Thứ Bảy, 16 tháng 6, 2007

TÌM KIẾM THỦ PHẠM CÁC TỘI ÁC CỦA VC

Gs Nguyễn văn Canh
4 tháng 2, 07

Ngày 25 tháng 1 năm 06, Quốc Hội Âu Châu ban hành Nghị Quyết số 1481 nói về nhu cầu lên án các tội ác của vài chế độ độc tài tòan trị còn lại trên quả đất này, trong đó có CHXHCNVN. Các tội ác đó là những vi phạm nhân quyền qui mô và gồm có “ám sát và hành quyết cá nhân và tập thể; gây ra chết trong tại tập trung; gây ra chết đói; lưu đầy biệt xứ; tra tấn; lao động nô lệ và các hình thức khủng bố tập thể về thân thể; ngược đãi vì lý do tôn giáo và sắc tộc, vi phạm quyền tự do lương tâm, tư tưởng và diễn tả; tự do báo chí và thiếu vắng cả nền dân chủ đa nguyên.

Ủy Ban Tranh Đấu Cho Tự Do và Dân Chủ tại Việt nam được thành lập là để đáp ứng lời kêu gọi chiếu theo điều 14 của Nghị quyết 1481 đi sưu tầm, nghiên cứu các tội ác ấy của CHXHCNVN.

Trong bài này này, chúng tôi chỉ giới hạn vào 3 lãnh vực tội phạm mà CHXHCNVN đã phạm đối với dân tộc Việt: Đó là sang nhượng đất đai của tổ tiên cho ngoại bang; giết người; và ngược đãi công dân về vấn đề dân sinh và dân quyền. Và Ủy Ban sẽ tìm kiếm thêm những tội ác khác, và tên tuổi của những người chủ động gây ra các tội ác đó, hay nói khác đi là thủ phạm của các tội ác, để làm hồ sơ pháp lý sử dụng về sau như các quốc gia cựu cộng sản ở Âu Châu đang làm và đồng thời công khai hóa tên của các thủ phạm trên Website của Ủy Ban cho mọi người biết.

Đây chỉ là một trong nhiều công tác của UB liên hệ đến NQ 1481.Mục đích của công tác này như NQ 1481 đề nghị là

a) điều tra các tội ác mà CHXHCNVN đã phạm và các
thủ phạm chưa bị đem ra xét xử bởi cộng đồng quốc tế,
giống như trường hợp tội phạm ghê tởm mà Chủ Nghĩa
Quốc Xã đã phạm (đ. 5);

b) loại bỏ các phần tử bị coi là nguy hại cho
việc xây dựng một xã hội mới (đ.3);

c) giúp cho Đảng Cộng sản Việt nam đánh giá
lại lịch sử của mình và tránh xa các tội ác ấy (đ.13);

d) để bày tỏ mối cảm thông (chia buồn) đối với các nạn nhân
((đ 12);. e) công bố tên thủ phạm của tôi ác này để cho mọi người biết vì đây là điều kiện tiên quyết để tránh các tội ác tương tự xảy ra trong tương lai, đặc biệt là rất quan trọng
trong việc giáo dục giới trẻ ( đ..7).


I. TỘI PHẠM VỀ NHƯỢNG ĐẤT VÀ BIỂN CHO NGOẠI BANG

Từ 1958 với công hàm của Phạm văn Đồng với tư cách Thủ tướng nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa công nhận cho Trung Cộng có chủ quyền trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, qua hai hiệp ước năm 2000 và 2002 Viêt cộng và Trung Cộng phân định lãnh thổ và phân chia vùng Vịnh đến tuyên bố trong đầu tháng 1 năm 2007 của Nguyễn tấn Dũng vể VC bắt đầu hợp tác với Trung Cộng khai thác dầu khí trong vùng Biển Đông, Đảng Cộng Sản Việt nam đã đơn phương nhượng nhiều đất và biển cho Trung Cộng.

Trước hết là trên đất liền. Con số cây số vuông nhượng cho Trung cộng không được tiết lộ. Bản đồ hai bên vẽ để phân định biên giới được hai bên dấu kín, nên không biết mất bao nhiêu đất. Tuy nhiên, người ta biết được các núi Bạc hay là dãy 1250 thuộc huyện Yên Minh, Hà Giang nay đã thuộc về lãnh thổ Trung công với tên mới gọi là Giải Âm Sơn và núi Đất hay là dãy 1509 thuộc huyện Vị Xuyên, Hà Giang, nay nằm trong lãnh thổ Trung Cộng với tên là Lão Sơn. Ba dãy núi khác cũng thuộc Hà giang là dãy 1545, 772 và 233 cũng không còn trên bản đồ Việt nam. Tại Lạng sơn, các dãy núi 820, 636 thuộc xã Quốc Khánh, huyện Tràng Định, và khu Bình Độ 400 sau cột mốc 26 ( theo Hiệp ước Thiên Tân) thuộc huyện Cao Lộc nay cũng không còn trong lãnh thổ Việt nam nữa.

Vê vùng Vinh Bắc Việt. Viet cộng nhượng cho Trung cộng 11,000 cây số vuông, chưa kể đến việc cho Trung cộng vào khai thác tài nguyên của quốc gia, cũng như để ngoại bang vào trong lãnh hải bắn giết ngư dân của mình..

Trên biển Đông. Trung cộng dùng võ lực chiếm Khu phía Đông Hoàng Sa là Tuyên Đức vào năm 1956, và chiếm phía Tây của quần đảo này là Nguyệt Thiềm vào 1974, dưới thời Việt nam Cộng Hòa. Ngày nay, về Trường Sa, ngoài việc Trung cộng đã chiếm 8 đảo và đã đặt bia đá chủ quyền trên đảo Đa Lạc, Việt cộng vừa mới cho Trung Cộng khai thác dầu khí chung giữa hai quốc gia: nghĩa là bắt đầu nhượng ½ chủ quyền trên vùng này.

Ai là thủ phạm phải chịu trách nhiệm?

Những kẻ có tên sau đây là thủ phạm dù đã chết: Hồ chí Minh, Phạm văn Đồng…, các người còn sống trong thời kỳ đầu của Đảng CSVN như Võ nguyên Giáp; các tổng bí thư ĐCS: Đỗ Mười, Lê khả Phiêu, Nông dức Mạnh; các chủ tịch nước: Lê đức Anh, Trần đức Lương, Nguyễn minh Triết; các thủ tướng:Võ văn Kiệt, Phan văn Khải, Nguyễn tấn Dũng, các bộ trưởng ngoại giao: Nguyễn mạnh Cầm, Nguyễn dy Niên, Phạm gia Khiêm…. và đặc biệt là tất cả thành viên chính trị bộ từ khóa VII đến X.

II. TỘI PHẠM GIẾT NGƯỜI (cá nhân hay tập thể)

Dưới đây là một số tội phạm giết người mà UB biết được và tóm lược sự kiện, và ước mong quí đồng hương tiếp tay để UB có thêm tài liệu về các vụ khác và các thủ phạm ngõ hầu làm thành hồ sơ để sử dụng về sau và nêu tên thủ phạm trên trang Website của UB để mọi người biết và tùy nghi sử dụng nếu cần.

Tại cầu Hồ Khẩu, trên sông Hồng, Lào Cai, 1946.
Cuộc chiến đấu giữa Quốc Dân Đảng và Việt Minh rất khốc liệt vào 1946 tại vùng Vĩnh Phúc Yên và Lực Lượng Quốc Dân Đảng bị đẩy lên Lào Cai. Ở nơi đây, lực lượng Đại Việt Quốc Dân Đảng tập họp lại để kháng cự. Tuy nhiên, VM đã cắt đứt mất đường tiếp tế, nên họ tìm cách rút sang Trung Hoa qua ngả biên giới Lào Cai qua cửa ải Hồ Khẩu. Ở nơi đây, nhiều người không trốn thoát được và bị VM bắt và bị giam tại trại tập trung. Một số tù nhân trốn thoát cho biết VM giết người tập thể, vì cứ mỗi đêm chừng 20 người bị gọi đi mà không thấy trở về. Về sau có một nhân chứng bị giết nhưng không chết, trốn thoát được cho biết rằng VM trói tù nhân lại, thành một hàng dài, dẫn họ đến cầu Hồ Khẩu trên sông Hồng Hà trong đêm tối. Một cán bộ VM đứng trên cầu, tay cầm búa, trong khi đó một cán bộ khác gọi tên nạn nhân. Khi nạn nhân buớc lên, thì cán bộ VM cầm búa đập vào đầu nạn nhân. Xong, cán bộ thứ ba đẩy nạn nhân xuống sông.. Mỗi đêm đều xảy ra cảnh tượng này.
Một nạn nhân sống sót cuộc tàn sát này cho biết ông là người cuối cùng trong danh sách. Kẻ hành quyết mỏi tay quá, nên đánh hụt, và nạn nhân chỉ bị thương và cán bộ thứ ba đã đẩy nạn nhân xuống sông. Nạn nhân này sống sót và trốn về Hà nội...

Vụ Hồ Halais, hay vụ Ôn Như Hầu,Hà nội.
Đầu năm 1946, Việt minh bất thần tấn công phe quốc gia. Lúc đó họ còn hợp nhất thành Quốc Dân Đảng. Quốc Dân Đảng rút lui lên phía Bắc, và còn duy trì căn cứ bí mật tại một ngôi nhà đối diện với Hồ Halais, trên dường Ôn Như Hầu. Sau khi tấn công vào căn cứ này, Việt Minh bí mật mang một số xác chết vào đó, rồi tố cáo Quốc Dân Đảng giết người. Thực tế đó là xác của các thành viên Quốc Dân Đảng mà VC đã giết trong cuộc thanh trừng đảng phái quốc gia. Mấy năm sau, khi người Pháp tái chiếm Hà nội người ta còn tìm thấy nhiều xác chết nữa. Tuy nhiên đây là các xác chết tích tụ lại trong thời gian VM kiểm soát và cai trị thành phố này. Sự việc xảy ra cũng giống như những gì xảy ra hồi Tết Mậu Thân ở Huế.

Vụ giết 3000 tín đồ Cao Đài tại Quảng Ngãi:
Ủy Ban cần biết chi tiết vụ này và thủ phạm.

Cải Cách Ruộng Đất 1954-1956
Quyết định của Chính Trị Bộ do Hồ chí Minh điều khiển là 5% nông dân Bắc Việt là địa chủ và con số 5% này bị loại trừ khỏi xã hội, nghĩa là bị đưa ra đấu tố. Con số 5% của gần 14 triệu dân Bắc Việt lúc đó được tính ra là 700,000 người.
Tại sao lại có con số 5% này? Căn cứ vào công trình khảo sát của Pierre Gourou, học giả Pháp, tác giả cuốn Les Paysans du Delta Tonkinois, (Paris, EFEO ) in năm 1936, VC kết luận đa số ruộng tại Bắc Việt là do địa chủ và phú nông chiếm hữu, dù họ chỉ có 5% dân số. Số ruộng mà họ chiếm là 31.6 % trong tổng số 4,188,852. 60 sào tây của toàn thể Bắc Việt. Bần nông và cố nông có 61% dân số chỉ làm sở hữu có 11.1% tổng số ruộng.

Để làm cuộc cách mệnh xã hội chủ nghĩa, Hổ và Chính Trị Bộ thực hiện cuộc CCRĐ để “chia “ ruộng đất của địa chủ cho bần và cố nông. Đó là lý do có con số 5% địa chủ cần phải loại trừ.
Cuộc đấu tố trong thời kỳ này xảy ra rất khốc liệt. Đây là cuộc chém. giết dã man, ghê dợn trong lịch sử loài người. Mỗi xã qua 2 đợt CCRĐ theo chỉ thị của ‘Trung Ương” phải đạt 5% nông dân bị qui là địa chủ để mang ra đấu tố. Vợ con nạn nhân cũng bị vạ lây: họ bị loại ra khỏi xã hội. Nhà cửa, ruộng. vườn , đồ đạc trong nhà như nồi niêu xoong chảo v.v.bị tịch thu và chia ngay cho bần và cố nông. Mỗi gia đình nạn nhân được chỉ định cho một nơi ở góc làng, và tự làm lều mà trú ngụ. Họ phải tìm rễ cây, ăm trộm khoai sắn mà sống. Họ không được gia nhập cộng đồng trong làng xã, nói khác họ bị cô lập với người khác trong làng.


