Thứ Sáu, 13 tháng 7, 2007

Quốc hội Châu Âu ra Quyết Nghị định giá lại chính sách hợp tác với Việt Nam và tố cáo Việt Nam đàn áp nhân quyền và tôn giáo

********************************************************************************
Quê Mẹ : Hành động cho Dân chủ Việt Nam
& Ủy ban Bảo vệ Quyền làm Người Việt Nam
Que Me : Action for Democracy in Vietnam & Vietnam Committee on Human Rights
Que Me : Action pour la Démocratie au Vietnam & Comité Vietnam pour la Défense des Droits de l’Homme
B.P. 63 - 94472 Boissy Saint Léger cedex (France) - Tel.: (Paris) (331) 45 98 30 85
Fax : Paris (331) 45 98 32 61 - E-mail : queme@free.fr - Web : http://www.queme.net
********************************************************************************


THÔNG CÁO BÁO CHÍ LÀM TẠI STRASBOURG NGÀY 12.7.2007
Quốc hội Châu Âu ra Quyết Nghị định giá lại chính sách hợp tác với Việt Nam và tố cáo Việt Nam đàn áp nhân quyền và tôn giáo


STRASBOURG, ngày 12.7.2007 (Quê Mẹ) - Hôm nay, thứ năm 12.7.2007, khóa họp toàn thể Quốc hội Châu Âu tại Strasbourg, miền Đông Bắc Pháp, đã đồng thanh thông qua "Quyết nghị về vấn đề Việt Nam". Kể từ ngày khai mạc hôm 9.7 các chính đảng Quốc hội đã họp riêng bàn thảo về tình hình đàn áp nhân quyền và tôn giáo trầm trọng tại Việt Nam để lấy thái độ. Sau ba lần họp kín xem xét nội dung 6 dự án Quyết Nghị do 6 chính đảng đệ nạp (Đảng Bình dân Âu châu và Dân chủ Âu châu (PPE-DE) ; Đảng Xã hội Âu châu (PSE) ; Đảng Tự do, Dân chủ và Cải cách Âu châu (ALDE) ; Liên đoàn Tả phái Thống nhất (GUE/NGL, trong số có Đảng Cộng sản) ; Đảng Xanh và Liên minh Tự do Âu châu (Green/ALE) và Đảng Liên hiệp Âu châu các Quốc gia (UEN), nhằm đưa tới một bản Quyết nghị tổng hợp đệ trình khóa khoáng đại xin thông qua theo thể lệ khẩn cấp.

Vào đúng 16 giờ 20 chiều ngày 12.7 bản Quyết nghị đã được toàn thể Quốc hội thông qua sau khi nghe một số Dân biểu Tây và Đông Âu đại diện các chính đảng trình bày về tình trạng đàn áp nhân quyền và tôn giáo tại Việt Nam. Nổi cộm trong các cuộc trình bày là những vụ xử án bất công cuối tháng 3 sang tháng 5.2007, cuộc đàn áp 20 Ban Đại diện Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, điều luật "an ninh quốc gia" trong Bộ luật Hình sự Việt Nam trái chống với các Công ước quốc tế, Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính mang số 44 ban hành năm 2002 cho phép đưa các nhà bất đồng chính kiến vào bệnh viện tâm thần như kiểu Xô viết ngày xưa, v.v...

Quyết nghị trên đây là thành quả sau một tháng vận động của Tổ chức Quê Mẹ : Hành động cho Dân chủ Việt Nam và Ủy ban Bảo vệ Quyền làm Người Việt Nam nhằm thông tin và báo động các chính đảng, các vị Dân biểu Quốc hội Châu Âu cũng như các cơ cấu cao cấp của Liên Hiệp Châu Âu như Hội đồng Châu Âu, Ủy hội Châu Âu, Phân ban Nhân quyền Châu Âu, v.v... Đặc biệt trong thời gian vận động này, ông Võ Văn Ái được Cơ cấu Dân chủ thuộc Quốc hội Châu Âu mời tham dự cuộc thảo luận bàn tròn hai ngày về đề tài "Châu Âu tiếp cận việc Tương trợ Dân chủ và Cộng đồng Dân chủ Thế giới"

Những cuộc tiếp xúc của Tổ chức Quê Mẹ : Hành động cho Dân chủ Việt Nam và Ủy ban Bảo vệ Quyền làm Người Việt Nam để trình bày và trao tài liệu về sự đàn áp nhân quyền và tôn giáo tại Việt Nam tiếp diễn nhiều năm qua, đặc biệt các cuộc bắt bớ, các phiên tòa bất công từ cuối tháng 3 sang đầu tháng 5.2007, những cuộc đàn áp các tôn giáo như Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, giới Tăng sĩ Phật giáo Khmer Krom, Hòa Hảo, Tin Lành, người Thượng, v.v... đã gây ngạc nhiên và chấn động các Dân biểu và cơ quan gặp gỡ.

Chiều ngày 12.7, chứng kiến những cánh tay ủng hộ đưa cao đáp lời chủ tọa khóa họp toàn thể Quốc hội Châu Âu hỏi rằng : "Ai đồng ý thông qua Quyết nghị của Quốc hội Châu Âu về vấn đề Việt Nam ?". Rồi không một cánh tay phản đối khi đáp lời Chủ tọa khóa họp hỏi thêm hai câu tiếp : "Ai phản đối ?", "Ai bỏ phiếu trắng ?". Nên liền đó, ông Võ Văn Ái, Chủ tịch Ủy ban Bảo vệ Quyền làm Người Việt Nam và Phát ngôn nhân Viện Hóa Đạo Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, đã tuyên bố với báo chí rằng :

"Chúng tôi hoan nghênh và chào đón Quyết Nghị của Quốc hội Châu Âu đã kịp thời xuất hiện, mang lại sự phấn kích cho các nhà bất đồng chính kiến tại Việt Nam đang bị bộ máy độc tài của Hà Nội hăm dọa nghiến nát, đồng thời minh chứng sự sáng suốt của các vị Dân biểu Quốc hội Châu Âu trước thủ đoạn lừa đảo chính giới Âu Mỹ của nhà cầm quyền Hà Nội năm ngoái. Thật quan trọng sự kiện Quốc hội Châu Âu vừa khỏa lấp sự im lặng do nhà cầm quyền Hà Nội dựng lên và được một số các cơ quan truyền thông báo chí bao che trước cuộc đàn áp liên tục đối với Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất". Ông Ái cũng hoan nghênh sự kiện bản Quyết Nghị không bị chóa mắt trước lời tuyên bố lừa gạt của Hà Nội khi cho biết đã bãi bỏ Nghị định Quản chế hành chính 31/CP, vì bản Quyết Nghị đã tố cáo sự kế thừa qua Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính mang số 44/2002/Pl-UBTVQH10. Ông Ái nói : "Một Nhà nước pháp quyền hay dân chủ không thể hiện hữu khi còn tồn tại các điều luật kết án vì "an ninh quốc gia" hay thứ Pháp lệnh 44 cho phép đưa các nhà hoạt động cho nhân quyền và dân chủ vào nhà thương điên".

Hiện nay nhà cầm quyền Hà Nội đang làm đủ cách để bôi nhọ Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, vu cáo hàng lãnh đạo Giáo hội "làm chính trị" cốt cho quần chúng và chính giới Âu Mỹ e ngại, cốt cho giới truyền thông, báo chí bớt loan tin. Nhưng Quốc hội Châu Âu đã thật sáng suốt phá bỏ âm mưu này khi ghi nhận trong bản Quyết nghị :

"Vì rằng, dù có những lời kêu gọi thường trực và kiên trì của cộng đồng quốc tế, Đức Tăng thống của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, Đại lão Hòa thượng Thích Huyền Quang (87 tuổi) và người phụ tá ngài, Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ (79 tuổi), người được Giải Người Bảo vệ Nhân quyền của Sáng hội Rafto năm 2006, vẫn bị giam giữ không xét xử tại chùa viện từ năm 1982, với lý do duy nhất hai ngài là người quyết tâm bênh vực cho tự do tôn giáo, nhân quyền và dân chủ ; vì rằng, các thành viên của những Ban Đại diện Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất tại các tỉnh, mà Giáo hội thiết lập trong 20 tỉnh nghèo để cứu trợ cho những kẻ cơ hàn, trở thành nạn nhân bị sách nhiễu, bị thẩm vấn, bị thị uy và đe dọa thường trực, chỉ vì lý do các Ban Đại diện này đứng trong hàng ngũ Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất".

Những điều quan trọng nhất cho tiến trình pháp quyền hóa nhà nước và dân chủ hóa Việt Nam đã được Quyết nghị của Quốc hội Châu Âu về vấn đề Việt Nam đề xuất, chẳng hạn như :

- "yêu cầu Việt Nam thực hiện các cải cách chính trị và thể chế để thiết lập nền dân chủ và một Nhà nước thực sự pháp quyền, bắt đầu bằng việc thiết lập chế độ đa đảng, một nền báo chí tự do và những công đoàn tự do".

- " yêu cầu chính phủ Việt Nam tôn trọng quyền tự do tôn giáo và khôi phục quy chế pháp lý cho tất cả các cộng đồng tôn giáo, đặc biệt là Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất. Vì rằng, sự công nhận các phong trào tôn giáo thông qua quy chế đăng ký còn quá ít ỏi và bất bình đẳng, với ví dụ 50 giáo hội Tin lành tại gia được công nhận trong số 4000 giáo hội đã đăng ký, và rằng các giáo hội được công nhận này lại phải xin gia hạn mỗi năm".

