách và “trừng phạt” những kẻ có trách nhiệm. Ông còn viết: “Đoạn ông Hồ đã làm một cử chỉ bất thường là đích thân xin lỗi nhân dân, công nhận “đã có bất công”. (tr.300). (Trương Như Tảng không biết rằng thực ra ông Hồ đã đẩy Võ Nguyên Giáp, với hào quang chiến thắng Điện Bin còn rực rỡ, ra thay ông ta xin lỗi nhân dân. Chứ ông Hồ đã chẳng bao giờ đích thân xin lỗi đâu.)

Trong hồi ký của ông, Trương Như Tảng đã nhiều lần nhắc đến những danh ngôn của ông Hồ và như vậy đã đề cao ông ta một cách gián tiếp. Chẳng hạn: “Những lời ông Hồ nói với chúng tôi trong năm 1946, tôi luôn luôn canh cánh bên lòng: “Chúng ta phải chống giặc ngoại xâm, chống giặc đói, chống giặc dốt”. Để “thành công, thành công, đại thành công”, chúng ta phải “đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết” (tr.26) hay: “Càng gần chiến thắng, càng nhiều khó khăn” (tr.239) Hoặc: “Hồ Chí Minh đã viết rằng: “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn, núi có thể mòn. Nhưng chân lý đó không bao giờ thay đổi.” (trang 282)

Về việc huấn luyện cán bộ của mặt trận “Dân Tộc Giải Phóng miền Nam”, Trương Như Tảng bảo nhóm các ông không hề dạy thuyết Mác-xít. “trái lại các huấn luyện viên chuyên chú vào việc khai thác những khẩu hiệu yêu nước của Bác Hồ như: “Không có gì quý hơn độc lập tự do”… (tr.264)

Quả thực ông Tảng đã coi Hồ Chí Minh là thần tượng, là “cha già dân tộc”. Nơi trang 68 ông viết: “Hồ Chí Minh là cha thiêng liêng của phong trào ở miền Nam cũng như ở miền Bắc.”


Về mặt trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam:

Trương Như Tảng đã để nguyên chương 7 (từ trang 63 đến trang 80) để nói về mặt trận này. Ông nói, vì thấy ông Diệm “chỉ lo củng cố địa vị mà không làm gì cho dân cho nước” cho nên ông cùng một số người muốn có một “tổ chức chính trị ngoài vòng pháp luật” (8) để thách đố sự độc quyền cai trị của ông Diệm. Ban đầu chỉ có chừng từ 8 đến 10 người họp bàn để dần dần đưa ra một chương trình hoạt động, trong số đó có hai bác sĩ: Dương Quỳnh Hoa, Phùng văn Cung, luật sư Trịnh Đình Thảo ông Nguyễn Hữu Khương và kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát, về sau có thêm các ông Nguyễn Văn Hiếu, Ưng Ngọc Kỷ, Nguyễn Long và Trần Bửu Kiếm. 6 người trong số này thuộc ủy ban vận động gồm Trương Như Tảng, các ông Hiếu, Kiếm, Kỷ, Long và Huỳnh Tấn Phát.

Ông Tảng luôn để ông Huỳnh Tấn Phát xuống dưới, như thể không quan trọng. Nhưng Phát lại là người trụ chốt. Sau này ông ta là thủ tướng của chính phủ. Ông ta cũng là người đã gia nhập đảng cộng sản Đông Dương ngay từ 1940. Các ông Hiếu, Kỷ, Kiếm cũng vào đảng Lao Động (tức đảng cộng sản trá hình) từ năm 1951. Và ông Hiếu đảng viên này đã được phái ra Bắc để nhận sự chỉ dẫn của ông Hồ (!) trước khi hoàn tất cương lĩnh và chương trình hoạt động của mặt trận. (trang 71)

Ông Tảng nói rằng các ông muốn hoạt động trong phạm vi ôn hòa, chứ không chủ trương vũ trang, nếu có đôi lúc cần đến bạo động cũng chỉ nhằm mục tiêu chính trị, hơn là quân sự. Nhưng ông cũng cho biết là kể từ sau đại hội III của đảng Lao Động ở Hà-nội vào tháng 9 năm 1960 (9) với chủ trương dành ưu tiên cho việc giải phóng miền Nam, các ông đã quyết liệt hơn, không còn dè dặt, lúng túng nữa.

Dưới sự điều động của Huỳnh Tấn Phát một toán biệt kích cố bắt cóc luật sư Nguyễn Hữu Thọ đang bị chính quyền quốc gia giam lỏng ở Tuy Hòa. Nhưng họ đã thất bại. Cho nên khi tuyên bố ngày thành lập mặt trận 20 tháng 12 năm 1960 đã không có mặt vị chủ tịch. Trương Như Tảng cũng mãi đến ngày 17 mới rời Saigon lên “mật khu” qua ngả Tây Ninh để dự phiên họp ngày 19. Phiên họp cũng kết thúc vội vã vào sáng sớm ngày 20, rồi lập tức trở lại Saigon, trong lòng mọi người đều phập phòng lo sợ không biết bị phát giác và bị bắt lúc nào.

Từ đầu đến cuối tuy tác giả vẫn nói cứng là chủ trương và công việc của các ông do các ông tự lo, nhưng lại cũng thuật lại mọi việc đều do Huỳnh Tấn Phát điều động, kể cả việc trình danh sách ủy ban lâm thời và việc chỉ định Nguyễn Hữu Thọ, vắng mặt, làm chủ tịch và việc bắt cóc sẩy ông chủ tịch mặt trận này, đáng lý phải có mặt trong buổi họp thành lập mặt trận.
Ông cũng cho biết ông là một trong những người tổ chức ra mặt trận ngay từ 1958. Nhưng cũng lại nói là mãi đến năm1962 ông mới được bầu vào ủy ban trung ương của mặt trận. (trang 56)


Về “chính phủ lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam”:

Trong chương 13 Trương Như Tảng cho biết đại hội của mặt trận nhằm thành lập và giới thiệu chính phủ được tổ chức ở mật khu sát biên giới Việt Miên vào ba ngày 6, 7 và 8 tháng 6 năm 1969. Nó có mục đích dằn mặt Mỹ và VNCH cũng tổ chức gặp nhau (tổng thống Nixon và tổng thống Thiệu) tại Midway cũng vào ngày 8, để Mỹ tuyên bố rút quân, mở đầu cho công cuộc Việt Nam hóa chiến tranh. (trang 147) Huỳnh Tấn Phát đệ trình đại hội danh sách chính phủ vào ngày cuối của đại hội. Y được cử làm thủ tướng với Nguyễn Thị Bình làm ngoại trưởng, Dương Quỳnh Hoa làm bộ trưởng Y Tế và Trương Như Tảng làm bộ trưởng tư pháp.
Trương Như Tảng đã cân nhắc đắn đo khi nhận bộ này. Ông ta có nghĩ tới vụ nhiều người bị quân mặt trận và quân Bắc Việt thảm sát ở Huế hồi Tết Mậu Thân và ông đã có lần chất vấn Huỳnh Tấn Phát về việc này. Ông cũng có ác cảm với “thứ công lý cách mạng”. Nhưng ông hy vọng dần dần ông có thể dùng quyền của mình thay đổi tình hình, hầu đi đến một chính phủ Liên Hiệp ở miền Nam. (trang 155)


Về lập trường của đảng đối với vấn đề hòa hợp hòa giải:

Trong chương 18 Trương Như Tảng đã nói nhiều về lập trường hòa hợp hòa giải của ông và của mặt trận DTGPMN cũng như của chính phủ LTCHMNVN và Liên Minh của Trịnh Đình Thảo.