Thủ phạm của tội ác:
Ngoài Hồ chí Minh, Trường Chinh, Lê văn Lương, Hồ viết Thắng, Võ nguyên Giáp và các thành viên chính trị bộ ra, Ủy Ban kêu gọi những ai biết thủ phạm khác ở Trung ương cũng như địa phương xin cho biết.

Vụ Qùynh Lưu- Ba Làng An, 1955
Cuộc di cư 1954-1955 được qui định trong Hiệp định Geneve 1954. Việt nam bị chia làm 2, lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới: Bắc thuộc Cộng sản và Nam thuộc Quốc gia. Những ai không muốn sống trong chế độ mà họ không thích thì có quyền di chuyển đến bên kia. Có khoảng 800,000 người dân bỏ Bắc Việt vào Nam. Không có người dân nào từ trong Nam bỏ ra Bắc sống với chế độ Cộng Sản. Quỳnh Lưu và Ba Làng An là các xã thuộc bên kia vĩ tuyến 17 và là những làng theo đạo Công giáo bị Việt Minh cô lập. Dân chúng nổi dậy, khiếu nại với Ủy Hộ Quốc Tế Kiểm Soát Đình Chiến, đòi di cư vào Nam. Vì có hệ thống thông tin do La Mã hỗ trợ, tin tức nổi dậy được chuyển đến UHQTKSĐC.

Vì sợ phong trào lan rộng ra các vùng kế cận, Hô chí Minh tìm kế hoãn binh, hứa thỏa mãn các đòi hỏi ấy bằng cách sắp xếp để cho họ vào Nam.. Bất thình trong một đếm tối, quân đội VM bao vây 2 làng, hốt hết dân cư đi, và cho dân chúng ở nơi khác chiếm ngụ các nhà cửa của dân làng. Người ta được biết đơn vị quân đội được giao phó nhiệm vụ này là một Trung Đoàn thuộc sư đoàn mới thành lập, gồm những người Nam tập kết ra Bắc, do Đồng văn Cống chỉ huy. Các Trung Đòan khác bao vây xung quanh để yểm trợ. Khi phái đoàn của Ủy Hội Kiểm Soát Quốc Tế đến, dân làng “ mới” này đệ đơn và được chuyển vào Nam.
Tội phạm này cần được làm sáng tỏ, và Ùy Ban mong muốn tìm kiếm thủ phạm trực tiếp liên hệ tới công tác này.

Cuộc tắm máu ở Huế năm 1968


Xác các nạn nhân trong vụ thảm sát Mậu Thân 1968 tại Huế
Vào dịp Tết năm Mậu Thân, 1968, Chính phủ VNCH tuyên bố ngưng chiến để cho dân chúng được hưởng 3 ngày Tết an bình. Tuy nhiên, VC thừa dịp này cho quân xâm nhập đánh lén trên toàn cõi Việt nam.
Tại Huế, VC dồn nỗ lực bất thình lình đánh chiếm thành phố. Trong 21 ngày kiểm soát thành phố, VC đã bắt đi mất tích trên 4 ngàn người, Sau khi quân VC bị đánh bật ra khỏi thị xã, dân chúng đi tìm các thân nhân mất tích, không thấy đâu. Nhiều tháng sau, một em bé chăn trâu khám phá thấy có hố chôn người trong vùng xa. Vì thế nhiều thân nhân đi sâu vào trong rừng và tìm thấy nhiều hố chôn tập thể các nạn nhân. Phần lớn các nạn nhân đều bị đánh vỡ đầu, hay bị chém, bằng mã tấu.
Ngoài lý lịch của thủ phạm ra mà UB cần biết, trách nhiệm về cuộc thảm sát man rợ này cần phải được làm sáng tỏ.

Các cuộc tắm máu vào tháng 4 năm 1975.
Cựu Dân Biểu VC Nguyễn công Hoan trong buổi điều trần trước Hạ Viện Hoa Kỳ vào 1977 sau khi đến Hoa Kỳ tị nạn, nói: “ hơn 500 người thuộc làng Hòa Thắng, Hòa Trí, Hòa Quang và Hòa Kiến thuộc Quận Tuy Hòa bị sát hại trong những ngày đầu tìên khi VC chiếm tỉnh này. Đó là những làng có nhiều cán bộ tập kết ra Bắc trước đó. Trong khắp cả tỉnh tôi, tại các quận như Sông Cầu, Tuy An, Đồng Xuân và Hiếu Xương, sự việc xảy ra đều giống nhau: nơi nào có nhiều cán bộ VC, thì nơi đó có nhiều giết chóc. Các đảng viên Đảng Đại Việt, các viên chức chính quyền, sĩ quan quân đội, cảnh sát, tình báo là những người bị VC giết trước tiên. Các người này lúc đầu được lựa ra và chuyển đến trường tiểu học ở Hòa Thắng để học tập. Tại đây, họ được nhốt lại. Đêm hôm sau, họ được đưa đi vào sâu trong rừng và bị giết tập thể. Dân chúng không được lui tới khu vực này. Về sau, một em bé chăn trâu thấy có nhiều xác chết. Thân nhân những người mất tích đổ xô đi tìm. Lúc đó họ mới được phép vào khu vực, nhưng phải tuyên thệ giữ bí mật. Sau đó, các xác chết mới được chôn cất tử tế”

Các vụ giết tập thể tại Phú yên:
Vụ Lù Ba: Vào 5 giờ 30, chiều ngày 8 tháng 4, năm 1975, tại trại Đinh Thành, thuộc làng Hòa Vang, Lê Liêm, chỉ huy trưởng VC ở Quận 2, Tuy Hòa, ra lệnh cho chừng 1500 tù nhân đứng thành hàng. Y ra lệnh cho Trung úy VC Nguyễn Chất đọc một danh sách dài tù nhân được đi về thị xã học tập. Tù nhân khi được gọi tên đứng dạy và di chuyển đến một góc sân. Cả khu vực đã bị lính cộng sản bao vây. Tù nhân bị trói thành từng nhóm 9 người.
Vào 8 giờ tối, các tù nhân được lệnh đi bộ đến Lù Ba, một cái đồi cạnh núi Dình Ông. Dẫn đầu mỗi nhóm là một du kích mang súng AK và chừng 2 giờ rưỡi sau đó tất cả nhóm bị bắn chết bằng súng máy.
5 ngày sau sự việc bị vỡ lở là do một du kích tham dự báo cho một đồng đội của y rằng cha của người này vì là cảnh sát viên của chế độ Cộng Hòa bị giết trong nhóm đó. Người du kích này đi tìm xác của người cha, và sau đó dân chúng ùa nhau đi tìm xác của thân nhân. Tại đây người ta tìm thấy 225 xác. Người ta nhận diện được xác ông Đặng thanh Phước, hội dồng xã Hòa Thông, xác Nguyễn Hoàng, cán bộ xây dựng nông thôn.

Ủy Ban chỉ biết được 2 thủ phạm là Lê Liêm, Thiếu tá VC vào năm 1975 và Nguyễn Chất: Trung Úy VC vào năm 1975

Vụ Cổ Ngựa: Cổ Ngựa là Đèo gần ga xe lửa Hòa Bình, thuộc xã Hòa Quang. Đến cuối tháng 4 người ta tìm thấy 27 xác nạn nhân, trong số này có xác của Thiếu tá Đào tất Xuyên, Tiếp Vân của Trung Tâm Chuyển Vận Phù Cát, Bình Định; Trung Úy Huỳnh văn Điềm, Tiểu Khu Phú yên. Cuộc thảm sát này xảy ra vào tối 4 tháng 4 sau 6 giờ chiếu.
Vụ Núi Thọ Vức: Núi Thọ Vức cách Lù Ba độ 3 cây số rưỡi, không xa thị xã Phú yên. Tối ngày 8 tháng 4, 1975, lực lượng cộng sản bắt 85 tù nhân ở trại Tường Quang và Ngọc Phong, mang họ đến đây hành quyết. Ba tháng sau, người ta không còn nhận diện được người nào nữa.

Vụ Trả thù tại Cây Xộp:
Cây Xộp ở cách Lù Ba độ 3 cây số, thuộc ấp Liên Trì. Tại đây, dân chúng đi tìm kiếm xác thân nhân của họ đã đào được 6 xác chết. Trong số này có xác của Sĩ quan Đặng kim Hưng thuộc Trung tâm thẩm vấn Phú Yên. Vợ ông Hưng cho biết các nạn nhân bị trói và đầu của họ bị đánh vỡ sọ; có cả xác Đại úy Nhượng, Phụ tá Cảnh sát Dã Chiến tỉnh Phú Yên

Vụ thảm sát tại Cầu Dài.
Chiều 8 tháng 4, 1975, Dân Vệ Huỳnh Xanh nằm trốn dươi Cầu Dài, trên quốc lộ số 1, bắc qua sông Đà Rang, phía Nam Tuy Hòa. Ông ta trông thấy mốt số quân đội VC dẫn độ 30 tù binh, tiến đến gần cầu. Các tù nhân bị trói lại thành từng nhóm và người đứng đầu của nhóm bị buộc vào chiếc xe Honda do một VC lái. Mỗi nhóm lần lượt được kéo tới cầu, rồi đẩy xuống sông.

Hành quyết Đại tá Hồ ngọc Cẩn (1975) Tỉnh trưởng Chương Thiện

Vụ bắt và hành quyết sinh viên Trần văn Bá.

Vụ cho nổ bom đánh đắm tàu tị nạn tại bến Tân Cảng Sàigòn, giết họ, sau khi đã lấy tiền vàng bạc của nạn nhân

Vụ Liên Tôn Phục Quốc với các Linh Mục Nguyễn văn Vàng, Linh Mục Đinh quang Minh, Trung tá Nhảy dù Nguyễn văn Viên ….bị VC hành quyết khi VC chiếm đóng Sàigon.
Ủy Ban cần biết các thủ phạm của các vụ này.


III. NGƯỢC ĐÃI, ĐE DỌA, ĐÀN ÁP
-Các Hòa thượng Huyền Quang, Quảng Độ, các tu sĩ Phật Giáo, thuộc giáo hội Ấn Quang, không chịu thống thuốc giáo hội quốc doanh.
-Các Linh Mục Nguyễn văn Lý, Nguyễn hữu Giải và một số thành viên khối 8406.
- Cụ Lê quang Liêm và các tu sĩ Phật giáo Hòa Hảo.
- Các vị chức sắc Cao Đài, không chịu theo Đảng CS.
-Các Mục sư Tin Lành như Nguyễn hồng Quang, Nguyễn công Chính v.v.
-Các nhà đấu tranh đòi hỏi dân sinh dân quyền:
a) Công bằng xã hội và quyền sống cùa con người như Trần Khải Thanh Thủy, LS Lê thị Công Nhân, công nhân Nguyễn Tấn Hòanh, nông dân Trần Thị Lệ Hồng.v.v..

b) Dân chủ tự do như BS Nguyễn Đan Quế, nhà báo Nguyễn vũ Bình, BS Phạm hồng Sơn. LS Nguyễn văn Đài, Luật gia Lê chí Quang, Bs Lê Nguyên Sang, sinh viên Trương Quốc Huy, các ông Phạm Bá Hải, Vũ Hòang Hải, Nguyễn Ngọc Quang, Huỳnh Minh Đạo v.v. .

Ủy Ban cần biết lý lịch của nhũng cán bộ chính quyền, cán bộ đảng CS va công an tham dự vào việc đàn áp này.