- "yêu cầu nhà cầm quyền Việt Nam thực thi những khuyến cáo của LHQ, đặc biệt của Ủy ban Nhân quyền LHQ trong phần kết luận năm 2002, bãi bỏ những pháp chế của Việt Nam trái chống với nhân quyền và bảo đảm thực sự các quyền cơ bản cho mọi công dân Việt Nam, chiếu theo Công ước quốc tế về các quyền Dân sự và Chính trị và Công ước quốc tế về các quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa"

- "yêu sách trả tự do tức khắc và vô điều kiện cho mọi cá nhân bị giam giữ vì lý do duy nhất là họ sử dụng ôn hòa và chính đáng các quyền tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do báo chí và tự do tôn giáo, trong số này có linh mục Nguyễn Văn Lý, Nguyễn Phong, Nguyễn Bình Thành, các luật sư Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân, Trần Quốc Hiền, Lê Nguyên Sang, Nguyễn Bắc Truyển, Huỳnh Nguyên Đạo, Dương Thị Tròn, Lê Văn Sóc, Nguyễn Văn Thủy, Nguyễn Văn Thọ, Đức Tăng thống Thích Huyền Quang, Hòa thượng Thích Quảng Độ và Bùi Thị Kim Thành".

Và đặc biệt là :

- "thỉnh mời Hội đồng Châu Âu và Ủy hội Châu Âu phải định giá lại chính sách hợp tác với Việt Nam, căn cứ trên điều 1 trong Hiệp ước hợp tác năm 1995, đặt cuộc hợp tác trên sự tôn trọng các nguyên tắc dân chủ và các quyền cơ bản", cũng như "nhắc nhở rằng cuộc đối thoại về nhân quyền giữa Liên hiệp Châu Âu và Việt Nam phải đưa tới những cải tiến cụ thể tại Việt Nam".

Dưới đây là bản Việt dịch toàn văn Quyết Nghị của Quốc hội Châu Âu về vấn đề Việt Nam chiếu theo bản Pháp ngữ. Bạn đọc có thể tìm đọc toàn văn Quyết Nghị bằng Anh, Pháp và Việt ngữ trên Trang nhà Quê Mẹ: http://www.queme.net


Quyết Nghị của Quốc hội Châu Âu về vấn đề Việt Nam

QUỐC HỘI CHÂU ÂU,

- chiếu theo các Nghị Quyết trước đây về vấn đề Việt Nam,

- chiếu theo lời tuyên bố của Chủ tịch Liên hiêp Châu Âu ngày 15.5.2007 trước sự kết án các nhà đấu tranh cho nhân quyền tại Việt Nam,

- chiếu theo Hiệp ước Hợp tác năm 1995 giữa Liên hiệp Châu Âu và Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam,

- chiếu theo Công ước Quốc tế về Các quyền Dân sự và Chính trị mà Việt Nam tham gia ký kết năm 1982,

- chiếu theo điều 115, chương 5, Quy chế Liên hiệp Châu Âu

A. Vì rằng, từ tháng 3 năm 2007, hơn 15 nhà bất đồng chính kiến bị kết án tù nặng nề và bị quản chế,

B. Vì rằng, cuộc đàn áp này xẩy ra sau một năm 2006 cởi mở chính trị, làm phát sinh những đảng phái độc lập và dân chủ, nhiều người Việt Nam (trí thức, luật sư, nhà báo, nghệ sĩ, tu sĩ, công dân) biểu kiến sự quan tâm cho dân chủ nên đã có vô số lời kêu gọi cho dân chủ,

C. Vì rằng, kiến nghị đòi hỏi dân chủ tung ra trên Mạng thiên dân chủ và cải cách 8406 với 118 chữ ký những người cốt cán, đánh dấu bước khởi đầu một phong trào cho dân chủ thực sự trên mạng truyền thông Internet,

D. Vì rằng, sự khoan nhượng của chế độ Việt Nam đối với sự sôi sục của giới ly khai dân chủ làm dấy lên những niềm hy vọng và giúp cho Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam được vào Tổ chức Thương mại Thế giới, được rút tên khỏi danh sách các quốc gia đàn áp tôn giáo (CPC), và được Hạ viện Hoa Kỳ ban cho quy chế quan hệ thương mại bình thường và vĩnh viễn,

E. Vì rằng, dù có những lời kêu gọi thường trực và kiên trì của cộng đồng quốc tế, Đức Tăng thống của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, Đại lão Hòa thượng Thích Huyền Quang (87 tuổi) và người phụ tá ngài, Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ (79 tuổi), người được Giải Người Bảo vệ Nhân quyền của Sáng hội Rafto năm 2006, vẫn bị giam giữ không xét xử tại chùa viện từ năm 1982, với lý do duy nhất hai ngài là người quyết tâm bênh vực cho tự do tôn giáo, nhân quyền và dân chủ ; vì rằng, các thành viên của những Ban Đại diện Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất tại các tỉnh, mà Giáo hội thiết lập trong 20 tỉnh nghèo để cứu trợ cho những kẻ cơ hàn, trở thành nạn nhân bị sách nhiễu, bị thẩm vấn, bị thị uy và đe dọa thường trực, chỉ vì lý do các Ban Đại diện này đứng trong hàng ngũ Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất,

F. Vì rằng, sự công nhận các phong trào tôn giáo thông qua quy chế đăng ký còn quá ít ỏi và bất bình đẳng, với ví dụ 50 giáo hội Tin lành tại gia được công nhận trong số 4000 giáo hội đã đăng ký, và rằng các giáo hội được công nhận này lại phải xin gia hạn mỗi năm,

G. Vì rằng, tháng 2 năm 2007, cuộc biểu tình đòi tự do tôn giáo của 200 giáo phẩm Phật giáo Khmers Kroms bị đàn áp bằng bạo lực tại tỉnh Sóc Trang, ngày 10 tháng 5 sau đó, năm Tăng sĩ trong họ bị kết án từ 2 đến 4 năm tù vì tội "phá rối trật tự công cộng", và rằng ngoài những cuộc đàn áp tôn giáo, người Khmers kroms còn bị cưỡng bức đồng hóa,

H. Vì rằng, các dân tộc ít người miền thượng du Bắc Việt và Cao nguyên Trung phần luôn luôn là nạn nhân bị phân biệt đối xử, bị tịch thu đất đai và bị vi phạm quyền tự do tôn giáo, rằng chỉ có 38 nhóm tôn giáo được công nhận tại vùng Tây Bắc, và các tổ chức phi chính phủ độc lập cũng như các nhà báo không được tự do đến các vùng cao nguyên để chứng kiến thực trạng của những người Thượng hồi hương từ Cam Bốt,

I. Vì rằng, tất cả những nhà bất đồng chính kiến bị bắt từ tháng 3.2007 căn cứ vào sự vi phạm cơ bản điều luật "an ninh quốc gia", như "tuyên truyền chống phá CHXHCNVN" (điều 88 Bộ luật Hình sự), hay âm mưu "lật đổ chính quyền" (điều 79) ; rằng những cáo buộc vi phạm "an ninh quốc gia" này đã bị Ủy ban Nhân quyền LHQ, Báo cáo viên LHQ đặc nhiệm Bất bao dung tôn giáo và Tổ hành động chống bắt bớ trái phép của LHQ đánh giá trái chống với luật pháp quốc tế, và đã yêu sách hủy bỏ hay sửa đổi điều luật "an ninh quốc gia" ấy,

J. Vì rằng, Việt Nam được hưởng sự tài trợ của Liên hiệp Châu Âu và các quốc gia thành viên của Liên hiệp Châu Âu trong khuôn khổ "Chiến lược phát triển hệ thống pháp lý" cũng như "Chiến lược cải cách tư pháp",

K. Vì rằng, Việt Nam tiếp tục tổ chức các phiên tòa nhưng chẳng tôn trọng sự suy đoán vô tội, quyền bào chữa hay tính độc lập của các thẩm phán, như đã cho thấy qua các phiên xử linh mục Nguyễn Văn Lý (30.3.2007), Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân ((11.5.2007),

L. Vì rằng, việc bãi bỏ Nghị định 31/CP năm 1997 về "quản chế hành chính" không thể làm quên đi việc khăng khăng áp dụng Pháp lệnh 44/2002/PL-UBTVQH10 về "Xử lý vi phạm hành chính", pháp lệnh mở rộng các khả năng giam giữ không xét xử những người bất đồng chính kiến và tái hồi phương pháp cổ hủ và độc địa đưa các nhà bất đồng chính kiến vào bệnh viện tâm thần, mà nạn nhân là nữ luật sư Bùi Thị Kim Thành, bị giam từ tháng 11.2006 vì bà đã bênh vực cho quyền lợi dân oan ở nông thôn,

M. Vì rằng, Liên hiệp Châu Âu là đối tác doanh thương quan trọng nhất của Việt Nam, và Việt Nam đã được hưởng Hệ thống ưu đãi phổ cập (GSP) của Liên Âu,

N. Vì rằng, tháng 3.2007, Hội đồng Châu Âu đã gia tăng 30% tài trợ cho Việt Nam trong thời khóa 2007-2013 (304 triệu Euros), mà một phần lớn dành cho việc cai quản quốc gia và nhân quyền,


QUỐC HỘI CHÂU ÂU

1. biểu tỏ sự lo lắng sâu xa trước đợt sóng đàn áp các nhà bất đồng chính kiến tại Việt Nam;

2. do vậy yêu sách trả tự do tức khắc và vô điều kiện cho mọi cá nhân bị giam giữ vì lý do duy nhất là họ sử dụng ôn hòa và chính đáng các quyền tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do báo chí và tự do tôn giáo, trong số này có linh mục Nguyễn Văn Lý (8 năm tù), Nguyễn Phong (6 năm tù), Nguyễn Bình Thành (5 năm tù), các luật sư Nguyễn Văn Đài (5 năm tù) - đều là thành viên của Blog Trang nhà thiên dân chủ và cải cách 8406 - và Lê Thị Công Nhân (4 năm tù), phát ngôn nhân Đảng Thăng tiến, Trần Quốc Hiền (5 năm tù), đại diện Hiệp hội Công Nông Việt Nam, chủ tịch đảng Dân chủ Nhân dân, Lê Nguyên Sang (5 năm tù), Nguyễn Bắc Truyển (4 năm tù), Huỳnh Nguyên Đạo (3 năm tù), cũng như các tín đồ Phật giáo Hòa Hảo Dương Thị Tròn (6 năm tù), Lê Văn Sóc (6 năm tù), Nguyễn Văn Thủy (5 năm tù), Nguyễn Văn Thọ (4 năm tù), Đức Tăng thống Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, Thích Huyền Quang, Hòa thượng Thích Quảng Độ và Bùi Thị Kim Thành;