Tôi và các đồng nghiệp của tôi ước mong dùng những cuộc thảo luận này trước hết là để cam kết với nhau là phải đặt sự hòa họp hòa giải lên trên hết, như một nguyên lý không thể lay chuyển của chính phủ…. (trang 222)


Nhưng khi họp chính phủ ông mới ngã ngữa ra rằng “người ta” không muốn những thành phần tư sản, những kẻ đã tham gia chính quyền VNCH được hưởng chính sách hòa giải. Những người thuộc phe ông đã tranh luận gắt gao, viện dẫn lời ông Hồ về sự thống nhất tổ quốc, về nhu cầu xây dựng đất nước v.v... (trang 224 và 225)


Nhưng các đồng chí đảng viên không thể nào bị thuyết phục bởi những luận cứ tình cảm hay lẽ phải. Họ đã (tôi thấy dường như thế) từ bỏ cả lương tâm lẫn cảm quan thực dụng của họ để đổi lấy những tín điều tôn giáo chính trị mà họ cho rằng không thể sai lầm. Giữa niềm tin sắt thép và ngạo mạn của họ, không thể có chỗ cho thỏa hiệp."


Những cuộc tranh luận đã đưa đến sự rạn nứt cơ bản trong cách mạng (a fondamental split in the revolution, trang 225). Và Lê Duẫn đã phải lên tiếng giảng hòa bằng những lời lẽ mền dẻo hơn:


Chính sách hòa hợp hòa giải dân tộc không trả thù là chiến lược trường kỳ và đó là đường lối chính trị và lập trường của Đảng, và cũng là lập trường của giai cấp công nhân.”


Với lời nói trên của viên bí thư thứ nhất của đảng, nhóm ông Tảng hí hửng tưởng mình đã thắng. (10)

Bốn năm sau Trường Như Tảng và những nhà lãnh đạo mặt trận và chính phủ, ngoài đảng, mới vỡ lẽ ra rằng lời tuyên bố của Lê Duẫn chỉ là đòn phép, tuyệt chiêu của một tay đại bịp. Nhưng đã muộn.

(Còn tiếp)


© DCVOnline



--------------------------------------------------------------------------------

1) Trích dẫn trong soạn phẩm này theo bản Anh ngữ “A Vietcong Memoir”, viết chung với David Chanoff và Đoàn Văn Toại, Harcourt Brace Jovanovich, San Diego, New York and London, 1985. (1bis) Cuộc thương thuyết này đã đưa đến hiệp ước sơ bộ 6-3-1946, được coi như một thất bại của Hồ Chí Minh.
(2) Sách Đã Dẫn trang 93-95.
(3) Cán bộ tuyên vận cao cấp của cộng sản đặc trách Saigon Chợ Lớn lúc ấy. Ông là một cán bộ cộng sản thuộc loại trí thức miền Nam, bị “thất sủng” vì câu nói dại dột tại một buổi họp: “mọi phong trào ở thành phố đều thành công một cách lạ lùng. Chỉ có phong trào công nhân là xệ quá.” (SĐD trang 236) Trần Bạch Đằng, bí danh Tư Méo, bút hiệu Phương Triều, sau 75 còn có bút hiệu “Trường Thiên Lý” với tiểu thuyết chính trị: “Ván Bài lật ngửa” đề cao Phạm Ngọc Thảo trong nhân vật chính (Luân) đầy mưu lược trước mưu trí của Ngô Đình Nhu. Các đạo diễn cộng sản đã đưa tiểu thuyết này lên màn ảnh.
(4) Trừ khi sắp sửa giải tán, sau 30 tháng tư 1975, ông có vận động với Phạm Văn Đồng để việc bắt bớ, giam giữ tại miền Nam, có quy củ, theo nguyên tác pháp lý và đề nghị đưa ra một số luật lệ. Nhưng chính việc ông phải nhờ thủ tướng chính phủ miền Bắc can thiệp, làm áp lực với thủ tướng của ông (Huỳnh Tấn Phát), lại cũng là một chuyện khôi hài không tưởng tượng nổi của cái chính phủ của ông. Và cuối cùng, những luật lệ hay quy định của bộ tư pháp của ông hay của chính phủ trung ương, miền Bắc của Phạm Văn Đồng cũng chẳng có hiệu lực gì. Vì chính Trương Như Tảng phải công nhận: cán bộ chỉ làm theo lệnh đảng, bất chấp pháp chế của cái gọi là chính phủ kia. (SĐD. Cuối trang 281, đầu trang 282 ông viết: “Về phần bộ luật tội nghiệp của chúng tôi cũng chẳng đi đến đâu. Đã rõ ràng luật pháp được áp dụng cho cả miền Nam Việt Nam, nhưng lại bị đơn vị hành chánh ngoài Saigon coi như không có. Trong toàn quốc, việc cai trị nằm trong tay các cán bộ đảng đã quen nhận lệnh từ Bộ Chính Trị.”
(5) SĐD trang 260
(6) SĐD trang 17
(7) SĐD trang 140
(8) SĐD trang 66, nguyên văn: “an extralegal political organization” (8) SĐD trang 73.
(10) SĐD tr. 225-226. Nguyên văn: “Reading Lê Duẫn's message, we knew we had won the essential victory

Khi mà Công An cầm bút viết thay cho Hội Nhà Văn Việt Nam…


Bản Tin Liên Hội Nhân Quyền Việt Nam ở Thụy Sĩ
VĂN BÚT QUỐC TẾ CHỐNG PHÁ VIỆT NAM ?
Khi mà Công An cầm bút viết thay cho Hội Nhà Văn Việt Nam…

Trong số ra ngày 13 tháng 6 năm 2007, báo Công An Nhân Dân tại Hà Nội, một lần nữa, cho đăng một bài viết đầy ác ý xuyên tạc và vu khống của cán bộ Thy Nga với tựa đề : NGUYÊN HOÀNG BẢO VIỆT NÚP BÓNG TỔ CHỨC ''VĂN BÚT QUỐC TẾ'' CHỐNG PHÁ VIỆT NAM.