Trên đây chỉ là một số trường hợp mà UB biết. Ủy Ban kêu gọi quí đồng hương ở trong nước hay ngoài nước nếu biết những tội ác khác, cùng với các thủ phạm với càng nhiều chi tiết về lý lịch càng tốt để UB thiết lập hồ sơ lưu trữ để sau này sử dụng và đồng thời đưa tên thủ phạm lên danh sách Webiste của UB. Ngoài ra, đây cũng là tài liệu dùng để đáp ứng lời kêu của Quốc Hội Âu Châu theo điều 14 của bản NQ 1481 của họ.
Ủy Ban chúng tôi mong rằng có sự tiếp sức của đồng hương về việc này. Ủy Ban chúng tôi biết rằng khối lượng công việc sẽ quá lớn. Ủy Ban sẽ phải nỗ lực hết sức để cho công việc được tốt đẹp. Và ước mong có sự tiếp tay của nhiều người.
Mọi liên lạc, xin tiếp xúc qua Website: là www.vietnamadvisory.org và có địa chỉ e-mail trong đó. Quí đồng hương chỉ cần bấm vào các tên trong Website, thì sẽ thấy địa chỉ hiện ra và có thể liên lạc với Ủy Ban được.

Việt gian Hồ chí Minh: Tên Tội Đồ Phản Quốc Số 1 Trong Lịch Sử Việt

Lịch sử hơn 4000 năm của Dân Tộc Việt chỉ có một chủ đích là dành lấy lại đất nước Việt và gìn giữ lấy quyền sống làm người của người Việt .
Trước tham vọng xâm lăng và dã tâm thống trị của mọi loại đế quốc thực dân và ác thế lực quốc tế, Dân Tộc ta đã phải kiên cường tranh đấu để được sống-còn-nối-tiếp-tiến-hóa một cách tự chủ, theo những tiêu chuẩn đạo đức cao đẹp, những khuôn mẫu Người tuyệt vời của Tổ Tiên, kết tinh thành Lý Tưởng Việt.
Tranh đấu để Là Người đã khó. Tranh đấu để Làm Người trong điều kiện và hoàn cảnh của Người Việt Nam lại khó hơn gấp trăm lần!
Tổ Quốc ta giầu đẹp với tiền rừng bạc bể.
Đó là lý do trực tiếp của “một ngàn lẻ năm mươi lăm năm” Dân Tộc ta đã phải quằn quại dưới gông ách đô hộ diệt chủng của phong kiến phương Bắc, xuống biển mò ngọc trai, vớt san hô, lên rừng săn sừng tê, kiếm ngà voi.
Tổ Quốc ta giầu và đẹp với đồng ruộng phì nhiêu, hầm mỏ quí giá.
Đó cũng là lý do trực tiếp của “chín mươi lăm năm” Dân Tộc ta phải rên xiết trong ngục tù áp chế bóc lột của thực dân phương Tây và phải phiêu dạt đi phu trồng đồn điền, làm cu li khai thác mỏ, xa cách quê hương mồ mả gia tiên.
Người Việt nam vẫn nổi tiếng với tinh thần hiếu học, chăm chỉ, siêng năng cần cù và đảm đang.
Ngoài sự giầu và đẹp, Việt Nam còn là một vị trí chiến lược cực kỳ trọng yếu ở Đông Nam Á châu mà kẻ nào chiếm được có thể gây ảnh hưởng suốt vùng làm lệch cán cân quyền lực thế giới. Đây chính là nguyên nhân sâu xa của cuộc chiến từ 1945 cho đến ngày nay, … những năm đầu của thiên niên kỷ 2000.
Cuộc chiến đông dương chưa chấm dứt này khó hiểu vì tính chất phức tạp của những âm mưu quốc tế tranh giành quyền lợi với những lừa dối, che đậy để biến Việt Nam hết là Tiền Đồn của Thế Giới Tự Do lại làm Thành Đồng Lũy Thép cho Xã Hội Chủ Nghĩa....
Và thời điểm 1975 đã chứng kiến sự rơi mặt nạ của tập đoàn Việt gian buôn nước Việt và làm tay sai cho ngoại bang mà Việt gian Hồ chí Minh là tên Tội Đồ Phản Quốc Số Một Trong Lịch Sử Việt.
Kết quả là đất nước bị cầy sới tan hoang với 17 triệu tấn bom đạn, dân tộc bị tổn thất với hơn 20 triệu người, hàng triệu người thương tật, xã hội đảo điên, gia đình đổ vỡ, nòi giống suy nhược, nhân tâm ly tán. Và ngày nay bao nhiêu đất, bao nhiêu biển đã phải bán nhượng cho phương Bắc, bao nhiêu lao động nô lệ đã bị bán rẻ cho các thế lực quốc tế, bao nhiêu ức hiếp oan khiên đã và đang xảy ra hàng ngày trên toàn cõi Việt , bao nhiêu máu và nước mắt của dân lành dân oan đã đổ ... chưa kể âm mưu tiêu diệt nền văn minh Việt mà Tổ Tiên đã sáng tạo vun bồi suốt dọc mấy nghìn năm lịch sử đã và đang bị bè lũ tay sai Việt gian thi hành theo chỉ thỉ của Chủ-Nhân-Ông của chúng nó là Ác-thế lực ngoại bang trong âm mưu thâm độc là thống trị toàn cầu hầu đưa nhân loại vào cảnh địa ngục ở trần gian.
Lỗi tại ai?
Tại những phá hoại thâm độc của địch thù?
Đúng!
Tại những giúp đỡ thiếu thực tâm của đồng minh?
Đúng!
Nhưng còn tại những ai nữa ?
khi qui luật chủ yếu của chính trị khẳng định nguyên tắc:
“Ta là chính. Bạn và Thù đều là tùy phụ”.
Dưới con mắt công chính xét xử của lịch sử trong việc qui công và hạch tội, giới thống trị đất nước phải hoàn toàn liên đới chịu trách nhiệm. Trong trường hợp này, đó là Đảng Việt Gian Cộng Sản mà Hồ Chí Minh là Thủ lãnh và cũng là Tên Tội Đồ Phản Quốc Số Một trong Lịch Sử Việt.
Sau đây là một vài những tội trời không dung đất không tha mà tên Việt gian phản quốc số một của Lịch sử Việt và bè lũ tay sai đã làm:
Giết hại đồng bào vô tội qua chiến dịch Giảm Tô, tổn thất nhân mạng qua hai đợt đấu tố người ta ước đoán có khoảng hơn 500 ngàn người chết, vì khắp vùng nông thôn Bắc Việt, nhân dân mang toàn khăn tang trắng.
Nông dân nhiều nơi đã nổi dậy như ở Bắc Ninh , Nam Định, nhưng đảng Việt gian cộng sản đã thẳng tay dùng quân đội đàn áp giết dân!
Tháng 11/1956, nông dân 5 xã thuộc huyện Quỳnh Lưu (Nghệ An) đã bị tàn sát dã man.
Phong trào Nhân Văn – Giai Phẩm chỉ kéo dài có 3 tháng, thời gian đủ dài để đảng nhận diện và qui định thành phần kẻ thù để xử trị qua chiến dịch “cải tạo tư tưởng” cho toàn thể trí thức dù trong hay ngoài đảng Cộng sản.
Theo thống kê của Việt Nam Cộng Hòa (1973), sau 20 năm, số người di cư vào Nam là 850 ngàn đã tăng nhanh thành 3 triệu 200 ngàn. Vậy số hơn 300 ngàn người Việt miền Nam “tập kết” ra Bắc nay còn lại được bao nhiêu? Họ ở đâu? Đảng đã đãi ngộ họ như thế nào? Bao nhi êu đã bị giết hại âm thầm ?
Việt Gian Cộng Sản đã giết Đức Huỳnh Phú Sổ, giáo chủ Phật Giáo Hòa Hảo.
Việt Gian Cộng Sản đã giết nhà văn Khái Hưng, Đại Việt Dân Chính Đảng.
Việt Gian Cộng Sản đã giết nhà văn Nhượng Tống, Việt Nam Quốc Dân Đảng.
Việt Gian Cộng Sản đã giết Trương Tử Anh, lãnh tụ Đại Việt Đảng.
Việt Gian Cộng Sản đã giết Trương Anh Tự, lãnh tụ Việt Nam Dân Tộc Đảng.
......và Việt Gian Cộng Sản đã giết cả trăm ngàn đảng viên các chính đảng Quốc Gia dưới nhiều hình thức như ám sát, bắt bớ, tù đày trong lao động khổ sai, trong đói rét bệnh tật, trong tra khảo đòn thù...
....
....
Nhân nào quả nấy.
Một Định Luật bất biến của Vũ Trụ.
Gieo nhân lành thì kết hoa quả lành.
Trồng nhân ác thì nhận quả ác.
Và lý cộng nghiệp đương nhiên sẽ không buông tha bất cứ ai từ những tên chủ-nhân-ông ác-thế-lực ngoại bang, đến Việt gian Hồ chí Minh là Thủ lãnh và cũng là Tên Tội Đồ Phản Quốc Số Một trong Lịch Sử Việt, cho đến bè lũ tay sai Việt gian Cộng sản hay không Cộng sản của nó ....
Tất cả những tên đại ác này sẽ phải trả nghiệp đại ác khát máu của chúng đã làm trời sầu đất thảm ... tương xứng với sự sự việc việc dã mãn tàn nhẫn khát máu mà chúng đã và đang làm.
Xưa nay,
Lưới Trời lồng lộng, thưa nhưng không ai trốn lọt cả.
Việt gian bán nước hại dân lành, hãy trả quả đại ác do đã gieo nhân đại ác.
Tay sai Việt gian tham lam, ngu muội, a dua, hãy sám hối cầu xin chờ giảm tội.
Những người dân Việt vì tham lam, u tối, nhẹ dạ, a dua... Hãy ngưng ngay sự hợp tác làm tay sai cho Việt gian. Hãy thức tỉnh trở về với Đại Nghĩa của Dân Tộc cùng Toàn Dân đoàn kết đứng lên làm một cuộc Cách Mạng toàn diện triệt để và hướng thượng: Lấy lại đất nước Việt cho người Việt, lấy lại quyền làm Người cho người Việt.

Thái Tụ Nghĩa

Khôn nhà dại chợ

Ai cũng phải công nhận rằng đảng Cộng Sản Việt Nam có một cái tài, là tài dùng quyền lực đàn áp những người dân bình thường. Khi đảng bị các nhà trí thức phê phán, tự thấy họ không có khả năng cãi lại, có nói cũng không thể thuyết phục được ai, thì đảng giở ra những thứ võ côn đồ. Họ đã dùng đám Khuyển Ưng tới tấn công gia đình cụ Hoàng Minh Chính bằng những thứ “bom bẩn.” Bây giờ họ lại tiếp tục dùng thứ võ “thư nặc danh tố cáo” đối với ông Hà Sĩ Phu ở Ðà Lạt, như quý vị độc giả đã đọc trong lá thư ngỏ của Hà Sĩ Phu đăng trong báo Người Việt ngày hôm qua.

Ông Hà Sĩ Phu bị “tố cáo” là đã trả lời cuộc phỏng vấn của đài RFA, bầy tỏ ý kiến về mấy bức thư của cựu Thủ Tướng Võ Văn Kiệt. Nhưng cuộc phỏng vấn đã được phát thanh, ai cũng biết, nhất là công an thì lại càng biết rõ, tại sao cần có người “tố cáo?”