3. yêu cầu chính phủ (Việt Nam) chấm dứt mọi hình thức đàn áp những cá nhân sử dụng các quyền của họ về tự do ngôn luận, tự do tư tưởng và tự do hội họp, chiếu theo các tiêu chuẩn quốc tế về nhân quyền ; lập lại lời kêu gọi của Quốc hội Châu Âu yêu cầu nhà cầm quyền Việt Nam cấp tốc cải tổ những điều quy định liên quan đến điều luật an ninh quốc gia để hoặc hủy bỏ hoặc tuân thủ theo luật pháp quốc tế;

4. yêu cầu Việt Nam thực hiện các cải cách chính trị và thể chế để thiết lập nền dân chủ và một Nhà nước thực sự pháp quyền, bắt đầu bằng việc thiết lập chế độ đa đảng, một nền báo chí tự do và những công đoàn tự do;

5. yêu cầu chính phủ Việt Nam tôn trọng quyền tự do tôn giáo và khôi phục quy chế pháp lý cho tất cả các cộng đồng tôn giáo, đặc biệt là Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất;

6. thỉnh mời chính phủ Việt Nam chấm dứt việc phân biệt đối xử với cộng đồng người Thượng;

7. chào mừng việc bãi bỏ Nghị định 31/CP như bước đầu cải tổ tư pháp và yêu cầu chính phủ Việt Nam loại trừ mọi hình thức giam giữ mà không được pháp lý che chở, đặc biệt là Pháp lệnh mang số 44 năm 2002;

8. yêu cầu nhà cầm quyền Việt Nam thực thi những khuyến cáo của LHQ, đặc biệt của Ủy ban Nhân quyền LHQ trong phần kết luận năm 2002, bãi bỏ những pháp chế của Việt Nam trái chống với nhân quyền và bảo đảm thực sự các quyền cơ bản cho mọi công dân Việt Nam, chiếu theo Công ước quốc tế về các quyền Dân sự và Chính trị và Công ước quốc tế về các quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa;

9. nhắc nhở rằng cuộc đối thoại về nhân quyền giữa Liên hiệp Châu Âu và Việt Nam phải đưa tới những cải tiến cụ thể tại Việt Nam ; thỉnh mời Hội đồng Châu Âu và Ủy hội Châu Âu phải định giá lại chính sách hợp tác với Việt Nam, căn cứ trên điều 1 trong Hiệp ước Hợp tác năm 1995, đặt cuộc hợp tác trên sự tôn trọng các nguyên tắc dân chủ và các quyền cơ bản;

10. Ủy nhiệm Chủ tịch Quốc hội Âu châu chuyển giao Quyết Nghị này đến Hội đồng Âu châu, Ủy hội Âu Châu, cũng như đến các Chính phủ thành viên Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á, Tổng Thư ký LHQ, Cao ủy Nhân quyền LHQ và Chính phủ và Quốc hội Việt Nam.

(Ủy ban Bảo vệ Quyền làm Người Việt Nam dịch từ bản Pháp ngữ)

Sự đồng thuận của HĐGM Việt Nam và Toà Thánh Vatican trong việc xử án Cha Lý, có hay không?

THƯ GỞI ÔNG NGUYỄN MINH TRIẾT
V/v: Sự đồng thuận của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam và Toà Thánh Vatican trong việc xử án Cha Lý.


Kính gởi ông NGUYỄN MINH TRIẾT,
Chủ Tịch Nhà Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam


Kính ngài,
Tôi ký tên dưới đây là Nguyễn Học Tập.

Được đọc trên báo NHÂN DÂN ( 04.07.2007, trg. 2) và trên báo TUỔI TRẺ (08.07.2007, trg. 1), lời tuyên bố của ông nhân cuộc phỏng vấn của phóng viên Wolf Blitzer (CNN) trong chuyến đi Hoa Kỳ của ông vừa qua, từ 18-23.6.2007, liên quan đến phiên toà xử án Cha Lý, tôi có một thắc mắc muốn được thưa với ông.

Trong cuộc phỏng vấn trên, đề cập đến phiên toà Cha Lý bị bịt miệng, không được luật sư biện hộ và cũng không có quyền tự biện hộ, một quyền tự do tối thiểu bất khả xâm phạm của con người của một xứ văn minh, ông đã cho rằng việc Cha Lý đứng ra tranh đấu cho Nhân Quyền và Tự Do Dân Chủ cho con người có được một cuộc sống xứng đáng với phẩm giá con người là hành vi "phạm pháp luật Việt Nam" (Báo Nhân Dân, 04.07.2007, trg. 2) của xứ Xã Hội Chủ Nghĩa Nhân Dân văn minh của ông.

Và rồi từ đó ông cho rằng Quốc Gia XHCNVN văn minh của ông được cả Hội Đồng Giám Mục Việt Nam và Toà Thánh Vatican cho phép, nguyên văn như sau:

- "Việc xét xử ông ta được Hội Đồng Giám Mục Việt Nam và Toà Thánh Vatican cũng đồng tình với chúng tôi" (Báo Nhân Dân, id., trg.2; Báo Tuổi Trẻ, id., trg.1).

Kính thưa ông,
Là người Công giáo, tôi nghĩ rằng Hội Đồng Giám Mục Việt Nam và Toà Thánh Vatican không có lý do gì đồng thuận "lên án" Cha Lý, chỉ vì Cha hành xử, tranh đấu bênh vực Nhân Quyền và Tự Do Dân Chủ, nhằm "Thăng Tiến con người và Thăng Tiến xã hội", như những gì Phúc Âm dạy cho.

Trước xác tín vừa kể, tôi không muốn một vết nhơ oen ố như vậy bị bôi trét lên lịch sử Giáo Hội Công Giáo Việt Nam và trên lịch sử Giáo Hội Công Giáo hoàn vũ, mà tôi cũng là thành phần của Giáo Hội.

Do đó việc "đồng tình" vừa kể, được thốt ra từ Đấng Bậc nào đó trong Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, chúng tôi đã và đang kiểm chứng và sẽ cho mọi người biết trong những ngày sắp tới.

Về phía Toà Thánh Vatican, tôi khẩn xin ông, nếu như sự thật đã xảy ra, cung cấp cho tôi
- tên họ và chức vụ của Đấng Bậc đã "biểu đồng tình" với ông,
- ngày tháng,
- trong bối cảnh
- và trước mặt ai là nhân chứng,

Có được những yếu tố đó, tôi cam kết với ông: Cá nhân tôi sẽ đến tận Toà Thánh Vatican để được hội kiến với Đấng Bậc "đồng chí" của ông, biết rõ ý kiến và nguyên nhân đã khiến Đấng Bậc đương sự "đồng tình" với Nhà Nước CHXHCNVN xử án "bịt miệng" Cha Lý và lên án ngài, nhờ vào những quen biết của tôi với Toà Thánh Vatican.

Như vậy, ông và tôi, chúng ta cùng nhau làm sáng tỏ cho mọi người thấy đâu là sự thật và đem lại lòng tin của người con dân Việt Nam đối với ông, vị Nguyên Thủ Quốc Gia, cũng như cách hành xử tôn trọng sự thật của Đảng và Nhà Nước CSVN.

Ngược lại, nếu sau một tháng trôi qua, kể từ hôm nay 09.07.2007, chúng tôi không được một lời minh định nào của ông trên báo NHÂN DÂN và TUỔI TRẺ, mọi con dân Việt Nam sẽ thấy được phẩm chất lời tuyên bố ở trên của ông và cho đó cũng là cách hành xử quen thuộc của Đảng và Nhà Nước CSVN do ngài lãnh đạo.

Mong ông vì quyền lợi, ước vọng và lý tưởng của dân tộc Việt Nam, hiện tại cũng như những thế hệ tương lai, cùng cộng tác giải toả những nghi ngờ, đem lại lòng tin cho đồng bào chúng ta, để xây dựng Đất Nước.

Xin thành thật cám ơn và trọng kính ông,

NGUYỄN HỌC TẬP.

Việt Nam, Ðảng là ai mà ăn trùm ?

VIỆT NAM: ĐẢNG LÀ AI MÀ ĂN TRÙM ?
16 Năm Vẫn Không Xây Dựng Nổi Đảng viên ?
Phạm Trần

Hoa Thịnh Đốn.- “Đảng lãnh đạo nhưng không bao biện, làm thay Nhà nước” là khẩu hiệu tuyên truyền được lập đi lập lại nhiều lần từ Đại hội đảng X năm 2006 bởi Nông Đức Mạnh, Tổng Bí thư đảng,nhưng đảng lại “ăn trùm” tất cả, ra lệnh cho mọi người làm theo ý mình mà chẳng có trách nhiệm gì với dân thì có lạ không ?