Chúng tôi có chuyển bài báo đó cho nhà thơ Nguyên Hoàng Bảo Việt. Thi hữu cho biết ông sẽ nhờ các nhà văn Việt Nam lưu vong và các văn thi hữu quốc tế chuyển dịch bức thư này ra các ba tiếng chính thức của Văn Bút Quốc Tế để gởi cho các văn thi hữu Chủ tịch, Tổng Thư ký, ban Chấ p hành Văn Bút Quốc Tế, Ủy Ban Nhà Văn Bênh Vực Nhà Văn Bị cầm tù và tất cả các Trung tâm thành viên Hiệp Hội Thế Giới các Nhà Văn. Trước những luận điệu không tôn trọng sự thật và thiếu tinh thần độc lập nghề nghiệp của báo Công An Nhân Dân, chúng tôi được nhà thơ Nguyên Hoàng Bảo Việt đồng ý cho đăng bài thơ 'QUÊ HƯƠNG' ông viết gần nửa thế kỷ trước tại Miền Nam tự do để tuyên dương một đất nước Việt Nam khác hẳn cái gọi là 'Việt Nam' (CHXHCNVN) của báo Công An Nhân Dân. Đăng lại bài thơ 'Quê Hương' để thân tặng tất cả những tù nhân chính trị, ngôn luận và lương tâm, những nhà dân chủ đối kháng, những người cầm bút dũng cảm biết tiếng hay vô danh, đang bị trấn áp tàn bạo trên chính quê hương Việt Nam thương yêu của họ. Ai trấn áp họ? Chỉ có một câu trả lời: guồng máy thống trị, công cụ của một nhóm ủy viên bảo thủ thuộc bộ Chính trị và Trung ương 'núp bóng' đảng CSVN đã và đang 'chống phá' 'Việt Nam'. Được biết bài thơ 'Quê Hương' cùng với bản dịch Pháp ngữ của bà Hoàng Nguyên đã được đọc tại một buổi sinh hoạt Văn học Nghệ thuật do Trung tâm Văn Bút Thụy Sĩ Pháp Thoại và Hội Nhà Văn Liên Hiệp Quốc ở Genève tổ chức.

Tưởng cũng cần nhắc lại, thành lập từ năm 1921, Văn Bút Quốc Tế là tổ chức uy tín và lâu đời nhứt qui tụ hàng vạn nhà văn thế giới không phân biệt chính kiến, màu da, chủ ng tộc. Luôn luôn hoạt động quang minh chính đại, được hướng dẫn bởi tinh thần Hiến Chương Văn Bút Quốc Tế dù phải từng trải qua bao nhiêu trận cuồng phong lịch sử. Tại Đại Hội Thế Giới Mạc Tư Khoa năm 2000, Văn Bút Quốc Tế đã lên tiếng trả lời sự ‘than phiền’ của chế độ Bắc Kinh như sau: ''Khi đồng thanh biểu quyết các Quyết Nghị về Trung Hoa, Văn Bút Quốc Tế chúng tôi không có ý biểu lộ sự thù nghịch gì đối với đất nước các ông. Mà trái lại, vì chúng tôi yêu mến dân tộc, văn chương và văn hóa Trung Hoa cho nên chúng tôi muốn chế độ hiện nay phải sửa đổi để xứng đáng hội nhập vào Cộng đồng những quốc gia dân chủ, tôn trọng Nhân Quyền". Đó cũng sẽ là câu trả lời của Văn Bút Quốc Tế cho các chế độ Hà Nội, La Havane, Bình Nhưỡng cũng như bất cứ chế độ chà đạp Nhân Quyền nào khác trên trái đất này.

Trở lại Đại Hội Thế Giới Văn Bút Quốc Tế Bá Linh (Berlin) Đức quốc, nơi mà Hội Đồng Đại Biểu đã thông qua mười Quyết Nghị, trong số đó có Quyết Nghị về Việt Nam. Bạn đọc ở hải ngoại và nhứt là bạn đọc ở trong nước rất cần có thêm nguồn tin trung thực về những mục tiêu và sứ mạng của Văn Bút Quốc Tế. Đại Hội Thế Giới Văn Bút Quốc Tế, diễn ra hàng năm, là nơi quy tụ đại biểu thay mặt cho khoảng 18 ngàn nhà văn nhà thơ thuộc 141 Trung tâm trên 101 quốc gia và lãnh thổ. Chủ đề ''Viết trong một Thế giới không có Hòa bình'' của Đại Hội Bá Linh là sự tái xác nhận vai trò trọng yếu của văn chương, đồng thời là một tín hiệu toàn cầu chống lại sự áp chế các nhà văn tại bất cứ đâu. Lý tưởng theo đuổi của Văn Bút Quốc Tế bao hàm sự yêu mến văn chương và quý trọng tác giả, vượt ra ngoài mọi biên cương kềm tỏa. Và dấn thân, cam kết tranh đấu để bảo vệ quyền Tự do phát biểu, diễn đạt tư tưởng, sáng tạo và thông tin. Cùng xây dựng cuộc đối thoại giữa các nền văn hóa khác biệt, nhứt là ở những vùng có tranh chấp và bạo động. Trong một cuộc họp báo, ông Jiri Grusa , Chủ tịch Văn Bút Quốc Tế, lưu ý công luận về mối hiểm nguy đang đe dọa giới cầm bút. Ông nhắc đến hàng trăm văn thi hữu bị án tù nặng nề và hơn ba mươi người kể cả nhà báo bị sát hại trong năm qua. Riêng tại vùng Á Châu-Thái Bình Dương, bản phúc trình của Ủy Ban Văn Bút Quốc Tế Bênh Vực Nhà Văn bị cầm tù nêu đích danh hai nhà nước Trung Hoa và Việt Nam độc tài cộng sản, và nhà nước Miến Điện độc tài quân phiệt. Ba chế độ tội phạm này là mối quan ngại thường trực và hàng đầu của Văn Bút Quốc Tế. Không quên Cuba, một nước đồng chí anh em kết nghĩa của CHXHCNVN, luôn luôn bị tố cáo và lên án như Bắc Kinh và Hà Nội, tại bất kỳ Đại Hội Thế Giới Văn Bút Quốc Tế nào. Không có bàn tay 'phù thủy' nào có thể ‘bịt mắt’ được Văn Bút Quốc Tế. Huống chi khi mà các nhà văn thế giới biết được rằng Công An Hà Nội đã cầm bút viết thay cho Hội Nhà Văn Việt Nam để đả kích Văn Bút Quốc Tế chỉ vì Văn Bút Quốc Tế bênh vực các nhà cầm bút bị đàn áp và bị cầm tù tại Việt Nam.