Chẳng qua là đảng Cộng Sản Việt Nam chỉ muốn dùng môn võ cũ kỹ, là tạo nên một thứ “sức ép của nhân dân” mỗi khi muốn đe dọa, hù họa, để đàn áp những người không tuân phục đảng. Ông Hà Sĩ Phu nhận xét rất đúng, đó là một màn “đấu tố” giống như thời cải cách ruộng đất. Ðó là chính sách do ông Hồ Chí Minh theo lệnh các cố vấn Trung Quốc “vĩ đại” phát động ở miền Bắc và miền Trung Việt Nam từ năm 1953, 1954, để tỏ lòng trung thành với tư tưởng Mao Trạch Ðông. Mao là người sáng chế ra thứ “tòa án nhân dân” để cho cán bộ xúi dục những nông dân chất phác đứng ra làm tay sai cho đảng, giết những người bị đảng nghi là có thể chống đối. Muốn giết ai, chỉ việc xúi các bần cố nông vu cáo cho họ là địa chủ, là Quốc dân đảng, là phản động, là Việt gian, vân vân. Không những một người bị giết mà cả gia đình cũng bị liên lụy, đầy đọa cả đời. Những ai đã sống qua thời đại đấu tố khủng khiếp đó đều không bao giờ quên được những thủ đoạn dã man của đội cải cách. Ai chưa biết có thể đọc lại những sách của Hoàng Văn Chí, những tiểu thuyết, ký sự của Ngô Ngọc Bội, Dương Thu Hương thì biết đấu tố là thế nào.

Những thủ đoạn mà đảng Cộng Sản đang thi thố để đe dọa các ông Hoàng Minh Chính, Hà Sĩ Phu đều là dấu tích từ thời cải cách ruộng đất để lại, một di sản của tư tưởng chính trị Mao Trạch Ðông do Hồ Chí Minh, Trường Chinh du nhập từ Trung Quốc vào Việt Nam. Người ta thường nói làm chính trị sai lầm thì làm hại cả một thế hệ. Nhưng chiến dịch phát động đấu tố của Hồ Chí Minh và Trường Chinh di hại đến ba thế hệ rồi chưa hết. Vì các cán bộ cộng sản đã thấm nhuần phương pháp đấu tố bằng tòa án nhân dân của Mao Trạch Ðông.

Ông Hà Sĩ Phu cũng kể lại tình cảnh nhà thơ Bùi Minh Quốc bị bọn lưu manh, côn đồ gọi điện thoại hăm dọa. Những lời nhắn trong máy nguyên văn như “Mày có muốn đi Mỹ với thằng Chính để liếm đít Mỹ tao cấp visa cho!” Hoặc, “Thằng Chính bị ăn đòn, mày có kinh không? Bọn phản bội chúng mày sẽ còn lãnh đủ con ạ!” Ngôn ngữ đó giống hệt thứ ngôn ngữ của tòa án nhân dân thời cải cách ruộng đất.

Ông Hà Sĩ Phu viết: “Kẻ làm việc đồi bại này muốn đóng vai “nhân dân” phẫn nộ trước những bài viết của ông Bùi Minh Quốc. Nhưng nhà thơ Bùi Minh Quốc không sợ.”

Ðảng Cộng Sản không những dùng tòa án nhân dân đối với những người ngoài không đồng ý với đảng, họ còn dùng phương pháp đấu tố để trấn áp những người trong đảng mà không theo đúng ý cấp trên. Ông Ðoàn Duy Thành đã kể lể những thủ đoạn mà Bộ Chính trị đảng Cộng Sản dùng để đàn áp ông, một đảng viên từ thời kháng chiến, đã từng là bí thư thành ủy Hải Phòng, làm Bộ trưởng Kinh tế, làm Phó Thủ tướng. Sau khi ông Ðoàn Duy Thành in mấy trăm cuốn hồi ký nhan đề “Làm người là khó,” trong đó ông kể lại trung thực những hành vi kèn cựa, di oan giá họa lẫn cho nhau của các lãnh tụ đảng Cộng Sản, trong đó nhơ bẩn nhất là những Lê Ðức Thọ, Ðỗ Mười.

Ông Ðoàn Duy Thành mới viết thêm, nêu ra những thủ đoạn “đấu tố” của guồng máy đảng nhắm vào ông trong mấy tháng qua, sau khi cuốn hồi ký ra đời. Những người được đảng Cộng Sản đưa ra đóng vai bần cố nông trong trận đấu tố này lại là những cơ quan gọi là “văn hóa, tư tưởng” của đảng!

Ðoàn Duy Thành kể: “Tuyên giáo Thành ủy Hà Nội... ghép Hồi ký của tôi... xếp tôi vào loại “phản động” như Bùi Tín. Nên rất nhiều bạn bè trong cả nước viết thư, gọi điện thoại cho tôi, người thì động viên, người thì lo lắng.” Tiếp theo là “Nguyễn Văn Thuận - Bí thư Thành ủy Hải Phòng, người được anh Ðỗ Mười đỡ đầu, đã tổ chức 3 cuộc họp lớn nói là để phổ biến Nghị quyết Trung ương lần thứ 12, nhưng tập trung nói về cuốn hồi ký của tôi có 5 sai phạm nghiêm trọng, bị thu hồi và bị thi hành kỷ luật. Cho cán bộ tuyên giáo và cán bộ công an xuống quận, huyện, xã... xuyên tạc cuốn Hồi ký của tôi và nói tôi đã trốn ra nước ngoài (!)”

Không những ông Ðoàn Duy Thành bị đấu tố, những người con của ông vốn là đảng viên từng phục vụ đảng lâu năm cũng bì trù đập, bị xóa sổ không cho tiếp tục ngồi trong giới lãnh đạo nữa. Và những bạn bè cũ của ông, những người được ông nêu tên trong cuốn hồi ký, cũng trở mặt, cải chính những điều mà họ từng nói với ông, vì họ sợ liên lụy!

Cái bệnh “sợ liên lụy” đã thấm vào não trạng các đảng viên, trong đó có những người từng là ủy viên Bộ Chính trị, khiến họ quay đầu chối bỏ chính họ, mà cái tội của họ chỉ là tội nói thật. Căn bệnh này khiến con người mất cả tư cách, cũng do tính “sợ” sinh ra. Người ta từ bỏ danh dự, phản bội bạn bè, chối từ phẩm cách, chỉ vì sợ. Và tính sợ đó là hậu quả của thời cải cách ruộng đất còn để lại. Khi một người bị “đội cải cách” đem ra đấu thì mất hết bạn bè, anh em, vợ con, họ hàng cũng từ bỏ. Ðó chính là một “di sản văn hóa Mao Trạch Ðông” trong triều đại Hồ Chí Minh, được Trường Chinh và Lê Duẩn phát triển thành một nếp sống quen thuộc của các cán bộ cộng sản Việt Nam, dù có người đã lên đến cấp cao bậc nhất trong đảng.

Những trận đấu tố của đảng Cộng Sản Việt Nam nhắm vào Hoàng Minh Chính, Hà Sĩ Phu, cho tới Ðoàn Duy Thành, cho thấy những món võ do Hồ Chí Minh để lại vẫn còn có công dụng và có thể còn hiệu quả. Vì những người bị đấu đang bị cô lập, dễ dàng bị đảng thủ tiêu về mặt chính trị.

Ðấu tố là một sở trường của đảng Cộng Sản Việt Nam. Nhưng khi ra đối đáp với người ngoài thì phương pháp đó không còn hiệu nghiệm nữa, không bao giờ dùng được. Thí dụ cụ thể trước mắt là việc đàm phán để cho Việt Nam được gia nhập Tổ chức Mậu dịch Thế giới (WTO). Trong mấy ngày hôm nay, gần 150 nước trong WTO đang họp ở Hương Cảng, một số nước như Á rập Sau-đi sắp được chính thức gia nhập tổ chức thương mại tự do quốc tế này. Còn Việt Nam thì sau hơn 2 năm thương thuyết, vẫn còn đứng ngoài cửa.

Việc tham dự vào WTO là một điều kiện cần thiết để phát triển kinh tế Việt Nam và bảo vệ chủ quyền Việt Nam. Ai cũng biết là các nước kém mở mang cần bán hàng cho các nước khác để cho các xí nghiệp của mình lớn mạnh hơn, nước nào vào được WTO sẽ được đối xử bình đẳng với 150 quốc gia khác trong việc xuất, nhập cảng. Những nước nghèo, yếu thì được cho hưởng những điều kiện ưu đãi trong những năm mới gia nhập, để có thể cạnh tranh với các nước đã mạnh. Khi đã vào WTO rồi, một quốc gia được đối xử ngang hàng với 150 quốc gia khác, không nước nào có thể chèn ép trên mặt thương mại, vì sẽ kiện nhau ra trước WTO. Khi đó, chủ quyền quốc gia cũng được bảo vệ nhờ luật pháp quốc tế. Những điều kiện gia nhập WTO thay đổi thường xuyên, càng ngày càng khó khăn hơn, vì chính những nước nghèo đã ở bên trong cũng muốn chèn ép các nước còn đứng ngoài, để riêng họ được hưởng các ưu đãi. Nghĩa là càng gia nhập sớm càng tốt, chậm năm nào thiệt thòi năm đó.

Tại sao Việt Nam chậm chân như thế này? Trước hết, muốn vào WTO phải đi qua những thỏa hiệp song phương với các quốc gia lớn về kinh tế, một cái cửa bắt buộc phải đi qua là thỏa hiệp được với nước Mỹ. Ngay từ năm 1997, Việt Nam đã chậm chân trong việc bình thường hóa thương mại với Mỹ chỉ vì bị Trung Quốc đánh lừa. Ðảng Cộng Sản Việt Nam cứ tin tưởng vào các đồng chí phương Bắc, đưa ra những điều kiện khó khăn, làm cao, trong lúc thương thuyết với chính phủ Mỹ. Bất ngờ, chính phủ Trung Quốc lại nhượng bộ Mỹ và tiến tới việc ký kết những thỏa hiệp song phương, lúc đó Cộng Sản Việt Nam mới biết họ bị đàn anh gạt. Thế là trong lúc Trung Quốc ký được thỏa hiệp với Mỹ vào năm 1999, gia nhập WTO vào tháng 12 năm 2001 sau 15 năm thương thuyết, thì Việt Nam vẫn đứng ngoài mà trông.

Nhưng từ khi có hiệp ước thương mại Việt Mỹ rồi, việc thương thuyết với Mỹ để vào WTO vẫn không tiến được, vì chính trong nội bộ đảng Cộng Sản Việt Nam chưa thống nhất ý chí và lập trường. Trong các cuộc thương thuyết, mỗi phái đoàn cộng sản Việt Nam có những mục tiêu riêng, mỗi bộ, mỗi ngành có đề tài và các điều kiện riêng, và họ chỉ chú ý tranh cãi với những chiến thuật nhỏ nhặt chứ không có chiến lược toàn diện, không có đường lối, mục tiêu chung; trước mỗi quyết định lại phải hoãn, xin về nhà lãnh chỉ thị. Một giáo sư kinh tế, ông Ari Kokko nhận xét, “Ðiều này giống như tôi vào siêu thị... và bắt đầu mặc cả. Sau khi thỏa thuận tôi nói, Tôi cần về xin ý kiến vợ!” Một chuyên gia kinh tế khác ví, “Thời đại này, anh đi mua hàng thấy giá đề 100 đồng mà anh trả giá từ 10 đồng trở lên thì không thể mua hàng được!”

Chính vì chính quyền cộng sản không quyết tâm, thiếu chiến lược, cứ mặc cả như đi chợ nhà quê, cho nên không đạt được thỏa thuận với Mỹ, năm nay Việt Nam vẫn chưa được vào WTO. Bây giờ chỉ có đứng ngoài mà than rằng bị Mỹ làm khó dễ. Nhưng đợi càng lâu thì các điều kiện gia nhập WTO càng khó khăn hơn. Thiệt hại kinh tế, toàn thể dân Việt Nam phải chịu. Còn đối với đảng Cộng Sản, càng chậm hội nhập quốc tế có khi càng tốt cho họ. Họ cần thời giờ để củng cố địa vị, bảo vệ các quyền lợi của giới lãnh đạo, những mục tiêu đó đâu cần phải vào WTO mới làm được? Muốn bảo vệ chế độ, họ chỉ cần dùng các thủ đoạn đấu tố cũ từ thời cải cách ruộng đất, dùng tư tưởng Mao Trạch Ðông mà đàn áp những người không đồng ý, dù ở ngoài hay ở trong đảng. Ra bên ngoài có thất bại, nhưng bên trong đảng vẫn vững chân là được. Khôn nhà, dại chợ, điều đó đảng Cộng Sản không lo.