Nhưng Đảng là ai, của trên Ba triệu đảng viên, của 85 triệu người dân hay chỉ là của riêng những người may mắn được lọt vào Bộ Chính trị. Trong trường hợp của khóa X, có 14 người may mắn đó được xếp theo thứ tự : Nông Đức Mạnh, Tổng Bí thư; Lê Hồng Anh, Bộ trưởng Bộ Công an; Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng; Nguyễn Minh Triết, Chủ tịch Nước; Trương Tấn Sang, Bí thư Trung ướng Đảng; Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch Quốc hội; Phạm Gia Khiêm, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao; Phùng Quang Thanh, Đại tướng (mới lên từ Thượng tướng ngày 6-7-07), Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; Trương Vĩnh Trọng, Bí thư Trung ương đảng; Lê Thanh Hải; Nguyễn Sinh Hùng, Phó Thủ tướng; Nguyễn Văn Chi, Bí thư Trung ương đảng; Hồ Đức Việt, Bí thư Trung ương đảng và Phạm Quang Nghị, Bí thư Thành ủy Thành phố Hà Nội.


Tất cả những chủ trương, chính sách của đảng từ xưa đến nay đều do Bộ Chính trị quyết định trước rồi mới chuyển xuống cho Nhà nước thi hành nên bảo “không bao biện” là không đúng. Còn việc có “làm thay” hay không thì hậu qủa của các vụ can thiệp của các Tổ chức, Ban, Ngành, Đảng ủy Tỉnh, Thành của Đảng vào công tác điều hành của Nhà nước; Lấn sang trách nhiệm hiến định làm Luật của Quốc hội; Che dấu tội phạm hay an thiệp sâu vào các vụ Điều tra tội phạm của ngành Tư pháp, Công an như vụ băng đảng Năm Cam, tham nhũng PMU 18, các Chương trình Xây dựng cơ bản, lãng phí Miá Đường, Xi Măng, Bến cảng, Bắt cá xa bờ, Xóa đói giảm nghèo đến “ăn đất” ở Đồ Sơn, uống dầu ở Công ty Dầu khí, Buôn lậu ở Air Việt Nam v.v…thì có ai không biết ?

Bằng chứng đã rành rành như trong phát biểu của Nguyễn Văn An, Cựu Chủ tịch Quốc hội trên báo Tuổi Trẻ ngày 9-7 (2007) :

Hỏi : Ông nghĩ sao khi thực tế thời gian qua cấp ủy Đảng tại một số nơi can thiệp quá sâu vào công việc của chính quyền?

Đáp : “Nếu Đảng trực tiếp chỉ đạo làm thay các cơ quan nhà nước thì Đảng đã tự cho mình trở thành cơ quan quyền lực nhà nước song song và đứng trên cơ quan quyền lực nhà nước. Nếu lẫn lộn sẽ dẫn tới nghịch lý là Đảng có quyền quyết định song lại không chịu trách nhiệm trước pháp luật, còn người đứng đầu cơ quan nhà nước không có quyền quyết định lại phải chịu trách nhiệm trước nhân dân theo pháp luật. Như vậy, nếu quyền hạn và trách nhiệm tách rời nhau thì cơ quan nhà nước sẽ trở thành hình thức, trách nhiệm cá nhân sẽ không được đề cao, toàn bộ thiết chế bộ máy nhà nước sẽ rối loạn. Đó là điều tối kỵ!”

“Thời gian qua, sự can thiệp của cán bộ trong cấp ủy vào UBND một số địa phương, vào hoạt động của các cơ quan quản lý hành chính nhà nước và xét xử của ngành tòa án đã cho chúng ta những bài học kinh nghiệm sâu sắc. Nếu sai phạm để xảy ra ở cấp trung ương thì kỷ cương phép nước sẽ bị rối loạn, hậu quả sẽ là khôn lường.”

Đó là những điểm đặc thù đến kỳ quặc của nền chính trị “đảng là cha thiên hạ”, “trên bảo dưới không nghe” , “cha chung không ai khóc”, “quan liêu, tham nhũng cứ thong dong tồn tại”, “hành chính chồng chéo” đang diễn ra ở Việt Nam ngày nay.

Vì vậy mà trong kỳ Hội nghị V của Ban Chấp hành Trung ương đảng X (từ ngày 5 đến 14/7/2007) vấn đề “Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị” đã được đặt lên hàng đầu.

Sau đó mới bàn đến các vấn đề nổi cộm khác như : “Đẩy mạnh cải cách hành chính, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước; Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Đảng; Công tác tư tưởng, lý luận, báo chí trước yêu cầu mới; Cơ cấu tổ chức Chính phủ nhiệm kỳ Quốc hội khoá XII; Giới thiệu nhân sự lãnh đạo các cơ quan nhà nước để Quốc hội xem xét, quyết định.”

Nhưng “đổi mới” như thế nào ? Có thay “cái cũ” bằng “cái mới” hay cứ nói “đổi mới” mà vẫn làm như cũ ?

Mạnh nói trong buổi khai mạc Hội nghị V ngày 5-7 (2007) : “Như các đồng chí đã biết, trong phương hướng, mục tiêu xây dựng Đảng, Nghị quyết Đại hội X đã xác định phải đổi mới và hoàn thiện phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị. Đây là một nhiệm vụ hết sức quan trọng. Việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng phải đồng bộ với đổi mới tổ chức và hoạt động của cả hệ thống chính trị, đồng bộ với đổi mới kinh tế; thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức, sinh hoạt và hoạt động của Đảng. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước là khâu mấu chốt, cần tiếp tục quán triệt và thực hiện tốt các nguyên tắc chung đã được xác định là : Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng đường lối, quan điểm, các nghị quyết; lãnh đạo thể chế hoá, cụ thể hoá thành Hiến pháp, pháp luật, kế hoạch, các chương trình công tác lớn của Nhà nước; phải bố trí đúng cán bộ và thường xuyên kiểm tra việc tổ chức thực hiện. Đảng lãnh đạo nhưng không bao biện, làm thay Nhà nước; trái lại, phát huy mạnh mẽ vai trò chủ động, sáng tạo của Nhà nước trong quản lý đất nước và xã hội.”

Mạnh nói tiếp : “Theo hướng đó, khẩn trương xây dựng, hoàn thiện hệ thống văn bản quy định cụ thể về nguyên tắc, nội dung và cơ chế Đảng lãnh đạo đối với Nhà nước trong từng lĩnh vực : lập pháp, hành pháp, tư pháp và từng cấp, từng loại hình tổ chức nhà nước.”

“Đối với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân, Đảng định hướng và tạo điều kiện để Mặt trận và các đoàn thể xác định đúng mục tiêu, phương thức hoạt động; đồng thời, phát huy tinh thần dân chủ, sáng tạo trong xây dựng, đổi mới tổ chức và hoạt động của mình. Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị, đi đôi với phát huy trách nhiệm của các tổ chức và người đứng đầu các tổ chức trong hệ thống chính trị về công tác cán bộ; thực hiện luân chuyển cán bộ, khắc phục tình trạng khép kín, cục bộ về cán bộ. Tăng cường trách nhiệm của cán bộ, đảng viên là thủ trưởng cơ quan nhà nước... Việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị phải thường xuyên gắn với đổi mới phong cách và lề lối làm việc ở từng cấp theo hướng thật sự dân chủ, thiết thực, nói phải đi đôi với làm.”

NĂM SAU XẤU HƠN NĂM TRƯỚC

Nói như vậy thì đảng đã “bao trùm” từ gốc đến ngọn chưa hay mới lưng chừng một nửa ?

Nhưng tại sao mãi tới bây giờ, hơn một năm sau ngày Đại hội X (4/2006) mà cấp Lãnh đạo vẫn còn loay hoay chưa biết bắt đầu công tác “Xây dựng đảng” (XDĐ) từ chỗ nào ?

Trong Báo cáo XDĐ của khóa IX, cũng do Mạnh làm Tổng Bí thư, Ban chấp hành đảng đã báo cáo trước đại hội : “Dân chủ trong Đảng và trong xã hội còn bị vi phạm. Kỷ cương, kỷ luật ở nhiều cấp, nhiều lĩnh vực không nghiêm. Sự đoàn kết, nhất trí ở không ít cấp ủy còn yếu. Quan hệ giữa Ðảng và nhân dân có lúc, có nơi bị xói mòn do những hạn chế, yếu kém trong công tác tư tưởng chính trị, công tác vận động quần chúng, công tác tổ chức cán bộ, công tác quản lý nhà nước và những khó khăn phát sinh trong quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế - xã hội.”

“Không ít tổ chức đảng yếu kém, nhất là ở cơ sở, không làm tròn vai trò hạt nhân chính trị và nền tảng của Ðảng, không đủ sức giải quyết những vấn đề phức tạp nảy sinh từ cơ sở, thậm chí có những tổ chức cơ sở đảng tê liệt, mất sức chiến đấu. Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, kể cả một số cán bộ chủ chốt các cấp, yếu kém cả về phẩm chất và năng lực; thiếu tính chiến đấu và tinh thần bảo vệ quan điểm, đường lối của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, giảm sút lòng tin, phai nhạt lý tưởng; một số ít có biểu hiện bất mãn, mất lòng tin, nói và làm trái với quan điểm, đường lối của Ðảng, vi phạm nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Ðảng, vi phạm pháp luật của Nhà nước.”

“Bệnh cơ hội, chủ nghĩa cá nhân trong một bộ phận cán bộ, đảng viên có chiều hướng gia tăng; vẫn còn tình trạng "chạy chức", "chạy quyền", "chạy tội", "chạy bằng cấp". Thoái hóa, biến chất về chính trị, tư tưởng, về đạo đức, lối sống; tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, sách nhiễu dân trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên diễn ra nghiêm trọng, kéo dài chưa được ngăn chặn, đẩy lùi, nhất là trong các cơ quan công quyền, các lĩnh vực xây dựng cơ bản, quản lý đất đai, quản lý doanh nghiệp nhà nước và quản lý tài chính, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Ðảng. Ðó là một nguy cơ lớn liên quan đến sự sống còn của Ðảng, của chế độ.”

“Cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, tự phê bình và phê bình trong các cấp ủy, tổ chức đảng, đảng viên chưa đạt yêu cầu đề ra, chưa tạo được chuyển biến cơ bản, chưa góp phần tích cực ngăn chặn và đẩy lùi tệ tham nhũng, lãng phí, quan liêu. Một số cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp chưa nêu gương, chưa làm tròn trách nhiệm trong đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu. Việc xử lý kỷ luật đối với những người đứng đầu để xảy ra tham nhũng, lãng phí ở ngành, địa phương, đơn vị chưa kịp thời, kiên quyết.”

Ô hay, trong 5 năm cầm quyền (2001-2006), Mạnh và Ban Chấp hành khóa IX chỉ “ăn không ngồi rỗi”, không có việc gì làm hay chỉ biết ăn mà không chịu làm nên xấu xa mới tồn tại ngổn ngang đến thế ?

Nhưng trước Mạnh, những tệ nạn trong đảng chưa xây dựng nổi cũng đã tồn tại từ khóa VII, được Tổng Bí thư Đỗ Mười trao lại cho Lê Khả Phiêu khóa VIII. Hết hạn, không giải quyết nổi Phiêu lại đổ sang cho Mạnh tại Đại hội khóa IX (19-04-2001).

Phiếu báo cáo : “Trong công tác xây dựng Đảng, bên cạnh những ưu điểm, đang nổi lên một số mặt yếu kém và khuyết điểm, nhất là khuyết điểm về công tác giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên, chưa ngăn chặn và đẩy lùi được sự suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức, lối sống. Một số tổ chức đảng ở các cấp chưa được chỉnh đốn; dân chủ bị vi phạm, kỷ luật, kỷ cương lỏng lẻo, nội bộ không đoàn kết; chất lượng sinh hoạt đảng giảm sút. Công tác tư tưởng, công tác lý luận còn yếu kém, bất cập; công tác tổ chức, cán bộ còn một số biểu hiện trì trệ. Việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng còn lúng túng, chưa đi sâu làm rõ đặc điểm và yêu cầu về sự lãnh đạo của Đảng trong điều kiện Đảng cầm quyền, chưa phát huy đầy đủ hiệu lực quản lý của các cơ quan nhà nước, tính tích cực của các đoàn thể và quyền làm chủ của nhân dân. Tổ chức chỉ đạo thực hiện và kiểm tra việc thực hiện các nghị quyết của Đảng và pháp luật của Nhà nước còn yếu.”

Phiêu bảo: “Những khuyết điểm nêu trên là do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, trực tiếp và chủ yếu là do nhiều cấp uỷ và tổ chức đảng, kể cả Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị, tuy đã có nhiều cố gắng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nhưng chỉ đạo chưa tập trung và kiên quyết; chủ trương, biện pháp thiếu đồng bộ; chưa chỉ đạo tốt việc kết hợp tự phê bình và phê bình với kiện toàn tổ chức, đổi mới cơ chế, chính sách, chỉnh đốn các khâu quản lý kinh tế, tài chính và tăng cường công tác giáo dục, quản lý cán bộ, đảng viên...”

Phiêu khuyến cáo đảng phải : “Chống tư tưởng cơ hội, thực dụng. Trên cơ sở tổng kết hai năm thực hiện cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, tiếp tục đưa việc tự phê bình và phê bình trong các cấp uỷ và tổ chức đảng từ Trung ương đến cơ sở thành nền nếp thường xuyên và theo định kỳ, không làm qua loa, chiếu lệ, hình thức; vận động nhân dân góp ý phê bình cán bộ, đảng viên….Đẩy mạnh tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận, thảo luận dân chủ, sớm làm rõ và kết luận những vấn đề mới, bức xúc nảy sinh từ thực tiễn; từng bước cụ thể hoá, bổ sung, phát triển đường lối, chính sách của Đảng; đấu tranh với những khuynh hướng tư tưởng sai trái...”

Nhưng tại Đại hội X, tài liệu đảng vẫn viết : “Công tác tổ chức trên một số mặt còn yếu; chưa thực hiện đầy đủ các nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Ðảng. Chậm xây dựng, hoàn thiện tổ chức và cơ chế giám sát trong Ðảng và trong hệ thống chính trị, giám sát của nhân dân đối với hoạt động của Ðảng, Nhà nước và cán bộ, đảng viên. Còn thiếu những quy chế cụ thể bảo đảm phát huy dân chủ, thực hiện đúng đắn nguyên tắc tập trung dân chủ. Một số cấp ủy, tổ chức đảng và cán bộ lãnh đạo thiếu tôn trọng và phát huy quyền của đảng viên, ít lắng nghe ý kiến cấp dưới; cán bộ lãnh đạo ở một số nơi gia trưởng, độc đoán, chuyên quyền, mất dân chủ hoặc dân chủ hình thức...”

“…Việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng còn chậm và lúng túng. Chậm nghiên cứu và ban hành những quy định cụ thể về phương thức Đảng lãnh đạo Nhà nước; chậm xây dựng các cơ chế phối hợp giữa các tổ chức trong hệ thống chính trị. Thiếu những quy định cụ thể bảo đảm thực hiện đúng đắn nguyên tắc tập trung dân chủ, phát huy dân chủ trong Ðảng. Chưa thực sự coi trọng đổi mới phong cách, lề lối làm việc, thực hiện nói đi đôi với làm; tình trạng nói nhiều làm ít, né tránh, đùn đẩy trách nhiệm còn diễn ra ở nhiều nơi.”

Như vậy thì cái đảng này đã và đang làm gì cho đất nước và dân tộc từ 32 năm qua ? Họ “đổi mới” kinh tế để tồn tại, nhưng lại lạm dụng sự thành công để nuôi dưỡng tham nhũng, làm giầu cho thiểu số lãnh đạo, để cho các tệ nạn xã hội tự do sinh sôi nẩy nở làm băng hoại đời sống văn hóa và tinh thần của người dân, nhất là thế hệ trẻ.

Nếu tính từ thời Đỗ Mười làm Tổng Bí thư đảng năm 1991 thì đảng CSVN đã trải qua 16 năm không “chỉnh đốn, xây dựng” được những chứng hư tật xấu của cán bộ, đảng viên, trong đó hành dân lấy tiền là chính.

Cũng trong những năm này, họ đã kiên quyết duy trì “tập trung dân chủ” để nuôi dưỡng độc tài đảng trị, tiêu diệt tự do ngôn luận, xâm phạm nhân quyền và vi phạm các quyền dân chủ hiến định cho chính họ viết trong Hiến pháp.

Do đó, dù kết qủa của Hội nghị V có hứa hẹn gì chăng nữa nhưng nếu đảng vẫn độc quyền lãnh đạo, không chịu trả quyền làm chủ đất nước cho nhân dân thì bộ mặt đen đuốc của Việt Nam vẫn cứ như bây giờ.

Sự gian dối, thêm, bớt của báo chí trong nước, cách riêng hai tờ Nhân Dân và Tuổi Trẻ, trong bài tường thuật lại cuộc phỏng vấn Chủ tịch Nước Nguyễn Minh Triết của đài truyền hình Mỹ, CNN, trong vụ Linh mục Nguyễn Văn Lý bị bỏ tù đã khiến Hội đồng Giám mục Việt Nam phải lên tiếng phủ nhận đã chứng minh điều này .

Giám mục Phaolô Nguyễn Văn Hòa,Chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Việt Nam viết thư gửi Nguyễn Minh Triết:

“Thay mặt Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, tôi kính gửi lời thăm Cụ và thưa Cụ việc sau đây :

“Nhân đọc trong báo “Tuổi Trẻ“, số ra ngày 6 tháng 7 năm 2007, tại trang 3, liên quan đến vụ xét xử Linh mục Nguyễn Văn Lý,

“Hội Đồng Giám Mục Việt Nam nhận định như sau :

Câu trả lời của Cụ Chủ tịch Nước Nguyễn Minh Triết “Hội Đồng Giám Mục Việt Nam và Tòa Thánh Vatican cũng đồng tình với chúng tôi “ là không đúng sự thật”.

Thật ra thì trong bài Phỏng vấn của CNN, không có câu nói của Triết, nhưng Triết vẫn để cho báo chí trong nước bịa ra tin bịp bợm để đánh lừa dư luận.

Việc này xẩy ra chỉ một ngày sau khi Mạnh khai mạc Hội nghị V của Ban Chấp hành Trung ương đảng để bàn về công tác “khắc phục những biểu hiện lệch lạc trong hoạt động báo chí, xuất bản, văn hóa, văn nghệ” thì còn gì xấu hổ hơn không ?

Phạm Trần
(07/07)

Thứ Năm, 12 tháng 7, 2007

Ghét Mỹ

Ghét Mỹ là một hiện tượng thường thấy ở nhiều nước, nhiều người. Ở những quốc gia thiên tả, những lãnh tụ thiên tả, - dĩ nhiên là bao gồm cả những nước cộng sản như Việt Nam ngày nay, và dân tộc trong các nước ấy, vì bị tuyên truyền nên đâm ra ghét Mỹ. “Đế quốc Mỹ xâm lược nước ta là kẻ thù của nhân dân ta” là bài học đầu tiên trong tất cả các trại cải tạo.

Đây không phải là bài học mới dành cho người miền Nam đi tù cải tạo sau 1975 mà là một đề tài giáo dục chính trị căn bản ở miền Bắc đã có từ trước 1975. Tại những quốc gia, những nước tư bản phát triển, những nước đang phát triển hoặc nghèo đói, không phải là không ghét Mỹ. Mỗi nơi, mỗi nước có những lý do khác nhau nhưng lý do thường thấy nhứt là cạnh tranh quyền lợi, là Mỹ hay “chơi cha, chơi ép” người ta, có khi bị Mỹ hăm dọa bằng vũ lực. Người ta ghét Mỹ vì Mỹ là “Tên sen-đầm quốc tế”, nhưng có môt lý do thông thường nhất là Mỹ giàu. Nước nghèo ghét nước giàu tuy vẫn ngữa tay nhận viện trợ. Người nghèo ghét người giàu là tâm lý thông thường. Tuy ghét Mỹ nhưng bị “Mỹ hóa” khá nhanh, khoái mặc quần jean và khoái làm bộ nghênh ngang như mấy chàng Cowboy, nhưng trí óc những người bị Mỹ hóa nấy thì rỗng tuếch. Vì rỗng tuếch nên dễ bị Mỹ hóa.