Chúng tôi xin gởi lời thân chào và cám ơn những người bạn trẻ vô danh từ cố đô Thăng Long đã gởi bài báo 'bạn dân' cho chúng tôi. Và chúng tôi cũng cám ơn nhà thơ Nguyên Hoàng Bảo Việt đã cho phép lựa đăng dưới đây vài tấm hình chụp về các Đại Hội Thế Giới Văn Bút Quốc Tế mà ông đã tham dự với tư cách đại biểu Trung tâm Văn Bút Thụy Sĩ Pháp Thoại, tại Vienne nước Áo, Prague nước Tiệp, Varsovie nước Ba Lan, Luân Đốn nước Anh, Mạc Tư Khoa nước Nga, Ohrid nước Macédoine, Bled nước Slovénie, Berlin nước Đức và Hội Nghị Quốc Tế Ủy Ban Bênh Vực Nhà Văn bị cầm tù tại Kathmandou nước Népal.

Genève ngày 16 tháng 6 năm 2007.

(* Trích tập thơ Những Dòng Nước Trong, nhà xuất bản Văn Nghệ do nhà văn Đoàn Tường Lý Hoàng Phong, Anh nhà thơ Quách Thoại chủ trương năm 1962)


Quê Hương

Tôi đang đi qua những nhịp cầu tre không có gì phá gãy được để trở lại quê hương.
Xứ sở của cảm thông, của yêu thương, với những dòng tư tưởng khoan dung tuần tự lớn lên
Xứ sở hướng về Nam như con chim Việt tìm đúng cành mới đậu
Những đứa con yêu dấu, trai lẫn gái, đều ôm ấp giấc mộng mạo hiểm viễn du
Dưới bước chân bùn Hậu giang, trên cánh tay Việt Bắc, trong lồng ngực Cao nguyên, với đôi vai gầy miền Trung trĩu gánh nặng Trường sơn.
Xứ sở một phần dĩ vãng đau thương, suốt bốn ngàn năm thao thức
Triều sóng lúa vàng óng ánh không ngớt đổ từ rừng núi miền Tây ra tận cửa biển Đông
Xứ sở quằn quại với vết thương chia cắt, còn đủ sức để nhấc bổng thực tại, còn đủ hơi thở hy vọng vươn tới một tương lai tươi sáng
Xứ sở không chỉ giàu những hầm mỏ ruộng vườn, xứ sở còn giàu những tâm hồn hai mươi ba mươi tuổi
Xứ sở quen thuộc với mọi hình thức chiến tranh, dù không muốn, giữa người, giữa người và thiên nhiên
Lịch sử đất nước dạn dày sương gió
Đã bao nhiêu lần vấp ngã rồi chỗi dậy, luôn luôn dũng cảm hồi sinh.
Xứ sở của phong dao tình ái, lục bát với Nguyễn Du, dường như mỗi trái tim là một nguồn thơ
Xứ sở nhờ thi ca làm trẻ làm giàu thêm ngôn ngữ
Dân tộc nói tiếng nói lúc chìm lúc nổi theo thủy triều lịch sử, vẫn giữ nguyên vẹn màu sắc vừa đơn sơ vừa hoa mỹ của âm thanh
Xứ sở không che giấu bất bình lúc nhân nghĩa bị chà đạp, tự do bị cầm giữ
Xứ sở mười hai tháng mưa nắng thay nhau ngự trị, vẫn không thiếu bốn mùa sen cúc mai lan, từ thượng du tuyết giá tới bình nguyên hạn hán.
Xứ sở còn rải rác khuyết điểm nhưng bao gi ờ tính tốt cũng nhiều hơn
Xứ sở tấm lòng bạn bè cởi mở như vô tận không gian, nên chi những bầy sao lạ cũng tìm đến xin nương tựa
Xứ sở các triều đại thịnh suy thay đổi lúc đức cần lao nhẫn nại, niềm tự tin tiếp tục lưu truyền
Xứ sở những người áo vải gây dựng nghiệp lớn, những Nguyễn Huệ, những vòm trời Tây Sơn
Xứ sở từ vực sâu bóng tối thường nẩy nở thiên tài, từ ao lầy những đóa sen nhũn nhặn mà hương thơm ngát
Xứ sở chẳng bao giờ trái nghĩa quên ơn những liệt sĩ vô danh bỏ mình vì Tổ Quốc, người sống sót nối tiếp truyền thống trung kiên bất khuất.
Xứ sở với vựa thóc kho vàng chứa đầy chuyện cổ tích thần tiên và trẻ con cười nói hồn nhiên cả trong giấc ngủ say
Xứ sở với những ánh trăng thu làm mờ nhạt nỗi lo âu u ám trên vầng trán những cặp tình nhân bị thói đời hắt hủi
Xứ sở ngay từ buổi sơ sinh đã là vòm lá trú ẩn cho vô số đàn chim chạy trốn dông bão ngoài khơi
Với những ai mất quê hương, đưa bàn tay anh em ra mời đón
Xứ sở những nụ cười đổ mưa, những giọng nói nghẹn ngào, hoặc để phơi bày niềm vui chung, hoặc để san sẻ tâm tang đau đớn.
Xứ sở thường nhìn với cặp mắt âu yếm khiến cho bao nhiêu nỗi nhọc nhằn đều tan biến dễ dàng
Xứ sở những Mẹ hiền và Cha nghiêm khắc vì quá đổi thương con
Xứ sở những em nhỏ tinh khôn, những cụ già trầm tĩnh
Xứ sở của nhiều giống cây oằn sai trái chín thơm phức, của những chuổi hôn ngọt ngào hiếm có, bởi người ta thường chỉ hôn khi thật sự yêu thương nhau
Xứ sở của những mối tình chung thủy, như tim với máu, thân thể với tâm hồn, như tôi với người yêu tôi sẽ xin cưới làm vợ
Xứ sở những Người sinh đẻ, nuôi dưỡng và dạy dỗ tôi, những đứa em ngoan và ham học.
Xứ sở được bồi đắp bằng phù sa của những dòng sông, dù trong dù đục, khi xuôi thuyền, người ta sẽ tìm thấy những khuôn mặt quá khứ, hoặc vui hoặc buồn, của một dân tộc không ngớt trẻ trung và già giặn
Tổ quốc những người dù lưu lạc nơi đâu cũng hướng mắt về, mỗi lần nghe bước chân thời gian đưa mùa Xuân đi qua trái đất
Xứ sở mà chân trời là biên giới mới, nơi chia tay giữa con người và bóng tối, giữa yêu thương và tội ác.
Đất nước thường bị thua thiệt, vì người dân rất giàu tình cảm và tin cậy ở lòng tốt bẩm sinh của đồng loại, ở tiếng nói cuối cùng của công lý và nhân đạo
Xứ sở trước mắt thế giới hôm nay như một người bạ n thuầ n hậu, trước tương lai nhân loại như như một tấm gương trung thực và quả cảm
Xứ sở được gọi bằng hai tiếng Việt Nam, một cái tên đối với tôi như có quyền lực nhiệm mầu, luôn luôn gợi cho tôi những ảnh hình quyến rũ
Xứ sở dù sớm dù muộn sẽ trở lại hồng hào da thịt, với những khát vọng tha thiết hòa vào dòng máu khôn ngoan nòi giống Rồng Tiên đang giữ gìn trong huyết quản
Số phận tôi đã gắn liền với tình yêu quê hương không có gì tách rời được
Xứ sở đẹp như một bài thơ viết cho trẻ con, với vần điệu phóng túng, với ngôn ngữ tự nhiên
Xứ sở tượng trưng nguồn hy vọng chẳng bao giờ tắt…