NND

Quá trình tội ác của Hồ chí Minh

Thực chất của “ông tiên”, “hiền triết phương đông”, “anh hùng giải phóng dân tộc”, “lãnh đạo tầm cỡ quốc tế tài ba” của Lữ Phương là gì?

Khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, trong lúc các vua quan đương chức, các nho sỹ, nông dân v.v… đều tổ chức chống Pháp liên tục cho đến 1945-46, rồi lại tiếp tục từ đó theo các phương thức khác nhau, thì, bố của Hồ xin được làm tay sai cho Pháp và Hồ được học ở Quốc Tử Huế. Chính là từ điểm xuất phát ở Quốc Tử Huế, “cậu ấm” Hồ chí Minh đã trổ mầm của giấc mộng làm “cha mẹ dân Việt Nam” (dân chi phụ mẫu). Bố Hồ, vốn tính hung hăng, rượu chè nên khi làm tri huyện Bình Khê (Bình-định), say rượu đánh chết dân lành bị kiện. Vì mới đặt ách đô hộ nên thực dân Pháp mị dân, cách quan của bố Hồ. Và, “cậu ấm” Hồ chí Minh bị đuổi khỏi Quốc Tử Huế, ngậm ngùi ôm giấc mộng “làm cha của dân” lang thang vào phía Nam. Cả hai cha con hổ thẹn đâu dám về quê nhà ở Nghệ-an.

Với hy vọng nếu sang mẫu quốc Pháp, bày tỏ tinh thần khuyển mã, chắc sẽ được trọng dụng. Cho nên chân ướt chân ráo tới cảng Marseille, Hồ đã vội làm đơn xin được học ở trường thuộc địa để “phục vụ mẫu quốc Pháp”. Bị từ chối vì là con quan bị cách, Hồ lang thang kiếm sống. Hồ may mắn gặp được các cụ Phan văn Trường, Phan chu Trinh, Nguyễn thế Truyền v.v… giúp đỡ và giác ngộ cái thân nô lệ để tìm cách giành lại độc lập cho Việt Nam. Các cụ đối với Hồ rất chí tình, nhưng Hồ không thể theo đường lối của các cụ được. Vì như thế thì lợi cho dân cho nước nhiều, chứ Hồ chưa thỏa được tham vọng. Nhờ có các cụ dìu dắt nên Hồ mới làm quen với báo chí và chính trị. Cuối cùng, Hồ đã chọn con đường của quốc tế 3 (công cụ chiến lược của Lê-nin), vì quốc tế 3 chủ trương giúp các thuộc địa giành độc lập (thực chất là để ngả vào chủ nghĩa thực dân đỏ của Lê-nin). Chính Hồ đã viết rằng Hồ còn dốt nát về chính trị, về các học thuyết, nhưng lựa theo quốc tế 3 vì chủ trương của quốc tế 3 mở lối cho Hồ thực hiện được ước vọng “làm cha mẹ của dân Việt Nam”.

Cho nên cái gọi là “Hồ đi tìm đường cứu nước”, chính là tìm đường làm quan. Bị thực dân Pháp từ chối, nay được thực dân đỏ đón nhận nên Hồ đã mừng reo lên và tuôn nước mắt (Hồ đã dại dột bộc lộ cái kẽ hở đó).

Được thực dân đỏ huấn luyện làm gián điệp và biên chế trong Cục Phương Đông. Năm 1925, Hồ được cử về Đông-nam-á. Chính ở đây đã có bằng chứng bản chất Việt gian bán nước của Hồ. Đó là Hồ bán cụ Phan Bội Châu cho mật thám Pháp, lấy tiền xài sang. Sau vụ bán cụ Phan Bội Châu, từ Tàu, Hồ qua Thái-lan 1928. ở đây Hồ lại làm một hành động Việt gian nữa. Chẳng là lãnh tụ Nguyễn Thái Học của VNQDĐ, đang chuẩn bị khởi nghĩa đuổi thực dân Pháp, nên cử ba người sang Thái-lan móc nối mua vũ khí và họ đã tìm gặp những người Việt tại Thái-lan. Trong số đó có Hoàng văn Hoan và Nguyễn đức Quỳ. Tới Thái-lan, Hồ được Hoan và Quỳ cho biết người của VNQDĐ tìm mua vũ khí để chuẩn bị khởi nghĩa. Hồ khuyên Hoan và Quỳ đừng nên dính vào việc nguy hiểm này trước khi từ giã Thái-lan, qua Tàu trở lại. Ba người của VNQDĐ từ Thái trở về Việt Nam, qua biên giới thì bị mật thám thực dân Pháp đã đón sẵn, bắt đưa vào tù, tra tấn, hỏi cung. Biết VNQDĐ định khởi nghĩa, thực dân Pháp cảnh giác tước vũ khí binh sĩ người Việt. Đó là nguyên nhân lãnh tụ liệt sỹ vĩ đại của dân tộc, Nguyễn Thái Học, đành hạ lệnh tổng khởi nghĩa dù việc chuẩn bị chưa xong.

Chẳng cần úp mở cũng đoán biết là ai là kẻ báo cho mật thám Pháp bắt ba người của VNQDĐ từ Thái-lan trở về. Việc bán cụ Phan Bội Châu và dẫn chứng nói trên – lấy từ hồi ký của Hoàng văn Hoan và của Nguyễn đức Quỳ – cho phép ta khẳng định: Hồ là kẻ mượn tay thực dân Pháp phá cuộc khởi nghĩa của VNQDĐ. Vì, sự thành công của VNQDĐ sẽ là trở ngại cho việc xâm lược kiểu mới của thực dân đỏ cũng như chỗ ngồi “làm cha mẹ dân” của Hồ.

Chính vì biết dự định khởi nghĩa của VNQDĐ, nên chưa kịp nhận lệnh của quốc tế 3 Hồ đã tập hợp những tên cộng sản Việt Nam, cho ra đời cái gọi là “đảng cộng sản Việt Nam”. Sau đó lệnh của quốc tế 3 đến bắt đổi thành “đảng cộng sản Đông-dương” mà gọi tên với đúng nội dung của nó phải là: “Tổ chức công dân búa liềm, công cụ xâm lược của thực dân Đỏ”. Và, chúng vội vàng đẻ non ra vụ cướp ngày có tên là: “Xô Viết Nghệ Tĩnh 1930”.

Xô Viết Nghệ Tĩnh 1930 đã lòi đuôi cái gọi là “đảng cộng sản Đông-dương” (hay tập đoàn công dân búa liềm) là công cụ của thực dân đỏ, qua khẩu hiệu đầy màu sắc Việt gian là:

“Trí, phú, địa, hào
Đào tận gốc, trốc tận rễ”!!!

Nếu bốn tầng lớp “trí, phú, địa, hào” của Việt Nam mà bị tiêu diệt thì xã hội Việt Nam còn lại cái gì? Thật là dễ dàng cho thực dân đỏ xâm lược và đồng hóa toàn diện. Chiến lược của thực dân đỏ vừa thâm độc vừa tàn bạo hơn bất cứ tụi xâm lược nào trong lịch sử loài người.

Khẩu hiệu trên chỉ có thể là kim chỉ nam hành động của loại “anh hùng giải phóng dân tộc”, của “ông tiên”, của “hiền triết phương đông” qua lăng kính Lữ Phương và bè lũ đồng dạng mà thôi!

Vài năm sau Hồ làm cái việc bán Lê hồng Phong cho thực dân Pháp như đã viết ở trên (vì thù riêng). Sợ tội với quan thầy, Hồ đành lang thang bên Tàu, không dám trở lại Nga-xô. Bởi vì, Lê hồng Phong mới chính là kẻ mà tụi thực dân đỏ tin tưởng và đào tạo thành tay sai số một sau này, nếu khi Việt Nam bị nhuộm đỏ, chứ không phải là Hồ. Đánh bóng và tạo uy tín cho tay sai Lê hồng Phong, thực dân đỏ đã phong cho hắn chức ủy viên trung ương dự khuyết của quốc tế 3 và chỉ định về làm tổng bí thư của đảng cộng sản Đông-dương.

Thời gian ở Tàu, Hồ đã trực tiếp móc nối được với Phạm văn Đồng; với Võ nguyên Giáp (con nuôi chánh cẩm thực dân Pháp, tên là Marti), kẻ cũng có đơn xin được tiếp tục học để phục vụ mẫu quốc Pháp; với Hoàng văn Hoan mà Hồ gặp khi qua Thái-lan. Về sau, cả ba tên này đều được Hồ ưu đãi cho vào bộ chính trị (hậu thân của khái niệm “chủ tịch đoàn” trước kia) và Đồng làm thủ tướng ngụy quyền Hà-nội; Giáp làm đại tướng tổng tư lệnh ngụy quân; Hoan vừa phụ trách an ninh, tình báo vừa giữ ghế phó chủ tịch quốc hội do Hồ đẻ ra. Hoan còn là phái viên của Hồ bên Trung cộng, nghĩa là theo cách gọi của ngụy quyền Hà-nội: đại sứ đặc mệnh toàn quyền (bán nước)!!!

Thế chiến thứ hai xảy ra, thực dân đỏ tạm ngưng nước cờ xâm lược và cũng quên Hồ luôn. Lang thang bên Tàu như chó lạc chủ, nhưng cái bản chất lưu manh do nghề gián điệp càng thêm phát triển, Hồ làm gián điệp cho Mao, theo rõi quân Tưởng; rồi lại làm tay sai cho tướng Trương phát Khuê của Tưởng để báo cáo tình hình hoạt động của người Việt ở Tàu, phục vụ cho kế hoạch “Hoa quân nhập Việt”. Bị tố giác là cộng sản – tay sai của thực dân đỏ – nên Hồ bị Trương phát Khuê cho dzô tù.

Nhờ cụ Hồ Học Lãm, một người Việt Nam yêu nước chân chính, cha đẻ của tổ chức “Việt Nam Độc lập Đồng minh”, ra đời từ 1936, có báo cáo xin chính thức hoạt động, gửi cho văn phòng trung ương quốc dân đảng của Tàu, cùng với cụ Nguyễn Hải Thần bảo lãnh, nên sau khi làm kiểm điểm phản tỉnh, Hồ được Trương phát Khuê cho ra khỏi tù. Tổ chức Việt Nam Độc lập Đồng minh do các cụ Hồ Học Lãm, Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh v.v… tiếp tục hoạt động. Hồ xin gia nhập nhưng vẫn sợ Trương phát Khuê bắt tù lại nên láu cá xin được về hoạt động ở biên giới quốc nội. Với danh nghĩa Việt Nam Độc lập Đồng minh (tập hợp của nhiều nhóm người VIệt ở Tàu làm cách mạng), khi về biên giới, gặp đoàn thanh niên do tổ chức của cụ Nguyễn Hải Thần móc nối cho qua Tàu để huấn luyện, Hồ bịa đặt rằng hắn là đại diện của cụ Nguyễn Hải Thần, thâu nhận nhóm đó mở lớp giảng về tôn chỉ hoạt động của Việt Nam Độc lập Đồng minh (sau gọi tắt là Việt Minh) và cho về nước hoạt động. Nhóm đó gồm: Chu văn Tấn, Lê quảng Ba, Trần đại Lâm v.v… (tham khảo hồi ký của bọn này sẽ rõ).

Đúng vào thời kỳ đó, ở Việt Nam, tổ chức cộng sản bị thực dân bắt gần hết bọn đầu lãnh trung ương, chỉ còn lại vài mống là Trường chinh, Lê văn Lương, Hoàng quốc Việt. Sau đó thêm Phùng chí Kiên, được thực dân đỏ cho về bổ sung vào trung ương để tổ chức lực lượng vũ trang. Chức tổng bí thư bị khuyết. Đào duy Tùng, tên chánh tổng ác ôn được móc nối vào cộng sản và giữ chức bí thư tỉnh ủy cộng sản ở Hưng-yên (Bắc Việt) có sáng kiến đề nghị Trường Chinh giữ chức quyền tổng bí thư. Cái chức này của Trường Chinh chỉ do dăm tên cộng sản ở Hưng-yên bầu ra mà thôi, nghĩa là chưa đúng điều lệ. Trường Chinh sướng rên lên về cái chức bố láo đó, nhưng vẫn nơm nớp sợ rớt đài.