Điều đáng ghét là người ta ghét Mỹ là vì theo “mốt”. Cái “mốt” thường thấy, rất đáng ghét là người ta phải ghét Mỹ để chứng tỏ ta đây là người “trí thức tiến bộ”.

Ở miền Nam trước đây, tâm lý ghét Mỹ cũng là điều thường thấy, ngay cả trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Không ít người đăng lính, đi sĩ quan từ khi Quân Đội Quốc Gia mới thành lập, nghĩa là trước 1955, khi Tây đang còn, thì không ưa Mỹ. Khi Hùng móm, em út tôi tử trận năm 1972, một đại tá Sư Đoàn Dù đến làm lễ và gắn Bảo Quốc Huân Chương, tôi thấy ông đưa tay lên chào trước bàn thờ, lòng bàn tay ngữa ra phía trước, giống như cách chào của lính Pháp. Lòng bàn tay không úp xuống như của Quân Đội Cộng Hòa, giống cách chào của lính Mỹ. Tôi hơi ngạc nhiên nhưng sau đó tôi hiểu. Tôi đoán chừng ông nầy xuất thân từ văn hóa Pháp, từ lò của Pháp, không ưa Mỹ cũng là một tâm lý thông thường. Tôi không nói sai, bởi vì ảnh hưởng văn hóa là điều khá quan trọng. Một người bạn của tôi, nguyên là bác sĩ trước 1975 ở Saigon, đã đi du lịch Trung Hoa và Pháp. Khi du lịch Trung Hoa, vì đi theo tour nên không ghé lại Cô Tô để xem Hàn Sơn Tự như anh ta mong muốn. Khi qua Paris, nhìn sông Seine và đi thăm vườn Lục Xâm Bảo, anh thấy có một cái gì đó rất gần gủi, thân quen, không cảm thấy xa lạ. Tôi nghĩ anh ấy không đến xem Cô Tô và Hàn Sơn Tự là hơn, bởi khi thấy ngôi chùa nhỏ, rêu phong, không có gì tráng lệ, hùng vĩ hay có được một khung cảnh đẹp và êm đềm như anh từng tưởng tượng, anh sẽ thất vọng. Đọc “Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn tự, Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền”, anh tưởng là một cái gì đẹp lắm, hùng vĩ lắm, mênh mông lắm, xa vắng như tiếng chuông chùa vang vọng trong đêm khuya. Khi thấy thực tế, anh sẽ thất vọng. Ngược lại, đến vườn Lục Xâm Bảo, anh sẽ thấy lại hình ảnh chú bé hai tay đút túi, vừa đi vừa nhảy nhót như con chim sẻ như Anatole France đã mô tả, hay anh thấy sông Seine giống như trong “Mùa Thu Không Trở Lại” thì dĩ nhiên anh thấy linh hồn mình trong đó, vì anh học Pháp văn từ Cour Enfantin.

Chịu ảnh hưởng một văn hóa, yêu nó, điều đó không có gì lạ, không có gì xấu. Thế không hơn những người không có một chút văn hóa, văn học nào cả thì sao?! Nhưng cách chào ngữa lòng bàn tay ra phía trước như ông đại tá nói trên thì tôi cho là sai. Chúng ta không trôi theo giòng thì thôi, lên bờ mà đi xe hay đi bộ, còn đã trôi theo giòng thì “nhập giang tùy khúc, nhập gia tùy tục”. Cuộc sống nhiều khi khá phức tạp và rất khó xử. Khổng Tử nói: “Đời đục cả, ta trong làm sao được?” Nhưng nhà thơ Hữu Loan thì lại không chịu. Ông ta không thể bẻ cong ngòi bút để phục vụ “Chúng nó” được. Vì vậy cho nên ông phải đi đánh dậm, phải chạy xe đạp ôm. Cũng được đi, ông chấp nhận! Nhưng điều đau khổ với ông là “Chúng nó” không cho con ông đi học. Con cái những tên phản động không được học cao, biết đọc, biết viết là được rồi. Chính sách của “Chúng nó” là vậy! Con ông không có cơ hội đi học, chúng thất học. Đó là điều đau khổ cho ông. Gặp lại bạn bè cũ và những người hâm mộ thơ ông ở Saigon sau 1975, ông than thở: “Khổng Tử đúng mới chết chứ!” Nhìn chung, theo hay không theo hoàn cảnh sống là điều khó xử.

Đọc “Mùa Hè Đỏ Lửa” của Phan Nhật Nam, đoạn tác giả gặp Robert Lửa, người ta cũng thấy những sĩ quan trẻ hơn, trưởng thành sau khi miền Nam đã có nền Cộng Hòa, cũng ghét Mỹ, ghét cố vấn Mỹ. Khi ghét thì cúp phần ăn của nó, “Cho nó đói”, cúp luôn cả “tà-lọt”. Trong khi cố vấn Mỹ có gì đáng ghét chăng? Hễ khi đụng trận rồi, cấp chỉ huy của ta yêu cầu gì thì cố vấn Mỹ “Yes, Sir” lia lịa. Ngay cả đoạn tác giả “chưởi lộn” với một tên cán bộ Cộng Sản qua máy truyền tin là một đoạn rất hay, khiến cho tên cán bộ Cộng Sản im re, không dám lên máy nữa, ta cũng thấy cái tâm lý ghét Mỹ ở một số người. Tác giả kêu “Đ. M. Đế quốc Mỹ” và thách anh cán bộ Cộng Sản có dám kêu Nga, Tàu ra mà chưởi hay không. Tên cán bộ chịu thua.

Khi còn ở Huế, tôi thấy một số được gọi là “trí thức tiến bộ Huế” ghét Mỹ là vì đó cái “mốt” để chứng tỏ ta đây “hơn người” chứ không có lý do gì chánh đáng gì hết. Họ cho rằng thiên tả là tiến bộ; thiên hữu là chịu làm tay sai cho đế quốc Mỹ. Không ghét Mỹ là chịu làm tay sai cho đế quốc Mỹ. Việc nầy rất thiên lệch, không vô tư chút nào! Trịnh Công Sơn viết “Đàn bò vào thành phố” là muốn ám chỉ lính Mỹ đến Huế. Còn Việt Cộng vào thành phố (Huế) năm Mậu Thân và chôn sống năm ngàn người thì là gì đây? Hoàng Phủ Ngọc Tường, cũng là một “trí thức tiến bộ Huế”, thì gọi năm ngàn người ấy là “những con rắn độc”.

Ghét, thương, v.v... là tình cảm, nhưng khi ta ghét thương ai thì sự ghét thương đó phải được dẫn dắt bằng lý trí. Nếu chúng ta để cho tâm hồn mình dẫn dắt bằng cảm tính mà không bằng lý tính thì không thể gọi là người hiểu biết được, chưa nói là tự xưng mình là “trí thức tiến bộ” như mấy ông Huế tôi nói ở trên. Cổ nhân dạy: “Nhân bất học bất tri lý” Học là để biết, để suy xét, suy nghĩ về những việc xảy ra quanh ta và ứng xử làm sao cho đúng, không để tình cảm lôi kéo nhiều khi làm cho chúng ta có những hành động thiếu hợp lý, sai trái.

Thật ra, nhiều khi người Mỹ cũng có những thái độ đáng ghét. Đáng ghét cho người nầy và người khác thì thích thú khâm phục, tùy vị trí khác nhau.

Khi tôi ở trại tỵ nạn Sungei Beshi bên Mã Lai, một hôm có “Phái đoàn Mỹ” tới. Thông báo là “Phái đoàn Mỹ” nhưng thật ra chỉ có một mình anh chàng Arlington. Người ta đồn anh nầy nguyên là trung tá Thủy Quân Lục Chiến Mỹ, nay giải ngủ, làm việc cho INS, đến trại để xét hồ sơ cho đi định cư ở Hoa Kỳ. Có người đốn anh ta là nhân viên CIA. Buồn cười là khi anh ta xuống xe vào trại, thấy một đoàn người ăn mặc chỉnh tề, sắp hàng trước sân Task Force (Chỉ huy trại), mỗi người cầm một tờ giấy. Anh ta hỏi thì được biết rằng những người ấy bị tội “Ăn thịt heo” nên bị phạt phải trình diện Task Force, mỗi ngày ba lần. Arlington thu hết các giấy trình diện, xé rách, vụt xuống đất rồi đuổi mọi người về, khỏi trình diện gì cả. Đám người vui mừng, cười nói ra về. Ai ra vào trại đều ký tên vào một cuốn sổ để sẵn ở cửa chính. Không những không ký tên vào sổ, anh ta còn bước tới lật bìa úp cuốn sổ lại, đi thẳng vào văn phòng Cao Ủy, chỗ anh ta sẽ làm việc. Vào tới nới, anh ngồi “vách đốc củ tỏi”, lấy thuốc ra hút. Bà Cao Ủy Delle, người Thái Lan, đem tới cho anh ta cái gạt tàn thuốc, anh gạt qua một bên, tiếp tục gạt tàn thuốc xuống nền nhà. Dĩ nhiên, theo tâm lý “bị trị”, những người trong trại tỵ nạn thì thích anh ta lắm, còn đám Mã Lai thì coi anh ta như cái gai nhưng không làm gì được. Qua câu chuyện như thế, ghét Mỹ hay thích Mỹ, thương Mỹ cũng tùy mỗi người mỗi hoàn cảnh khác nhau, và người ta có những lý do, nhận định chủ quan theo lăng kính của mình.