Nguyên Hoàng Bảo Việt (1961)*

Tác giả các tập thơ 'Hy Vọng' (1961)), 'Những Dòng Nước Trong' (1962) và 'Quê Hương như Một Thánh Tích' (1969) xuất bản trước 30 tháng 4 năm 1975.

Đôi dòng tâm sự cùng tác giả Trung Chính

Đôi dòng tâm sự cùng tác giả Trung Chính
sau khi đọc bài báo chỉ trích RFA đăng trên báo Công An ngày 05.06.2007

Thưa Ông Trung Chính !

Sau khi đọc xong bài báo của ông, tôi cảm thấy thật buồn cho ông vì cho tới giờ phút này một trí thức như ông ( tôi xin phép được tạm gọi như vậy) lại có thể tin vào những thông tin không đúng sự thật do chính quyền Vịêt Nam cung cấp nhằm đánh lừa dư luận và xoa dịu sự phẫn uất của người dân ngày một dâng cao mà thôi. Sở dĩ tôi dám nói như vậy là vì bản thân tôi và đang gánh chịu nổi oan ức và bất công của chính xã hội này kể từ sau “ngày 30.04.1975 lịch sử ”cho đến nay.

Trước tiên chúng ta cùng thử bàn về tình hình tự do tín ngưỡng, tự do tâm linh và tôn giáo ra sao đang có tại trong nước ông nhé.

Ở đây tôi chỉ nói về sự việc có thật đã xảy ra cho gia đình mình mà thôi, còn những sự việc xảy ra ở các tỉnh Thừa Thiên Huế, Bình Định vừa qua mà bài báo do ông là tác giả đã đề cập tới… tôi chỉ biết qua thông tin báo đài và không thể kiểm chứng mức độ xác thực là bao nhiêu phần trăm nên tôi không bàn đến. Bây giờ tôi xin kể tường tận để ông hiểu rõ hơn về hoàn cảnh của gia đình tôi thưa ông.

Ngày 26.12.2006 tôi làm đơn Tố cáo việc bà Phạm Thị Nhân người chiếm đất của gia tộc tôi đã mấy chục năm nay, nay lại chiếm thêm đất Miếu và bứng gốc cây Bồ Đề cả 100 năm tuổi để xây nhà nhưng UBND phường 1 quận Gò Vấp không giải quyết.

Không nản lòng, tôi liên tục khiếu nại đến các cấp chính quyền, và ngày 19.01.2007 chính quyền phường 1 mở cuộc họp tại Miếu và trả lời với chị em tôi rằng : “Vợ chồng bà Nhân và ông Xuân được phép sửa nhà” (sự thật là xây mới lại hoàn toàn và cho người khác thuê để tăng thu nhập chứ không sử dụng hết) vì họ có chủ quyền. Khi tôi đòi xem thì họ không đưa ra vì sự thật làm gì có chủ quyền để mà đưa, mà nếu có chủ quyền thì cũng là chủ quyền “Ma”, chủ quyền tầm bậy do chạy chọt đút lót mà có, vì gia đình tôi đã khiếu nại 32 năm qua, trong khi bằng khoán điền thổ gia đình tôi vẫn còn giữ, vậy thì ai dám cấp chủ quyền cho họ?

Sự việc không dừng lại ở đó thưa ông, để lấp liếm việc làm sai trái của mình (cấp phép xây nhà + hỗ trợ cho bà Nhân 7.000.000 VNĐ) chính quyền phường 1 lập biên bản trả miếu lại cho gia tộc tôi, nhưng khi tôi xin phép sửa chữa thì họ không cho, bảo tôi phải chờ Ủy Ban Tôn giáo quyết định. Tôi kiên nhẫn chờ đợi cho đến ngày 09.06.2007 chị em tôi lại đến phường và gặp ông Lâm Hoài Trung cán bộ nhà đất phường, Ông Trung tiếp tôi và trả lời miệng là phải chờ chính quyền mở cuộc họp cùng tổ dân phố để đề cử người có uy tín đứng ra sửa Miếu, vì không xác định được ai là chủ sở hữu nên Nhà Nước sẽ quản lý. Quá bức xúc vì luận điệu tráo trở của người đại diện cho Chính quyền Cộng Sản Việt Nam ở địa phương, nên tôi trả lời rằng: “Miếu này được thể hiện rõ ràng trong bằng khoán của gia tộc tôi, những người dân chiếm đất của gia tộc tôi cũng xác nhận và ký tên vào văn bản trước mặt chính quyền phường 1 vào ngày 19.05.2002 (văn bản đó phường vẫn còn lưu lại 1 bản) ”.