May thay cho cả Hồ và Trường Chinh. Thấy núp dưới danh nghĩa Việt Minh của cụ Hồ Học Lãm có kết quả tốt. Họ Hồ bèn dùng danh nghĩa phái viên Cục Phương Đông mời Trường Chinh lên biên giới Cao-bằng họp. Trường Chinh gọi cả Hoàng quốc Việt đi theo. Hồ biết Trường Chinh là tổng bí thư bố láo. Trường Chinh cũng biết Hồ là tên “thất sủng và thất nghiệp” mượn danh nghĩa cũ là phái viên Cục Phương Đông để lòe nhau. Biết tẩy của nhau nên cả hai cùng lật bài: Trường Chinh thì công nhận Hồ là phái viên Cục Phương Đông cử về. Còn Hồ thì nhân danh phái viên Cục Phương Đông, hợp pháp hóa cái chức tổng bí thư cho Trường Chinh. Khi biết Hồ có ý “định cư” hẳn ở Cao-bằng, Trường Chinh sợ Hồ có uy tín hơn Trường Chinh, sẽ tóm thâu quyền lực của Trường Chinh. Đó là lý do khi Hoàng quốc Việt bị lạc đường nên đến chỗ họp sau Trường Chinh vài ngày. Lần đầu tiên gặp Hồ, Việt chưa biết xưng hô thế nào thì Trường Chinh nhanh mồm bảo Việt gọi Hồ là “bác”. Cùng là cộng sản mà không xưng hô “đồng chí” nên Hồ láu cá hiểu ngay ý đồ của Trường Chinh là muốn Hồ giữ một khoảng cách, là cố vấn thôi, chứ đừng đi sâu vào công việc của Trường Chinh, vì qua báo cáo của Trần Phú, Hà huy Tập gửi quốc tế 3, Trường Chinh biết Hồ là kẻ đầy tham vọng, mưu mô, lạm quyền. Đó là lý do Hồ phải nằm trong hang Pắc-bó, lén lút kết thân với nhóm Chu văn Tấn, Lê quảng Ba v.v… vốn là người dân tộc thiểu số, đã được Hồ dạy khi Hồ xin với các cụ Hồ Học Lãm, Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh về gây phong trào Việt Minh ở quốc nội, gặp bọn họ ở biên giới. Rồi để cho Trường Chinh yên lòng và cũng là tạo ra bằng cớ cụ thể, chứng tỏ Hồ, dù mạo muội hãm hại Lê hồng Phong, nhưng lòng Hồ lúc nào cũng hướng về mẫu quốc đỏ, về nguyên thủ của thực dân đỏ, về cái “quốc tịch Nga-xô” của Hồ. Cho nên Hồ để râu, nằm ở Pắc-bó dịch cuốn “lịch sử đảng cộng sản Nga, bolchévik”; dịch cuốn “tỉnh ủy bí mật” là của Nga-xô. Và Việt gian nhất là dám lấy tên Lê-nin đặt cho dòng suối chảy ngang cửa hang Pắc-bó, cũng như tạc vào đá, tượng của Các-mác!!!

Việc làm này của Hồ chứng tỏ cái gì?

Việt Nam ta có câu:

“Công Cha như núi Thái sơn

Nghĩa Mẹ như nước trong nguồn chảy ra”.

Thế nghĩa là Hồ coi Mác là cha và Lê-nin là mẹ của Hồ, phải luôn có hiếu với cha mẹ. Và, Hồ đã coi đảng cộng sản Nga là tổ chức của Hồ, Nga-xô là tổ quốc của Hồ cũng như hoạt động của một “tỉnh ủy Nga-xô” cũng đủ là bậc thầy của Hồ. Và, Hồ tự thú: dùng tài liệu dịch đó để huấn luyện cán bộ của đảng (tức tụi cộng sản). Nghĩa là làm sao cho toàn thể đảng viên cộng sản phải có quan niệm như Hồ về Mác, về Lê-nin, về nước Nga-xô.

Chưa cầm quyền, vậy mà Hồ đã dám tự cho phép dán nhãn Nga-xô trên một bộ phận lãnh thổ của Việt Nam! Chẳng hiểu Lữ Phương có dám nhìn vào cái sự thật rành rành đó không, mà dám hạ bút đội tên “mãi quốc cầu vinh” thành “anh hùng giải phóng dân tộc” và “lãnh tụ quốc tế tài ba” v.v…

Cho dù trong bài viết của mình, Lữ Phương có đan xen một số phê bình về đường lối của Hồ, nhưng quả thực những cái nhãn mà Lữ Phương dán cho Hồ đã nâng Hồ lên địa vị mà không một anh hùng nào trong lịch sử Việt Nam sánh bằng.

Các anh Hùng giải phóng dân tộc của Việt Nam như Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung còn thua cái vế “quốc tế tài ba” mà Lữ Phương dâng cho Hồ.

Sau này, khi đã tiếm được quyền thống trị, trong khi Hồ khúm núm nâng Vorosilov (chủ tịch quốc hội Nga-xô, lớn hơn Hồ hai tuổi) là cố, tức là ông nội của ông nội Hồ, thì Hồ xấc xược “bác bác, tôi tôi” với Đức Thánh Trần Hưng Đạo (chỉ riêng tuổi đời đã hơn Hồ gần 6 thế kỷ) và Tố Hữu thì, “anh anh, tôi tôi” với đại thi hào Nguyễn Du, còn với Stalin thì hắn gọi “ông” (theo cách ông nội). Kẽ hở của Hồ và Tố Hữu rành rành chứng minh rằng bọn chúng và cái tập đoàn mafia cộng sản của chúng không phải là người Việt Nam, không tự hào là người Việt Nam, nên chúng mới coi thường, hỗn láo với danh nhân Việt Nam, với ông, cha của nhân dân Việt Nam.

Còn một dẫn chứng nữa chứng minh Lữ Phương mù lòa trí tuệ. Đó là năm 1945, bác sỹ Trần Văn Lai – trong chính phủ của cụ Trần Trọng Kim – là người Việt Nam đầu tiên làm thứ trưởng Hà-nội, đã cho phá bỏ tượng toàn quyền thực dân Pháp ở Đông-dương, tên là Paulbert. Đó là điểm khởi đầu biểu tượng sự sụp đổ của thực dân Pháp ở Việt Nam. Còn tập đoàn mafia cộng sản thì sao? Chúng đã đặt tên cho công viên lớn và đẹp nhất Hà-nội là “công viên Lê-nin” và dựng tượng Lê-nin – biểu tượng sự thành công của thực dân đỏ ở Việt Nam. Nhân dân Việt Nam (trong đó không có Lữ Phương) đã thấy điều đó nên đã đội vào đầu Lê-nin cái nón cối thủng, khoác cho tượng Lê-nin chiếc áo “đại cán” cộng sản hay mặc (mà hiện Đỗ Mười vẫn long trọng mặc kiểu áo đó) và chất vấn tập đoàn mafia cộng sản rằng:

“Lê-nin quê ở nước Nga
Cớ sao lại đứng vườn hoa nước này?”…

Viết đề cương về Hồ mà Lữ Phương không biết đến sự thực thời sự này thì quả là dốt nát, vô trách nhiệm. Hoặc giả Lữ Phương cố tình bỏ qua để chạy tội cho Hồ và cái tập đoàn vong quốc cộng sản của Hồ, nhằm lừa đảo thiên hạ, nhất là bạn trẻ. Cách viết tài liệu xuyên tạc như vậy mà Lữ Phương dám “vừa đánh trống vừa ăn cướp” để kêu gọi nên có “một cái nhìn công bằng là một cái nhìn hiện thưc về nhân vật này (tức Hồ)”! Rõ là thảm hại cho loại trí thức kiểu này, mà Mao trạch Đông từng nói là “không bằng cục phân”!!!

Xin viết tiếp về Hồ.

Lại nói cái ngày đầu tiên Hồ gặp Võ nguyên Giáp ở bên Tàu, hỏi về lý lịch của Giáp, Hồ đã thấy Giáp sẽ là con bài tẩy sau này nên khuyên Giáp theo học trường võ bị Hoàng Phố.

Khi biết Nga-xô cử Phùng chí Kiên bổ sung vào trung ương mafia cộng sản Đông-dương, đặc trách về quân sự. Hồ lo lắng lắm. Hắn vội “lệnh” cho Giáp bỏ học về nước ngay để xin làm dưới quyền Kiên (nhờ cái vốn quân sự mấy tháng ở Hoàng Phố). Vì sao Hồ ngại Kiên? Chính vì Phùng chí Kiên, trước đó giữ chức trưởng ban đối ngoại thay Hà huy Tập (vì Tập lên chức tổng bí thư), nên Kiên – qua Tập – biết về nhân cách, tham vọng tàn bạo của Hồ. Vì chính Tập đã báo cáo với quốc tế 3 rằng:

1- Hồ hay lạm quyền, nhận báo cáo của trung ương cộng sản lúc đó, tự ý găm lại; tự ý giả danh theo lệnh của quốc tế 3 ra chỉ thị cho bọn Tập để lấy le;

2- Hồ đã tự ý liên lạc với Ngô đức Trị, khi đó là một ủy viên trung ương của nhóm Tập, nhằm gây bè phái để Hồ dễ lũng đoạn, nắm sự lãnh đạo của trung ương mafia cộng sản lúc đó. Cần lưu ý rằng, Hồ tuy được Cục Phương Đông sử dụng làm phái viên liên lạc với mafia cộng sản Đông-dương, nhưng chưa bao giờ Nga-xô cho hắn cái chức trung ương ủy viên của mafia cộng sản Đông-dương. Một không may cho Hồ là khi đó Ngô đức Trị bị thực dân Pháp bắt và Trị đã khai hết và chỉ chỗ cho Pháp bắt cả Trần Phú – tổng bí thư đầu tiên của mafia cộng sản Đông-dương – vào đúng lúc báo cáo của Hồ gửi tới quốc tế 3, trong đó Hồ ca ngợi Ngô đức Trị hết lời và gợi ý nên để Trị giữ chức tổng bí thư mới xứng với “tài trí và năng lực lãnh đạo” của Trị.

Hồ rất ghét Trần Phú vì nhiều lần Phú đã báo cáo quốc tế 3 về tội ba hoa, hám quyền lực và nhất là vô nguyên tắc của Hồ. Cụ thể là bọn Phú móc nối thanh niên trong nước (phần lớn ở vùng Nghệ-Tĩnh) đưa sang Tàu để huấn luyện. Đáng ra Hồ chỉ căn cứ vào sự giới thiệu của bọn Trần Phú mà giúp đỡ những thanh niên đó, nhưng chẳng biết Hồ có âm mưu gì khi bắt những thanh niên còn khờ khạo này phải khai đủ cả quan hệ gia đình, bạn bè mà phải nói rõ tên tuổi cùng chỗ ở của những người trong mối quan hệ đó. Để rồi tự dưng phần lớn gia đình, bạn bè của những người đó đang ở quê nhà bị thực dân Pháp bắt, cũng như đa số bọn họ sau khi được huấn luyện cho về hoặt động trong nước đều bị thực dân Pháp tóm gọn cho đi tù. Và, qua báo cáo của Phú gửi quốc tế

3, Phú đã nêu nghi ngờ về Hồ! Nhất là Hồ rất thân với Lâm đức Thụ (tức Nguyễn công Viễn), một chỉ điểm của mật thám Pháp!

Hồ còn ngán Phùng chí Kiên vì Kiên được quốc tế 3 tín nhiệm hơn Hồ, hơn nữa nếu Kiên nắm giữ lực lượng vũ trang thì làm sao Hồ có thể nuôi cái mộng làm lãnh tụ tối cao của mafia đỏ được.