Cũng chưa hết chuyện anh chàng Arlington nầy. Anh ta phỏng vấn một người đàn bà có chồng ở Mỹ, qua loa vài câu, anh ta cho bà ra khỏi phòng, người con gái vào để anh ra phỏng vấn tiếp. Khi cô gái ra khỏi phòng, bà mẹ lo lắng chờ sẵn ngoài cửa, bà hỏi: “Thằng Mỹ hỏi mày sao? Nó hỏi mầy sao?” Arlington gọi bà ta vào, nói tiếng Việt với bà, không qua thông dịch viên nữa: “Tôi gọi bà bằng bà, gọi con gái bà bằng cô. Tại sao bà gọi tôi bằng nó, bằng thằng?” Bà mẹ hoảng hồn, sụp lạy Arlington: “Tui lạy ông. Tui lạy ông. Tui lỡ lời.” Ai bảo bà mẹ nói trên không có tâm lý ghét Mỹ? Bà ghét Mỹ mà không biết mình ghét Mỹ. Bà nói theo thói quen của người Việt Nam. Người ta nói người Việt hiếu khách, nhưng quả thật họ có tâm lý ghét người ngoại quốc. Sau lưng, họ ít khi gọi tới người ngoại quốc một cách lịch sự. Người Tàu thì gọi là chú Ba. Người Ấn thì gọi là Anh Bảy Chà. Người Pháp, Mỹ mắt xanh mũi lõ thì đều gọi bằng thằng hết. Chú Ba, Anh Bảy hay Thằng Pháp, thằng Mỹ đều là những tiếng bày tỏ sự ghét, hoặc không ghét thì ít ra cũng không mấy ưa. Tâm lý đó do đâu? Vì tổ tiên chú Ba đô hộ ta một ngàn năm? Vì thực dân Pháp cai trị ta một trăm năm? Còn Anh Bảy, Anh Mỹ thì sao? Anh Bảy ở Saigon ngày xưa thì cho vay nặng lãi và kêu police Tây đuổi nhà lấy đất ở mấy xóm lao động. Mỹ thì cũng mắt xanh, mũi lõ, nên khi người ta ghét Tây thì cũng không ưa những kẻ ngoại hình giống Tây.

Có những người ghét Mỹ mà người ta cũng khó hiểu được lý do! Ông bạn tôi kể lại người hàng xóm của anh ghét Mỹ số một. Hễ mở miệng ra là “Tui ghét Mỹ lắm!”, nhưng không biết lý do tại sao anh ta ghét Mỹ dữ vậy. Hỏi quê quán thì quê anh ta ở một trong những cái hòn trong vịnh Rạch Giá: Hòn Lại Sơn, Hòn Tre, Hòn Nghệ, Hòn Ngang, Hòn Đầm, v.v... Tôi nói với người bạn: “Dân ở hòn thì tôi cũng có biết sơ qua. Hồi chế độ cũ, ít người cầm súng đánh nhau với Việt Cộng. Quân đội, Cảnh Sát có lùng bắt những người trốn quân dịch thì họ leo tuốt lên núi, khó “nắm cổ” chúng nó được. Dĩ nhiên, họ ghét những người đi lùng bắt họ đi lính. Họ ghét quân đội, cảnh sát thì cũng dễ sinh ra ghét chính quyền miền Nam. Cũng từ đó, đâm ra ghét Mỹ. Đến khi vượt biên thì họ ở biển, dễ vượt biên hơn người khác và khi đến trại tỵ nạn thì chỉ xin đi định cư ở... Mỹ. Người hàng xóm của anh bạn tôi, “ăn eo-phe” từ ngày qua Mỹ (Khai là bị cụp xương sống. Kéo lưới từ khi 5, 10 tuổi thì khai cụp xương sống rất dễ... ăn) về công việc thì chỉ làm... “tiền mặt”. Vài năm một lần về quê mua đất xây nhà, v.v... Anh bạn Nam Bộ của tôi dễ nóng tính. Kể xong những “thành tích” của người hàng xóm, thay vì chưởi người hàng xóm thì anh bạn bỗng chưởi Mỹ: “Cái nước Mỹ nầy nó ngu không chịu được. Mấy thằng phản phúc như vậy mà nó đem về nuôi như nuôi ông nội, ông ngoại nó.”

Tôi cười: Thằng nầy chỉ mới có cái tội không chịu làm “lính đánh thuê” cho Mỹ. Còn những thằng trước kia ở Bắc vĩ tuyến 17 bắn rơi cả chục chiếc “Con Ma”, “Thần Sấm” cũng được Mỹ đem về nuôi rất kỹ thì sao?”

Có thể đó là những kẻ ít học. Những người có học khá hơn chăng?

Sau vụ 11 tháng 9, tôi đến thăm một người quen, trước kia ở Việt Nam là bác sĩ, qua Mỹ chuyển nghề dạy học song ngữ (Tôi sợ không dám nhận ông nầy là bạn. Ông nầy vượt biên). Khi tôi tới, ông đang ngồi nói chuyện với một người bạn của ông ta, ông thứ hai nầy là giáo sư đại học, một “trí thức tiến bộ” Huế qua Mỹ theo chương trình H.O. Hai ông nói với tôi rằng vụ 11 tháng 9 là “Đáng đời thằng Mỹ hay hiếp đáp người ta!” Tôi hỏi khắc: “Mấy ông nói vậy thì vụ Mỹ Lai có đáng đời cho người Việt không? Đất Mỹ Lai là đất Chiêm Thành. Tổ tiên người Việt cướp đất người Chiêm. Vậy người Việt chết ở đó có đáng đời họ chớ gì?” Hai người kia biết tôi không phải là “trí thức tiến bộ” nên làm thinh.

Chiến tranh vốn dĩ đã tàn bạo. Thay vì người ta phải làm cho nó bớt tàn bạo đi thì lại giết người dân vô tội nên làm cho chiến tranh tàn bạo hơn. Khi kẻ địch bỏ súng xuống đầu hàng là không được giết họ. Đó không những là luật pháp quốc tế mà còn là lương tâm. Nhân loại sở dĩ tồn tại là nhờ có lương tâm. Không có lương tâm thì ngày nay nhân loại còn sống trong hang động chớ không thể có xe hơi, nhà cửa đầy đủ tiện nghi như “các ông ấy” đang ở. Thú thiệt, từ đó, tôi không muốn gặp các ông “trí thức tiến bộ” đó nữa.

Không ai có thể bắt chúng ta phải ghét người nầy, thương người kia, ngoại trừ... Việt Cộng. Ghét thương là chuyện thường. Ông nào đạt tới “thiền” thì bỏ ra ngoài tâm mình chữ ghét, chữ thương.

Điều nầy không quan trọng bằng “tri lý”. Ghét cũng có cái lý của nó mà thương cũng có cái lý của nó. Lý tính là dùng trí óc suy xét. Còn nếu như để cho cái cảm tính làm chủ, để nó lôi kéo mình mà không dùng trí óc suy nghĩ cho ra lẽ phải, trái, đúng, sai thì kẻ vô học sinh ra và lớn lên ở hòn, trường học có khi không có cả lớp 1, lớp 2 thì kẻ vô học đó và ông bác sĩ cũng như ông giáo sư đại học tôi nói ở trên đều giống nhau.

Tuệ Chương/Hoàng Long Hải

Ngôn Ngữ Saigon

Đọc lá thư của bạn kể kỳ rồi về Saigon, đi đâu cũng nghe người ta nói ''không dám đâu'', ''biết chết liền''...thật buồn cười.

Những chuyện chữ nghĩa như thế rất nhiều. Bạn ở xa về lạ tai nhưng người trong nước nghe hoài mỗi ngày, câu cửa miệng nói hoài hằng ngày nên chẳng bao giờ để ý ngẫm nghĩ ý nghĩa và âm thanh để thấy buồn cười hay không. Trên trang viết, điều ấy cũng hiển hiện khá rõ. Một ông chủ bút có nhận xét đọc truyện từ Saigon gửi đi biết ngay người viết được đào tạo sau 75, lớn lên sau 75 trong khi một ông chủ bút khác lại nhận xét tác giả hẳn là một ông Bắc-kỳ thời tiền chiến chứ không phải một cô nương được sinh ra nơi xứ miền Nam thừa thãi gió và nắng vàng.

Chắc chắn sống ở Saigon ba mươi năm nay, ít nhiều gì dân Saigon và dân tứ xứ nhập cư cũng phải chịu ảnh hưởng, nói chính xác hơn, bị áp đặt phải dùng loại ngôn từ của nhà nước để giao tiếp với nhau vì các phương tiện thông tin đại chúng: báo chí, truyền thanh, truyền hình, loa phóng thanh, internet...đều chỉ dùng một cách nói như vậy. Thí dụ như để ''quay'' bài trong phòng thi, thí sinh dùng tài liệu giấu giếm ngày xưa gọi là ''bùa'', nhưng bây giờ là ''phao''. Mới đầu nghe ''phao'' không quen, thật chướng tai. Nhưng rồi bắt buộc ai cũng phải dùng bởi nói ''bùa'' thì nhiều người trẻ không hiểu. Từ ngữ và cách diễn đạt rập khuôn ra rả và đầy dẫy khắp nơi bất cứ lúc nào nên khi chuyện trò với nhau, người ta lập lại như cái máy không thể khác đi.