Gia tộc tôi lập Miếu để thờ cúng Ông bà tổ tiên, chứ không phải dân trong vùng quyên góp để xây dựng Miếu mà các ông đòi xung vào tài sản cho nhà nước Cộng Sản Việt Nam !!! Đây là việc làm bất chấp luân thường, đạo lý. Tài sản của gia đình chúng tôi đã bị chiếm đoạt hết rồi, bây giờ các ông lại muốn quản lý thêm phần tâm linh của chúng tôi nữa sao ??? Ông Trung không trả lời được, nên chỉ tôi qua gặp ông Trương Hồng Phong cán bộ tư pháp phường. Sau một hồi quanh co ông Phong nhìn nhận Miếu của gia tộc tôi, nhưng vì đã có quyết định của cấp trên nên không làm gì được. Ông yêu cầu chị em tôi lên chính quyền quận Gò Vấp khiếu nại tiếp. Đầu giờ chiều, chị em tôi lại đưa nhau lên quận và gặp được ông Tuấn là cán bộ tiếp công dân. Ông Tuấn bảo không biết gì về việc này và cũng không nhận được văn bản hoặc kiến nghị gì của phường 1 nên không thể giúp gì được, chúng tôi nên về và chờ khi nào họp hội đồng nhân dân thì lên khiếu nại tiếp. Qua đó tôi khẳng định rằng họ là địa phương mà không hoàn thành phận sự với dân, lại đùn đẩy cho nhau để lẫn tránh trách nhiệm, thì những người dân oan như chúng tôi phải trông cậy vào ai đây ? Chờ mà không biết mình phải chờ đến bao giờ mới được giải quyết sửa chữa Miếu để việc thờ cúng được tôn nghiêm. Vậy đến đây tôi xin hỏi ông Trung Chính rằng : nhà nước CSVN vẫn thường nói rằng ở Việt Nam quyền tự do tín ngưỡng, thờ phượng, tôn trọng các cơ sở tôn giáo, đền đài, miếu mạo của nhân dân được tôn trọng…Thế tại sao việc trả miếu thờ của gia tộc họ Lư của gia đình chúng tôi không được chính quyền tôn trọng ? Mà việc này hết sức nhỏ bé chứ đâu có lớn gì cho cam, việc nhỏ còn trí trá, bao biện quanh co không làm nổi thì việc lớn thì sao có thế làm được? Thưa ông!

Bây giờ tôi xin được vào chủ đề chính về việc những người dân oan đi khiếu kiện thưa ông Trung Chính nhé.

Bài viết của ông được đăng trên báo công an thành phố Hồ Chí Minh ngày 05/06/2007 có đoạn nói rằng: “đài phát thanh Á Châu Tự Do - RFA thường móc nối liên lạc với những phần tử bất mãn, những người đi khiếu nại, khiếu kiện để kích động họ chống lại chính phủ Việt Nam với những luận điệu đòi 'dân chủ nhân quyền' đây là hành động vi phạm Pháp luật…”

Thưa tác giả Trung Chính, đọc xong đoạn văn này tôi có thể đoán được ông thuộc thành phần nào, tầng lớp nào trong xã hội nên mới ra sức bênh vực cho chính quyền Cộng Sản Việt Nam đương thời đến vậy. Xin ông hãy đặt mình vào địa vị những người dân oan như chúng tôi để hiểu và thông cảm với nổi đau bị chiếm đoạt tài sản, danh dự, bị vu khống là tình báo gián điệp CIA của Mỹ.

Điển hình là gia đình tôi, ông nội tôi đã cống hiến cả cuộc đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, để đổi lại chúng tôi được gì thưa ông ? Xin thưa với ông rằng trở về quê cha đất tổ ông nội tôi đã tủi nhục mà chết, chiến tranh không giết chết được ông, bom đạn đã không giết được ông. Nhưng ông nội tôi đã mất trong vì sự đối xử tàn tệ, ghẻ lạnh của những người mà ông từng gọi là “đồng chí” đấy ông Trung Chính ạ! Cũng trong bài báo ấy viết lại có đoạn nói rằng : “Đài RFA lựa chọn những sự kiện có thật, những sự kiện tiêu cực mà ngay chính các nước đó cũng đang đấu tranh để loại trừ….”

Xin thưa cùng ông Trung Chính rằng tại Việt Nam hiện giờ họ có đấu tranh đấy, có tích cực đấy, nhưng là tích cực vơ vét cho đầy túi tham khi đương chức đương quyền, chắc ông vẫn chưa quên vụ việc Ông Trần Kim Long cựu chủ tịch UBND quận Gò Vấp đã bị bắt cùng êkíp tham nhũng và đã bị bỏ tù, nhưng vây cánh, đồng chí của ông ta thì còn nhiều lắm ông ạ!

Tôi xin đưa bằng chứng ra để ông tham khảo nhé.

Ngày 27.03.2007 chị em tôi đến văn phòng tiếp dân của Trung ương Đảng CSVN và Nhà Nước đặt ở số 210 đường Võ Thị Sáu phường 7, quận 3 thành phố Sài gòn để nộp đơn khiếu nại quyểt định sai trái của ông Vũ Hùng Việt là Phó Chủ Tịch UBND Thành phố HCM, và công văn số 8573 vi phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân do Ông Nguyễn Hữu Tín phó chủ tịch UBND TP ký. Nhưng Ông Nguyễn Hải Ninh là cán bộ tiếp dân ở trụ sở này từ chối không nhận đơn, khi ra về chúng tôi còn bị công an phường 7 quận 3 bắt giữ đưa về đồn giam cầm hơn 10 giờ đồng hồ, và ra quyết định xử phạt hành chính về tội tụ tập đông người không được sự cho phép của chính quyền, cản trở người thi hành công vụ (trích nguyên văn biên bản phạt).

Ngày 19.05.2007 chúng tôi lại gửi đơn khiếu nại đến văn phòng tiếp dân của Trung Ương Đảng CSVN (gửi bảo đảm qua Bưu Điện), thì đến ngày 31.05.2007 ông Võ Văn Đồng quyền Vụ trưởng Vụ 5 lại ra công văn số 67 trả lời rằng : “nội dung đơn không rõ ràng, không hiểu chị em tôi khiếu nại cái gì, nên không có cơ sở để xem xét giải quyết nên hoàn trả đơn” (trích nguyên văn).

Suốt 6 năm qua, từ khi quyết định 3991 ra đời, chị em tôi đã liên tục gởi đơn đến các cấp chính quyền để Khiếu nại + Tố cáo, có thể nói ở Thành phố này vụ việc của gia đình tôi các cơ quan chính quyền, đài phát thanh và báo chí biết rất rõ, nhưng làm ngơ không giải quyết dứt điểm mà bao che, bảo vệ nhau bằng cách tiếp tục ra công văn 8573 để bác đơn hòng dẹp bỏ khiếu nại.

Bản thân ông Võ Văn Đồng với cương vị là một vụ trưởng mà ông bảo không biết gì thì tôi tin chắc như đinh đóng cột rằng ông ta đang ngồi nhầm ghế, không đúng vị trí hoặc tôi gõ nhầm cửa chăng?

Vì ông là người đi nhiều, biết nhiều ông có thể giúp tôi gõ đúng cửa để được trả lại đất đai, mồ mã của tổ tiên không, thưa ông Trung Chính ??? Và nếu được như vậy tôi cảm ơn ông nhiều lắm!