Cho nên khi Giáp về giúp việc cho Kiên thì chẳng rõ từ ai mà Pháp biết được ngày, giờ, địa điểm của Kiên qua lại, để tổ chức phục kích và đã bắn chết Kiên (vì Kiên chống cự và bỏ chạy). Đó là giữa năm 1944. Vì thế, Giáp, là người duy nhất có qua lớp quân sự ở Hoàng Phố, trong cái lực lượng vũ trang mafia đỏ đó, được đôn lên làm trung đội trưởng của trung đội vũ trang duy nhất này, và Chu văn Tấn, xuất thân là đội của lính dõng, giữ chức chính trị viên. Và, ngày 22-12-1944, tại Tân Trào, Hoàng quốc Việt thay mặt Trường Chinh, làm lễ trao cờ và trao nhiệm vụ cho Giáp, Chu văn Tấn và cái trung đội ấy.

Cái chết của Phùng chí Kiên rất mờ ám, nên khi Hồ tiếm được quyền lực cao nhất của của mafia đỏ, bộ máy tuyên truyền xuyên tạc của Hồ đã né tránh việc này. Vốn gốc gác là gián điệp và chỉ điểm cũng như quá trình dùng Pháp thủ tiêu những đối thủ của mình, cho nên có thể kết luận rằng việc Pháp biết đường đi nước bước của Kiên là do Hồ trực tiếp chỉ điểm hoặc qua Giáp để thủ tiêu Kiên, kẻ biết quá nhiều bỉ ổi của Hồ và là vật cản lối của Hồ.

Tất cả những báo cáo nói trên của Trần Phú và Hà huy Tập gửi quốc tế 3 vẫn còn ở kho lưu trữ của trung ương cộng sản Nga-xô (cũ).

Giờ xin tóm lược những hành động chính yếu của Hồ tiếp theo đó cho đến ngày hắn ngỏm, mà theo ngôn ngữ khuyển mã của hắn, viết trong di chúc rằng: “đi thăm các cụ Các-mác và Lê-nin”. Đến chết mà hắn vẫn một lòng một dạ ôm ấp “bố Mác” và “mẹ Lê-nin” của hắn, chứ có nói gì đến tổ tiên Việt Nam đâu!

Núp dưới danh nghĩa Việt Minh và chính phủ Liên hiệp của nhiều đảng phái không cộng sản; lợi dụng sự ngu xuẩn chính trị của chính phủ Pháp lúc đó cứ muốn duy trì chủ nghĩa thực dân, và lợi dụng tinh thần xả thân vì nước của nhân dân Việt Nam, đồng thời che đậy lốt quỷ đỏ của hắn bằng cách “giải tán đảng cộng sản Đông-dương”, Hồ đã tập trung mọi cố gắng để nắm lấy lực lượng vũ trang.

Qua biên bản các cuộc họp chính phủ (1945-46) hiện còn lưu trữ trong cái gọi là “bảo tàng Hồ chí Minh”, thì thấy, thoạt đầu Hồ núp dưới danh nghĩa Chính phủ

VIỆT NAM : CHẾ ĐỘ BỊ LÊN ÁN



Photo 2: Nạn nhân của cuộc đàn áp bằng xe tăng tại Thiên An Môn, Trung quốc
Photo 1: Các nạn nhân của cuộc tàn sát của Việt cộng tại Huế Tết Mậu Thân 1968

VIỆT NAM : CHẾ ĐỘ BỊ LÊN ÁN
Cựu Tù Chính trị Trần Tử Thanh : “CSVN Đã Hành hạ Tinh thần và Thể xác Người tù Dã man và Tàn bạo Chưa Từng Có.”

Phạm Trần

Hoa Thịnh Đốn.- Nhà nước Việt Nam là một trong các Chế độ Cộng sản bị Tổng thống George W. Bush lên án trước lương tâm nhân loại trong buổi lễ khánh thành Đài tưởng niệm các nạn nhân của Chủ nghĩa Cộng sản hôm Thứ Ba, 12-6 (2007), tại Thủ đô Hoa Thịnh Đốn.

Ông nói : “Số người chết vì Chủ nghĩa Cộng sản nhiều không tưởng tượng nổi, nhiều đến nỗi không có thể đếm dược chính xác là bao nhiêu. Theo những ước tính khoa học nhất thì Chủ nghĩa Cộng sản đã cướp đi mạng sống của hàng chục triệu người ở Trung Hoa và Liên Bang Sô Viết, hàng triệu người khác tại Bắc Hàn, Cao Miên, Afghanistan, Việt Nam, Đông Âu và những nơi khác trên thế giới.”

(The sheer numbers of those killed in Communism's name are staggering, so large that a precise count is impossible. According to the best scholarly estimate, Communism took the lives of tens of millions of people in China and the Soviet Union, and millions more in North Korea, Cambodia, Africa, Afghanistan, Vietnam, Eastern Europe, and other parts of the globe.)

Đây là lần thứ hai trong vòng một tuần lễ, Cộng sản Việt Nam đã bị Tổng thống Mỹ “vạch mặt chỉ tên” trước công luận thế giới. Trong Diễn văn đọc tại Prague, thủ đô Cộng hoà Czech hôm 5-6 (2007) , ông Bush đã chỉ trích Việt Nam vi phạm nhân quyền, tước đoạt quyền tự do của dân và tiếp tục đàn áp, bắt giam nhiều người bất đồng chính kiến.

Hai việc xẩy ra trước ngày Chủ tịch Nhà nước CSVN Nguyễn Minh Triết thăm Mỹ từ 18 đến 23 (6-2007) là điềm xấu cho chế độ, nhưng tại sao Triết vẫn cứ cố đấm ăn xôi ?

Câu trả lời có tính thuyết phục nhất vì Việt Nam cần Mỹ đầu tư nhiều hơn vào thị trường Việt Nam, nhất là trong lĩnh vực Khoa học và Kỹ thuật, để giúp Việt Nam canh tân hội nhập Thế giới mau hơn.

Bằng chứng như Thống tấn xã Việt Nam (TTXVN) đưa tin ngày 13/6 (2007) : “Theo thống kê từ Cục đầu tư Nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), nếu như trong giai đoạn 1988-2004, đầu tư của Mỹ vào Việt Nam mới đạt khoảng 1,3 tỷ USD, đứng thứ 11 trong số các quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam, thì đến nay, các nhà đầu tư Mỹ đã vươn lên vị trí thứ 8, với tổng số vốn 4,3 tỷ USD (tính cả số dự án đầu tư từ nước thứ ba).”

“Một quan chức Cục đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) nhận xét, những con số thống kê và nhất là những chuyến khảo sát tìm kiếm cơ hội hợp tác kinh doanh của các doanh nghiệp Mỹ diễn ra nhộn nhịp trong thời gian gần đây cho thấy Việt Nam đang là một trong nhưng tâm điểm của các nhà đầu tư nước này. Dự kiến năm 2007, tổng đầu tư của Mỹ vào Việt Nam có thể đạt trên 8 tỷ USD, tăng gấp đôi so với năm trước.”

“Các dự án đầu tư của Mỹ tại Việt Nam tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực công nghiệp, xây dựng, dầu khí, nông-lâm-ngư nghiệp, đặc biệt là công nghệ cao. Trong số đó, nhiều dự án đã và đang được tiếp tục tăng vốn mở rộng sản xuất với quy mô lớn ở Việt Nam. Chẳng hạn như Tập đoàn Intel, chỉ sau 9 tháng nhận giấy phép đầu tư đã nâng tổng vốn từ 605 triệu USD lên 1 tỷ USD để xây dựng nhà máy lắp ráp và kiểm định chíp tại Khu Công nghệ cao thành phố Hồ Chí Minh.”

“Đầu tháng 5 vừa qua, Công ty THHH Jabil Việt Nam-đơn vị thành viên trong mạng lưới sản xuất toàn cầu của tập đoàn Jabil Circuit đã nhận được giấy phép đầu tư thuộc lĩnh vực vi điện tử, công nghệ thông tin-viễn thông vào Khu công nghệ cao thành phố Hồ Chí Minh, với tổng vốn 100 triệu USD. Tập đoàn máy tính IBM mới đây cũng đã quyết định xây dựng trung tâm dịch vụ toàn cầu trong khuôn viên của Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. Các doanh nghiệp Mỹ cũng rất quan tâm đến hoạt động kinh doanh tài chính, ngân hàng, du lịch và hàng không tại Việt Nam.”

“Mới đây nhất, đoàn doanh nghiệp gồm 29 đại diện cho một số nhà nhập khẩu lớn của Mỹ đã đến Việt Nam để tìm kiếm cơ hội đầu tư, hợp tác kinh doanh và họ đã có kế hoạch thành lập một quỹ đầu tư đầu tiên của Mỹ tại Việt Nam vào cuối năm nay, với quy mô vốn từ 50-100 triệu USD.”

“Trước đó, đoàn 18 doanh nghiệp hàng đầu trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, dầu khí, hàng không... của Mỹ cũng đã đến Việt Nam khảo sát, tìm kiếm cơ hội đầu tư cho thấy tín hiệu tốt đẹp về hợp tác của giới doanh nghiệp hai nước.”

Vì vậy đi theo Triết đến Mỹ, dự trù sẽ có những người như :

Võ Hồng Phúc( Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Việt Nam),
Trương Đình Tuyển ( Bộ trưởng Bộ Thương mại Việt Nam);
Uông Chung Lưu (Bộ Trưởng Tư Pháp),
Hoàng Trung Hải (Bộ trưởng Bộ Công nghiệp;
Đỗ Trung Tá (Bộ Trưởng Bộ Bưu Chính Viễn Thông (BBCVT))

Nhưng liệu ông Bush có áp dụng biện pháp “cây gậy và củ cà rốt” khi đón Triết tại Tòa Bạch Ốc vào ngày 22 (06-2007) hay không thì chưa rõ, nhưng những diễn biến giữa Hoa Thịnh Đốn và Hà Nội trước ngày Triết đặt chân đến nước Mỹ đã có những dấu hiệu xuống nước nhượng bộ rõ rệt từ phiá Việt Nam.

Điển hình là việc Nguyễn Minh Triết đã ra lệnh phóng thích Nhà báo tranh đấu dân chủ Nguyễn Vũ Bình ngày 9-6, sau 3 năm thi hành bản án 7 năm tù.

Ông Bình, làm cho Tạp chí Cộng sản của Ban Tư tưởng-Văn hóa Trung ương, bị Nhà nước gán cho tội “gián điệp”, sau khi phổ biến ra nước ngòai một số bài báo cổ động dân chủ và tự do cho Việt Nam. Ông cũng tố cáo thỏa hiệp biên giới giữa Việt Nam và Tầu và đòi lập đảng chính trị. Trước khi bị tuyên án ngày 5-5-2004, ông Bình đã bị “tạm giam” từ ngày 25-9-2002.

Việt Nam gọi việc trả tự do cho ông Bình là “đặc xá tha tù”, nhưng ai cũng biết Hoa Kỳ đã chính thức đòi Việt Nam làm việc này khi Phạm Gia Khiêm, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao đến Mỹ hồi tháng 5 (2007).

Có nhiều dự đoán là Tổng thống Bush sẽ lại nói cho Triết nghe đầy tai về sự bất bình của Chính phủ, Quốc hội và nhân dân Mỹ đối với các vụ Việt Nam đã bất chấp dự luận để đàn áp tự do, dân chủ, kìm kẹp tôn giáo và tăng cường bắt bớ, bỏ tù những nhà bất dồng chính kiến từ đầu năm 2007 đến nay.

NHỮNG NẠN NHÂN CỘNG SẢN

Lập trường bảo vệ dân chủ, nhân quyền của Mỹ chống độc tài bất cứ dưới hình thức nào và bất kỳ ở đâu trên thế giới đã được ông Bush thể hiện trong bài diễn văn lên án sự tàn bạo của các chế độ theo Chủ nghĩa Cộng sản ngày 12-6.