Cứ nói năng không suy nghĩ theo một kiểu để một hôm nào đó ngồi chơi nghĩ lại bỗng bật cười không hiểu sao ngôn ngữ của mình trở nên kỳ cục vậy. Những cuộc chuyện trò thường có vẻ cứng ngắc vì hay bị xen vào bởi: ''em xin có ý kiến'' kiểu áo này đẹp hơn, và sau đó: ''xuất sắc hoàn thành nhiệm vụ được giao là''...đi chợ, bồng em; ''nhất trí'' hẹn hò chiều nay, ''kiểm điểm rút kinh nghiệm'' sau hai lần tới trễ... Trong bữa ăn, không phải nhận xét mà là ''phê bình, góp ý'' các món ăn xem món nướng nào ''đạt chỉ tiêu chất lượng'' và món kho nào ''cần phấn đấu''... để lạt bớt!!!

Có điều, một số ít từ ngữ không còn mang đúng ý nghĩa ban đầu. Trong câu chuyện đùa cợt, ''Thưa cán bộ'' là câu nói mở đầu đầy hài hước, ''đồng chí'' là đồng đảng khi rủ rê nhau họp mặt nhậu nhẹt hoặc lẻn cúp giờ...mang đầy ý giễu cợt. Chỉ những người già rút lui vào nhà, không có nhiều mối quan hệ ngoài xã hội mới giữ được hoàn toàn cách diễn đạt với những ngôn từ cũ.

Có điều rất khó để giữ như vậy. Tiếng Việt như mọi ngôn ngữ khác đang được cả một dân tộc hiện dùng. Ngôn ngữ mang sự sống trong lòng, chính bản thân ngôn ngữ là sự sống nên luôn luôn thay đổi. Nhiều chữ ít dùng dần dần bị mất đi và nhiều chữ mới được thêm vào tùy theo thời gian, hoàn cảnh lịch sử, xã hội thay đổi...Miền Nam nói chung, thành phố Saigon nói riêng đã rẽ một bước ngoặt lớn, bị đào xới, bật gốc. Vô số chữ từ miền Bắc du nhập vào miền Nam và từ trong lòng Saigon, ngôn ngữ tự nó cũng có nhiều thay đổi.

Tuy nhiên dù hoài cổ cách mấy, một số chữ mang ý nghĩa mới bắt buộc phải dùng vì không có chữ cũ tương đương. Ví dụ vô số chữ dùng trong lĩnh vực máy tính dĩ nhiên trước 75 không có. Marketing cũng là một từ mới như vậy, dịch sang tiếng Việt là tiếp thị, không đồng nghĩa với quảng cáo vì nó không hẳn chỉ là quảng cáo, hay như chữ slogan, poster trong quảng cáo...chẳng hạn, trước kia chưa từng xuất hiện những ý niệm này và báo chí Saigon hiện nay thường giữ nguyên khi nhắc tới. Không phải chữ nào cũng tìm cách để dịch sang chữ Việt được vì như vậy đôi khi trở nên rườm rà, nôm na và không diễn đạt hết ý. Vì thế rất ít chữ vẫn giữ nguyên gốc là chữ ngoại quốc nhưng hầu hết đều tìm được chữ mang nghĩa tiếng Việt tương đương. Dù bằng cách nào thì điều đó cũng làm giàu thêm cho ngôn ngữ Việt. Nếu không có sự thay đổi như vậy hẳn đó phải là một tử ngữ. Những ngôn ngữ chừng nào con người còn xử dụng trong đời sống hằng ngày thì vẫn phập phồng hơi thở của cuộc sống, như giòng nước vận động, chảy trôi mạnh mẽ. Cốt lõi giữ nguyên nhưng dĩ nhiên không thể có sự bất biến trong ngôn ngữ đó. Ngôn ngữ cũng phản ảnh không gian và thời gian hết sức rõ ràng nơi nó tồn tại.

Người miền Bắc không nói ''sức mấy'' và người miền Nam không nói ''bức xúc''. Việt kiều không nói ''không dám đâu'' và dân Saigon không nói OK... Tuy nhiên chắc chắn là vô tình trong một số bài viết, ngay cả của các vị lớn tuổi gần đây, độc giả vẫn có thể đọc thấy rải rác đây đó ''bức xúc, ''tư duý, ''tranh thủ''...không nằm trong ngoặc kép. Bởi vì đó là những chữ quá quen thuộc trong cuộc sống hàng ngày của người trong nước. Thậm chí ''chữ'' dùng nãy giờ cũng có sự khác biệt trước và sau này. HOA là một từ, H là một chữ. Nhưng trước kia HOA là một chữ còn H là một chữ cái... Đúng là trên trang viết, có thể đoán được nơi chốn và thời kỳ tác giả đã trải qua.

Lần đầu tiên cầm một tờ báo VN hải ngoại rồi vài số báo khác sau đó nữa gửi về, tôi rất ngạc nhiên. Thật khó diễn tả được cảm xúc lúc bấy giờ. Giống như sau nhiều dâu biển, phía bên kia của xa cách thăm thẳm là người quen. Gọi là gì nhỉ, góc chân dung của một quãng lịch sử, một quãng đời, mảnh tin bất ngờ từ nơi đâu một chốn bao la gửi về. Thời gian của lúc thơ ấu, của thuở mới lớn bao giờ cũng gắn chặt, nhớ sâu trong lòng hơn những giai đoạn cuộc đời về sau, nên cảm xúc đó như là bồi hồi, hoài nhớ...

Những hình ảnh, kỷ niệm của quãng thời gian đó hiển hiện trong tờ báo với hình thức và cách diễn đạt, lối hành văn và nội dung giống y trước kia, hoặc không giống y thì cũng khiến tôi dễ dàng liên tưởng vì nó rất giống các báo cũ và hoàn toàn khác báo VN bây giờ. Như người miền Bắc năm nào khi rời quê di cư đã mang theo Đêm Giã Từ Hà Nội, Nhớ Về Năm Cửa Ô Xưa... Những người VN di tản cũng gói ghém trong máu thịt cả một đất nước miền Nam để nơi vùng đất mới, dường như không tái hiện, không đứt đoạn, không phải vẽ nên diện mạo cũ bằng một nét vẽ mới mà chính là miền Nam ngày ấy, giờ đây như đuôi một nét vẽ được kéo dài rạ Dẫu rớt rơi trên biển cả, trên dặm trường bôn ba có mảnh đi, nhạt hơn, có pha vào sự đổi thay... vẫn chỉ là nét vẽ duy nhất đó, kéo dài rạ... vô cùng quen thuộc, dùng một câu có vẻ hơi ''cải lương'' nhưng rất đúng, rất ''tới'' là quen thuộc đến rưng rưng!

Vấn đề chính nơi những sự việc này có lẽ do thói quen và định kiến bởi vì các văn nghệ sĩ di cư năm 54 đã góp phần thay đổi nền văn học miền Nam bấy giờ, tạo nên một giai đoạn văn hóa phát triển rất rực rỡ tiêu biểu cho một chính thể, một quốc gia độc lập, đến bây giờ vẫn là niềm tự hào, hãnh diện của miền Nam. Thế nhưng điều này đã không xảy ra sau 75. Rất đơn giản bởi vì văn hóa nói chung, văn học nói riêng của CS quá đỗi thấp kém, ọp ẹp nên chỉ có thể mượn tay cường quyền để dẫm xé, chứ không chinh phục, khuynh loát nổi miền Nam, tức không thể chinh phục được tinh thần miền Nam. Cho đến bây giờ vẫn không thể xóa nhòa trong ký ức mọi người, và về sau này trong lịch sử, hành động của đám thanh niên rầm rộ đi đến từng nhà để tịch thu sách vở. Suốt ba mươi năm nay văn hóa VN bị kéo lui trì trệ do bị cầm đầu, chỉ huy bởi một thế lực độc tài, thiển cận... Thua một thế lực dường kém cỏi hơn mình, điều ấy khiến người miền Nam uất ức trong chiến bại, mang trong lòng tâm trạng kiêu hãnh của kẻ đành ngã ngựa bởi những lý do ngoài ý muốn...

Cho nên ngoài việc thu nhập, bị ảnh hưởng một cách thụ động thì người thua vẫn ''nhìn xuống'', vẫn ''dị ứng'' với những từ ngữ mới. Những chữ mới xuất hiện này thường khiến người Việt ở xa, một cộng đồng bị đẩy vào cảnh ly hương, không nằm trong vòng kiềm tỏa dĩ nhiên nghe rất chỏi và họ có toàn quyền để không chấp nhận. Người miền Nam khó chịu khi nghe đến phấn đấu, triển khai, xử lý... còn nữa những tăng năng suất, vượt chỉ tiêu, rút kinh nghiệm, xử lý nội bộ... mà khi dùng đến, chỉ hàm ý chế giễu, mỉa mai. Và Việt kiều cũng cùng cảm giác ấy khi nghe người trong nước nói, dù từ miền nào.

Sở dĩ dài dòng như vậy chỉ để đưa tới, nhắc lại một kết luận cũ kỹ rằng đó là kết quả của chính sách kỳ thị đã phân hóa một cách sâu sắc dân tộc VN, là điều mà ngay bản thân chính sách đó đến nay đã nhận lấy hậu quả kéo dài trên nhiều phương diện. Cuối cùng chỉ thấy thương xứ mình đến xót xa... Nhiều người đành than thở thôi thì do lỗi tổ tiên, ngày xưa Lạc Long Quân và Âu Cơ sao chẳng tìm cách cho đại gia đình xum họp một nhà. Trăm trứng vừa nở ra đã chia lìa năm mươi con lên núi, năm muơi con xuống biển cho nên không lạ khi chuyện thiên di, ly tán đã vận vào định mệnh của dân tộc này suốt mấy ngàn năm. Một vài ý nghĩ trao đổi cho vui. Những lạm bàn về ngôn ngữ và văn học trong thư không nhằm mổ xẻ về lãnh vực to lớn này mà chỉ minh họa thêm cho những ý nghĩ, tình cảm tản mạn... Do vậy, hẳn có nhiều sai sót.

Mong nhận được thư của bạn.
Sài-gòn Cô Nương