Sau cùng tôi xin hỏi ông rằng, ông có dám công bố những sự thật mà tôi đã trình bày với ông cho toàn thể nhân dân Việt Nam biết không, hay ông chỉ lo bảo vệ lợi ích cá nhân của mình mà bỏ quên lương tâm của người viết báo. Nếu ông dũng cảm dám nói lên sự thật thì tôi sẽ là người cung cấp những bằng chứng + thông tin chính xác của gia đình tôi cho ông, để ông hiểu rằng sự bất mãn của dân oan chúng tôi là chính đáng, chứ không như những lời vu cáo của chính quyền các ông, nào là chống đối chính phủ Việt Nam, nào là gây rối an ninh trật tự, nào là lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích nhà nước… vv và vv…..Vì mục đích chính của chúng tôi là đòi lại tài sản bị chiếm đoạt không hơn không kém chứ chúng tôi không có mưu đồ lật đổ đảng và nhà nước CSVN để lên nắm quyền thống trị đất nước đâu thưa ông. Mong rằng ông suy nghĩ để giúp chúng tôi đòi lại sự công bằng cho mình và mọi tầng lớp nhân dân trong nước ông nhé.

Trân trọng chào ông, cảm ơn bài báo của ông đã giúp tôi nói lên chính kiến của mình, rất mong được liên lạc với ông.

Lư Thị Thu Duyên
Nhà số 77/13 B đường Trần Bình Trọng, phường 1, quận Gò Vấp thành phố Sài Gòn
Ngày 12/06/2007

RFA - tiếng nói lạc lõng từ nước Mỹ

(CATP) Nhiều người châu Á không lạ gì những luận điệu xuyên tạc, vu khống mà cái gọi là “đài phát thanh Á châu tự do” (RFA) phát đi từ Washington về tình hình ở nước họ. Mới đây, lại một lần nữa RFA tung ra những thông tin sai sự thật về tình hình Việt Nam, khi chương trình phát thanh sáng 1-6 của đài này đưa tin “Nhà cầm quyền Việt Nam đe dọa, sách nhiễu và cấm tổ chức Đại lễ Phật đản tại Thừa Thiên - Huế, Bình Định”.

Thực tế đã diễn ra hoàn toàn trái ngược với những thông tin do RFA đưa ra!

Ai có mặt tại Thừa Thiên - Huế và Bình Định sáng 31-5 (tức ngày rằm tháng tư âm lịch) cũng được chứng kiến hàng nghìn tăng ni, phật tử thành phố Huế vàvà Ban tôn giáo tỉnh Thừa Thiên - Huế tham dự Đại lễ Phật đản Phật lịch 2551, được tổ chức trọng thể tại chùa Diệu Đế (Huế). Tối 31-5, Ban trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Thừa Thiên - Huế đã tổ chức 30 thuyền hoa diễu hành và thả đèn hoa trên sông Hương, đón mừng Đại lễ Phật đản. Trước đó, lãnh đạo tỉnh Thừa Thiên - Huế đã tổ chức nhiều đoàn đến thăm và chúc mừng Ban trị sự Giáo hội Phật giáo tỉnh và các cơ sở Phật giáo trên địa bàn nhân Đại lễ Phật đản.

Còn tại Bình Định, ngày 31-5-2007, tại chùa Giáo hội ở thành phố Quy Nhơn, Tỉnh hội Phật giáo tỉnh Bình Định cùng Ban trị sự tỉnh của Giáo hội Phật giáo Bình Định đã tổ chức Đại lễ Phật đản với sự tham gia của đông đảo tăng ni, phật tử. Đến dự và chúc mừng có đại diện lãnh đạo Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh Bình Định và thành phố Quy Nhơn. các vùng lân cận, cùng đại diện Đảng bộ, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc

Tại nhiều địa phương khác, Đại lễ Phật đản cũng đã diễn ra trọng thể và trang nghiêm với sự tham gia của hàng nghìn tăng ni, phật tử. Ngay ở thủ đô Hà Nội, tham gia ngày lễ trọng đại của Phật giáo còn có các đại biểu từ Thái Lan và

Thế nhưng vì sao RFA lại đưa tin như vậy? nhiều người nước ngoài.

Âu là cũng có nguyên do của nó. Trước hết, RFA được lập ra là để tác động tư tưởng, lung lạc tinh thần của nhân dân các nước châu Á mà đế quốc Mỹ muốn lôi kéo theo quỹ đạo “tự do” của chúng. Mỗi năm nhà cầm quyền Mỹ chi hàng chục triệu đôla cho những cái loa này. Phương pháp tuyên truyền của RFA vẫn là “bổn cũ soạn lại” từ thời chiến tranh lạnh, nghĩa là sử dụng cách “tuyên truyềntuyên truyền đen” và “tuyên truyền xám”. “Tuyên truyền trắng” nghĩa là nói “sự thật” với những diễn biến có thật ở một mục tiêu nào đó, nhưng cách lựa chọn sự kiện lại được định hướng rất rõ và đó thường là những sự kiện tiêu cực mà ngay chính các nước đó cũng đang đấu tranh để loại trừ. Đưa tin như vậy, RFA làm ra vẻ ta đây khách quan, nhưng đằng sau bản tin là ý đồ xấu không phải ai cũng dễ nhận ra. “Tuyên truyền đen” là tin dựng đứng, vu khống hoàn toàn, nhằm làm rối loạn xã hội, gây mất niềm tin.

Cần phải nêu rõ, trong thời gian qua, các “phóng viên” của RFA thường móc nối liên lạc với những phần tử bất mãn, những người đi khiếu nại, khiếu kiện để kích động họ chống lại chính phủ Việt Nam với những luận điệu đòi “dân chủ, nhân quyền”. Đây là hành động vi phạm pháp luật, xâm phạm chủ quyền của một quốc gia mà Mỹ đang có quan hệ ngoại giao, làm tổn hại quan hệ giữa hai nước đang trên đà phát triển theo chiều hướng tốt. trắng”, “

Rõ ràng, RFA đã thực sự không thiện chí

Trung Chính

Cali dậy sóng



Cali dậy sóng

Tranh: Babui

Có phải Việt Nam không có tù chính trị?


Đã từ lâu, mỗi khi có ai đặt vấn đề Việt Nam vi phạm nhân quyền, và yêu cầu Hà Nội thả tù chính trị và tôn giáo, nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam đều cả quyết rằng Việt Nam không có tù chính trị. Ngay cả mới đây, do áp lực của quốc tế, Hà Nội đã phải thả Nguyễn Vũ Bình, người đã bị tù suốt 5 năm qua, rõ ràng vì lý do chính trị, nhưng từ trước đến nay giới lãnh đạo CSVN vẫn khăng khăng cho rằng: "Tại Viêt Nam không có tù chính trị".