Diễn văn của ông Bush và lễ khánh thành Đài tưởng niệm các nạn nhân của Chủ nghĩa Cộng sản diễn ra đúng vào ngày của 20 năm trước (12/06/1987), khi Tổng thống Ronald Reagan, đứng trước Bức tường chia đôi hai nước Đức tại Bá Linh (Berlin Wall) đọc Diễn văn thách thức Chủ tịch Liên bang Xô viết Mikhail Gorbachev hãy phá bỏ bức tường tủi nhục này đi.

Hướng về phiá Đông Đức, Tổng thống Reagan đã nói lớn: “Tổng Bí thư Gorbachev, nếu ông muốn tìm kiếm hòa bình, muốn tìm kiếm sự thịnh vượng cho Liên bang Sô viết và Đông Âu, nếu ông muốn giải phóng thì hãy đến tại cánh cửa này. Ông Gorbachev, hãy mở cửa này ra ! Ông Gorbachev, hãy phá sập bức tường này xuống!”

(General Secretary Gorbachev, if you seek peace, if you seek prosperity for the Soviet Union and Eastern Europe, if you seek liberalization, come here to this gate. Mr. Gorbachev, open this gate! Mr. Gorbachev, tear down this wall.)

Lời kêu gọi hùng hồn lịch sử của ông Reagan đã làm rung chuyển điện Cẩm Linh và tòan Châu Âu. Chỉ 2 năm sau, dân chúng Đông Đức đã nổi dậy phá sập bức tường ô nhục, thống nhất nước Đức và gây sức mạnh giây chuyền làm sụp đổ các chính phủ Cộng sản ở Đông Âu và sau đó tan rã tòan bộ Liên bang Sô Viết.

Sự sụp đổ của các Chính phủ Cộng sản trong khối Warsaw đã kéo theo sự cáo chung của thế giới Cộng sản và cuộc chiến tranh lạnh giữa hai khối Công sản và Tự do do Hoa Kỳ lãnh đạo. Nhưng những tội ác của Chủ nghĩa Cộng sản gây ra cho nhân loại từ sau cuộc Cách mạng tháng 10 tại Nga năm 1917, đã không bao giờ bị bỏ quên.

Vì vậy Tổng thống Bush mới nói : “Thế kỷ 20 sẽ được ghi nhớ là một thế kỷ chết chóc thảm khốc nhất trong lịch sử nhân loại. Hồ sơ của kỷ nguyên tàn bạo này được ghi nhận tại nhiều Đài tưởng niệm trong Thành phố này. Thật vậy, cho đến bây giờ Thủ đô của Hiệp Chủng Quốc chưa hề có một Đài tưởng niệm nào dành cho các nạn nhân của Chủ nghĩa Đế quốc Cộng sản, một chủ thuyết đã lấy đi mạng sống của khỏang 100 triệu người gồm đàn ông, phụ nữ và trẻ em vô tội. Thật là một việc làm chính đáng khi chúng ta tề tựu tại đây hôm nay để tưởng nhớ những người đã bị thủ tiêu dưới bàn tay bạo tàn của Chủ nghĩa Cộng sản.”

(The 20th century will be remembered as the deadliest century in human history. And the record of this brutal era is commemorated in memorials across this city. Yet, until now, our Nation's Capital had no monument to the victims of imperial Communism, an ideology that took the lives of an estimated 100 million innocent men, women and children. So it's fitting that we gather to remember those who perished at Communism's hands.)

“Sự hy sinh của các nạn nhân đã thách đố lịch sử vì sau họ còn hàng triệu người khác đã bị bí mật giết hại bởi bàn tay tàn bạo của Cộng sản….Chúng ta khánh thành Đài tưởng niệm này vì chúng ta có một nghĩa vụ đối với những người đã hy sinh, để tưởng nhớ đến cuộc đời cũng như ký ức của họ…Chúng ta khánh thành Đài truy điệu vì chúng ta còn có một nghĩa vụ đối với các thế hệ tương lai, ghi lại tội ác của Thế kỷ 20 và bảo đảm rằng những tội ác này sẽ không bao giờ bị tái diễn”

(“The sacrifices of these individuals haunt history -- and behind them are millions more who were killed in anonymity by Communism's brutal hand….We dedicate this memorial because we have an obligation to those who died, to acknowledge their lives and honor their memory… We dedicate this memorial because we have an obligation to future generations to record the crimes of the 20th century and ensure they're never repeated.”)

Nhìn về phía trên 1000 người được mời dự lễ, Tổng Thống Bush nói với họ : “Tại nơi thiêng liêng này, tất cả chúng ta đều nhớ đến những bài học vĩ đại của thời Chiến tranh Lạnh: Đó là, Tự do thật là Qúy gía và không thể nào bị coi thường. Kẻ ma qủy là quân có thật và chúng ta phải đối phó, và nếu có cơ hội, kẻ có tư tưởng tàn bạo và hận thù sẽ gây ra những tội ác không có lời nào tả được và sẽ cướp đi mạng sống của hàng triệu con người.”

(In this hallowed place we recall the great lessons of the Cold War: that freedom is precious and cannot be taken for granted; that evil is real and must be confronted; and that given the chance, men commanded by harsh and hateful ideologies will commit unspeakable crimes and take the lives of millions.)

PHIÊN TÒA LỊCH SỬ

Song song với buổi lễ khánh thành Đài tưởng niệm là cuộc thảo luận về Đề tài “Các nạn nhân và những tội ác của Chủ nghĩa Cộng sản từ 1917 cho đến ngày nay” do Viện nghiên cứu nổi tiếng Heritage Foundation ở Hoa Thịnh Đốn tổ chức.

Được mời tham dự cuộc thảo luận có 11 Diễn gỉa là những Chuyên viên nghiên cứu về Cộng sản, Giáo sư Đại học và các Cựu Tù nhân Chính trị thuộc các nước cựu Cộng sản hay vẫn còn cai trị bởi đảng Cộng sản như Trung Hoa, Việt Nam và Cuba.

Bản tin của Heritage Foundation viết : “Thật là một sự thất nhân tâm trong thời đại chúng ta, nếu hành động vô nhân đạo của Chủ nghĩa Cộng sản đối với con người không được biết đến. Có ai biết rằng trên 100 triệu con ngườI đã chết vào tay Cộng sản kể từ Cuộc Cách mạng Bolshevik năm 1917. Và có ai biết rằng, hãy còn 1 phần 5 dân số trên thế giới vẫn còn bị sống , không do sự lựa chọn của họ, dưới ách cai trị của Chủ nghĩa Cộng sản ?”

Đại diện cho phía người Việt trong cuộc hội luận được mô tả như một phiên tòa tố cáo tội ác và sự tàn bạo của các chế độ Cộng sản là ông Trần Tử Thanh, cựu Tù nhân Chính trị bị giam và bị hành hạ thảm khốc gần 18 năm qua nhiều trại tù khác nhau từ Nam ra Bắc, sau năm 1975.

Người cựu tù thứ hai là Thi sỹ nổi tiếng Nguyễn Chí Thiện, bị chế độ Cộng sản giam cầm tổng cộng 27 năm ở miền Bắc.

Hai ông đã nói trước một cử tọa chọn lọc có nhiều Học giả và nhà nghiên cứu về chính sách đối xử tàn bạo của chế độ Cộng sản Việt Nam đối vớ bất cứ ai bị nghi có tư tưởng chống chế độ hay chỉ muốn thực hiện quyền tự do tư tưởng.

Cử tọa cũng được hai ông cho biết về chính sách kiểm soát kinh tế, miếng ăn, sự kỳ thị của nhà nước đối với người dân Việt Nam, cũng như việc nhà cầm quyền đã tước bỏ các quyền tự do của ngườI dân dù đã được ghi trong Hiến pháp, nhất là hai quyền tự do ngôn luận và tự do tôn giáo.
Chế độ CSVN còn bị hai ông lên án đã không từ bỏ bất kỳ một biện pháp nào để kìm kẹp và phá hủy ý chí, trí tuệ và nhân phẩm của người dân để phục vụ cho quyền thống trị độc tài của đảng cầm quyền.

Riêng ông Trần Tử Thanh, cựu tù nhân từ miền Nam Việt Nam đã nói về hành động của CSVN sau khi chiếm được miền Nam tháng 4/1975: “Trên 980 nghìn cựu quân nhân, cảnh sát và đảng viên của nhiều đảng chính trị và công chức đã trở thành nạn nhân của hành động trả thù tàn bạo, bị giết và bị tra tấn dã man dướI bàn tay của đội quân xâm lăng Cộng sản. Những nạn nhân này đã bị bắt giam vào các trạI tập trung lao động được ngụy danh là các trung tâm “cải tạo”. Ở đó, tùy thuộc vào cấp bậc hay chức vụ, họ bị đối xử bằng nhửng hành động vô nhân đạo không tưởng tượng nổi.”

(Over 980 thousand members of its armed forces, police, members of various political parties and public servants became victims of the most brutal revenge, killing and torture in the hands of the communist invaders. They were locked up in hundreds of forced labor camps labeled as "re-education" centers. There, depending on their ranks and titles, they received the most inhuman and unimaginable mistreatment.)

Là một trong số người con của Luật sư nổi tiếng Trần Văn Tuyên bị bắt đi tù nên Cộng sản đã đổi xử với ông vô cùng tàn tệ.

Ông Thanh nói tiếp : “Đối với những kẻ bị tù như chúng tôi trong các trại ấy thì hy vọng được trở về thật là mong manh. Sự hành hạ về thể xác chỉ là những trận đòn tương đối nhẹ, nhưng sự hành hạ tàn bạo nhất là bị bỏ đói từ ngày này qua ngày khác. Bị bỏ đói 24 giờ một ngày. Cái đói đã cướp đi nghị lực, trí tuệ và nhân cách của tù nhân. Cái đói đã biến con người thành thú vật. Đối với tôi thì đây chính là sự hành hạ tàn bạo, khủng khiếp trên tất cả các thứ hành hạ khác. Sự hành hạ này diễn ra trong im lặng và đã ảnh hưởng trực tiếp đến thể xác và tinh thần của con người.”

(We, the inmates in those camps, knew that hope of returning home alive was less than slim. Physical tortures were just light beatings compared to the more hellish torture of being left HUNGRY day in and day out. Hunger tortures 24 hours a day. Hunger takes away spirit, intellect and dignity. Hunger turns humans into animals. To me, this is the most savage of all tortures, a silent torture on both physical and mental capacities of a human being.)

Để trả lời cho những tuyên truyền che đậy của Cộng sản Việt Nam rằng đã “không có cuộc tắm máu” xẩy ra ở miền Nam sau khi Cộng sản vào Sài Gòn, ông Thanh nói gằn từng chữ : “Qủa nhiên là đã không có những cuộc tắm máu, nhưng sau những hàng rào an ninh chặt chẽ thì CSVN Đã Hành hạ Tinh thần và Thể xác Người tù Dã man và Tàn bạo Chưa Từng Có.”

(There were no obvious blood baths, but behind the heavily guarded fences, the communists conducted the vilest and most demoniac mental and physical torture ever designed.)

Luật sư Trần Văn Tuyên, Cựu Dân biểu Hạ viện VNCH, cựu Phó Thủ tướng và là một trong số Lãnh tụ Việt Nam Quốc Dân Đảng đã bị Cộng sản bắt ngay sau khi Sài Gòn thất thủ. Ông đã bị hành hạ cho đến chết trong ngục tù khỏang giữa hai năm 1977 và 1978, nhưng chính quyền Cộng sản vào thời gian ấy, vẫn nói với Chính phủ Pháp là ông Tuyên vẫn còn sống !

Xác ông chôn ở đâu đến nay vẫn không ai biết !

Tội ác của Cộng sản Việt Nam đối với Luật sư Trần Văn Tuyên cũng đã được ông Trần Tử Thanh tố cáo tại cuộc hội luận của Heritage Foundation. -/-

Phạm Trần
(06/07)