Trong một cuộc gặp ở Washington hồi tháng 5-2007, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Gia Khiêm đã trả lời Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ và phái đoàn Nghị Sĩ Thụy Điển khi họ yêu cầu Nhà nước Việt Nam trả tự do cho những nhà bất đồng chính kiến là ở Việt Nam không có tù chính trị mà chỉ có những người vi phạm pháp luật và sẽ bị xử theo pháp luật. Và luận điệu này cũng được những nhà lãnh đạo Việt Nam khác phát biểu khi trả lời câu hỏi liên quan đến vấn đề này.

Vậy ta hãy thử xem xét lại ngữ nghĩa của các cụm từ này qua Bộ Từ điển được xem là giá trị nhất của Việt Nam hiện nay để xác định có hay không có "Tù chính trị" ở Việt Nam.

Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, các cụm từ "Chính trị", "Chính trị phạm" được diễn nghĩa như sau:

Chính trị:

[Là] Toàn bộ những hoạt động có liên quan đến các mối liên hệ giữa các giai cấp, giữa các dân tộc, các tầng lớp xã hội, mà cốt lõi của nó là các vấn đề giành chính quyền, duy trì và sử dụng quyền lực nhà nước, sự tham gia vào công việc của nhà nước, sự xác định hình thức tổ chức, nhiệm vụ, nội dung hoạt động của nhà nước. Bất kỳ vấn đề chính trị nào cũng đều có liên quan đến quyền lợi của các giai cấp và nhà nước. Chính trị thuộc cấu trúc thượng tầng bao gồm - hệ tư tưởng chính trị, nhà nước, các đảng phái - xuất hiện khi xã hội phân chia thành các giai cấp dựa trên cơ sở hạ tầng kinh tế.

Chính trị "là biểu hiện tập trung nhất của kinh tế" (Lênin), đồng thời chính trị có vị trí độc lập và có tác dụng to lớn đối với kinh tế. Việc hình thành một quan điểm chính trị đúng về lĩnh vực kinh tế là điều kiện để giải quyết có hiệu quả những nhiệm vụ kinh tế. "Không có một lập trường chính trị đúng thì một giai cấp nhất định nào đó không thể giữ vững được sự thống trị của mình, và do đó cũng không hoàn thành được nhiệm vụ của mình trong lĩnh vực sản xuất" (Lênin). Chính trị còn là sự biểu hiện tập trung của nền văn minh, của hoạt động sáng tạo, của sự giải phóng.

Trong điều kiện xây dựng chủ nghĩa xã hội, nói tới chính trị trước hết là bảo đảm vai trò lãnh đạo của đảng cộng sản, hiệu lực quản lý nhà nước, quyền làm chủ của nhân dân lao động trên tất cả mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.

Chính trị phạm:

[Là] Người hoạt động chính trị, chống lại chế độ thống trị đương thời, bị bắt giam, tù đày. Trong chế độ lao tù của thực dân, đế quốc và tay sai, chính trị phạm được dùng để phân biệt với thường phạm - tức là những người mang án không phải vì lý do chính trị. Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, những người hoạt động phản cách mạng và phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia theo quy định của pháp luật hình sự hiện hành, khi bị kết án không gọi là Chính trị phạm mà gọi là "người phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia".

Qua định nghĩa trên ta thấy rất rõ người hoạt động chính trị, chống lại chế độ thống trị đương thời, bị bắt giam, tù đày là Chính trị phạm hay gọi nôm na là Tội phạm chính trị hay Tù chính trị.

Vậy tại sao Bộ Luật Hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam dùng cụm từ "Tội xâm phạm an ninh quốc gia" cho nhũng người hoạt động chính trị, chống lại chế độ thống trị đương thời mà không dùng từ chính xác là "Tội phạm chính trị" mà Từ điển Bách khoa Việt Nam đã định nghĩa. Ban Biên tập chuyên ngành Chính trị học gồm toàn những nhân vật tài cao học rộng như Nguyễn Duy Quý, Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Thiện Nhân, Đào Văn Tiến v.v? thì không thể bảo định nghĩa trên là sai.

Lý do duy nhất mà cũng dễ hiểu là Nhà nước Việt Nam đương thời do Đảng Cộng sản lãnh đạo không muốn cho nhân dân trong nước và thế giới biết là ở Việt Nam vẫn có những người bất đồng chính kiến, họ hoạt động chống lại chế độ độc tài đảng trị và đang bị bắt bớ giam cầm như Linh mục Nguyễn Văn Lý, Nguyễn Phong, Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân, v.v? Tất cả đều bị quy vào vi phạm pháp luật hình sự bình thường và đều bị xử theo pháp luật. Báo chí cũng được chỉ đạo đăng bài bêu xấu những nhân vật phản kháng này và tầm thường hóa họ cho rằng họ đấu tranh không vì lý tưởng tự do dân chủ mà chỉ là vì đồng tiền. Họ làm thế để dễ bề rêu rao rằng ở Việt Nam toàn dân đều một lòng theo đảng (tất nhiên đây là Đảng Cộng sản), để chứng tỏ rằng Việt Nam không có tù chính trị.

Một điều sâu xa nữa đó là khi dùng cụm từ "Tội xâm phạm an ninh quốc gia" thay cho "Tội phạm chính trị" Nhà nước Việt Nam đương thời [nghĩ rằng có thể] dễ dàng qua mặt dư luận quốc tế và sự can thiệp của thế giới trong lĩnh vực này. Mà nói tới chính trị là nói tới nhân quyền. Trong Công ước quốc tế về Các quyền Dân sự và Chính trị của Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc ngày 18/12/1966, Việt Nam gia nhập ngày 24/9/1982, các điều 17, 18, 19, 21, 22 quy định rất rõ các quyền tự do tư tưởng, ngôn luận, lập hội này.

Việt Nam không thể chỉ gia nhập trên giấy mà lại không thực hiện trong thực tiễn. Thế nhưng họ luôn dựa vào điều 4 của Hiến pháp 92 - một điều khoản vi phạm với Công ước quốc tế về Các quyền Dân sự và Chính trị mà họ đã ký kết gia nhập để triệt hạ những nhà bất đồng chính kiến đấu tranh cho chế độ đa đảng. Sự thay đổi ngôn từ thành Tội xâm phạm an ninh quốc gia không thể che dấu được bản chất của nó. Nhưng trước mắt đảng Cộng sản cũng thành công trong việc cho thế giới thấy rằng ở Việt Nam không có Tù Chính trị ít nhất là trên văn bản pháp luật hiện hành. Mà không có tội phạm chính trị thì làm gì có việc đòi hỏi phải được hành xử như tù chính trị hoặc tị nạn chính trị ?

Quả là sự khéo léo trong sử dụng ngôn từ! Nhưng sự thật bao giờ cũng là sự thật. Chân lý chỉ có một! Việt Nam có tù chính trị nhưng không được xem như tù chính trị. Không thể đánh lừa nhân dân và thế giới mãi được!

Quốc Tuấn
Hà Nội 13.6.2007