Thứ Năm, 12 tháng 7, 2007

BIỂU TÌNH TẠI SÀI GÒN VÀ CẦN THƠ

Cuộc biểu tình của đồng bào Tiền Giang càng ngày càng lan rộng mang tính bức xúc lên đến đỉnh điểm. Dân oan khiếu kiện các tỉnh cũng đổ dồn về thành phố càng lúc càng đông. Sự kiện bùng nổ từ lòng dân, buổi đầu có tính chất bộc phát, nhưng đã đến mức độ chưa từng có từ trước đến nay. Phạm vi rộng và hậu quả khó lường. Thời gian bắt đầu kể từ ngày 22/06/2007 đến nay đã hơn nửa tháng.

Từ con số buổi ban đầu chỉ vài mươi người, dần dần hơn trăm và nay hơn ngàn người, gồm có đồng bào các tỉnh Tiền Giang, An Giang, Bến Tre, Bà Rịa Vũng Tàu, Bạc Liêu, Bình Dương, Kiên Giang, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bình Thuận, Đồng Nai v..v… Nói chung, dường như đồng bào ở các tỉnh đều có những oan ức trong việc khiếu kiện đất đai.

Khi hay tin có cuộc biểu tỉnh đông đảo nầy, họ đều mang hồ sơ, đơn thưa …về thành phố tham gia. Nhiều người nghèo phải vay tiền đi tàu xe….Mặc dầu nhà cầm quyền cho công an mật vụ có nam lẫn nữ mặc thường phục trà trộn vào đoàn người biểu tình để tìm ra nguoi chủ mưu lãnh đạo cuộc biểu tình nầy. Một vài anh chị tuổi trẻ bị đe dọa, uy hiếp, nhưng với sức mạnh đoàn kết và bảo vệ của đồng bào, nên Công an vẫn chưa ra tay hành động.

Cho dù mấy ngày qua, Công an dầy đặc đã cấm cản không cho người dân đến tiếp tế, hoặc đàn áp một số người dân đến yem trợ giúp đở tài vật như khăn mặt, mùng màn, võng, lều bạt, thực phẫm, thuốc men, simcard, diện thoại, xà phòng cho những người biểu tình đang gặp hoàn cảnh vô cùng khó khăn. Cuộc biểu tình đã lan ra diện rộng từ Văn phòng 2 Quốc Hội số 149 đường Hoàng Văn Thụ, Q. Phú Nhuận cho đến đường Võ Thị Sáu, cơ quan tiếp dân của Chính Phủ đại diện phía Nam.

Ngay tại Cần Thơ, từ ngày thứ Sáu 06/07/2007, đồng bào Sông Hậu với hàng trăm người đang biểu tình trước trụ sở Ủy Ban Nhân Dân tỉnh, khiếu kiện về việc thu khoán bất hợp pháp….Một vài người đã bị Công An câu lưu. Nếu tỉnh nầy không giải quyết thỏa đáng, họ sẽ kéo đoàn biểu tình lên thành phố. Hậu quả cuộc biểu tình chắc chắn còn kéo dài và có hình thức quy mô , có thể xảy ra khắp toàn quốc.

Về việc khiếu kiện đất đai, tỉnh thành nào cũng có sự bất công, oan ức gây đau khổ cho biết bao gia đình. Hiện tình nầy có thể làm ảnh hưởng tình hình chính trị tại VN qua cuộc chỉnh đốn thanh trừng hợp pháp những kẻ bất tài, vô tướng đang diễn ra trong nội các của ong Nguyễn Tấn Dũng…

Hiện tại cuộc sống và sức khỏe của đoàn người biểu tình bị đe dọa: thiếu thốn từ nơi ăn chốn ở, sinh hoạt cá nhân tắm giặt, hầu hết phải ngủ ở vỉa hè, công viên cây xanh bên đường, bệnh viện, trước công sở, che lều bạt tạm đỡ vì mùa mưa. Nhiều cơn mưa liên tục như trút nước, màu trời u buồn ảm đạm như cảm động chia sẽ nỗi khổ của dân tình. Nhiều cụ già lạnh run rẩy, bụng đói meo ngồi co ro với dáng vẻ u buồn thảm não. Chạnh lòng nhất là khi nhìn cảnh vài Cụ già được người dân đi ngang qua cho vài ổ bánh mì hay gói xôi hoặc ít cơm hộp. Các Cụ ngước nhìn lên với hai dòng lệ tuông chảy, chưa kịp nói lời cảm ơn thì Công An đã xua đuỗi người khách qua đuờng đi nhanh không cho dừng lại,

Thời tiết lúc nầy đang vào mùa mưa, quần áo luôn bị ướt át, ẩm mốc, chỉ phơi tạm trên các lều bạt thiếu ánh nắng, ăn uống thiếu thốn, ngủ không chăn màn bị muỗi đốt, thân thể sụt vài kilogam. Một số người bị bệnh phải đi sơ cứu. Nỗi lo âu hiện trên nét mặt nhiều người, nhưng tinh thần sụt sôi nhiệt huyết. Hai hôm nay các nhà vệ sinh công cộng thành phố ra lệnh không cho người dân tạm nghỉ bên mái hiên, càng gây khó khăn cho đồng bào hơn nữa. Không thể nào tưởng tượng sự nhẫn tâm của công an, chính quyền thành phố không chút nhân đạo tình người đối với người dân đang biểu tình.

Một vài Cơ quan Trung Ương của Quốc Hội và Chính Phủ từ Hà Nội vào thuyết phục đồng bào nên trở về quê để có hướng giải quyết, nhưng đồng bào cương quyết đòi hỏi phải có văn bản, đóng dấu ký tên rõ ràng, chứ không thể hứa hẹn suông mãi, nhiều lần hứa dối rồi! vì "Khẩu chứng vô bằng" . Chính quyền và cơ quan Thanh tra các tỉnh cũng đổ xô về thành phố yêu cầu đồng bào trở về tỉnh, nhằm phân tán mỏng để dễ bề đối phó. Đồng bào quá nhiều kinh nghiệm nên chẳng ai tin.

Trong đoàn người biểu tình có các Bà Mẹ Việt Nam Anh Hùng, gia đình Liệt Sĩ, gia đình có công với CM . . . Hình ảnh của các chiến sĩ đã từng đội bom, đội đạn đeo mang lũng lẳng trước ngực họ.

Cũng vì nay bị giải tỏa đất đai và bồi thường không thoa đáng nên họ bức xúc đứng lên. Bởi lẽ ở các tỉnh, chính quyền tỉnh, cứ ngồi nhìn vào sơ đồ dân cư trong tỉnh rồi vẽ….rồi ra lệnh quy hoạch vào khu dân cư có đất một cách hợp pháp, để lấn chiếm đất đai, ra lệnh giải tỏa, sau đó, đem bán lại cho người nước ngoài, hoặc bán cho những nhà Tư bản hay xây dinh thự và xây dựng các cơ sở hợp đồng ngầm của các quan to làm ăn kinh tế bằng cách hùn miệng.

Những tấm biễu ngữ được căng treo đòi hỏi bồi thường đất đai một cách công băng và đã đảo chính quyền tham nhũng…Mấy hôm nay nhờ có sự ủng hộ lên tiếng của các hội đoàn hải ngoại, các tổ chức chính trị trong ngoài nước, có cả các báo chí nước ngoài đã đăng tải tin tức nầy, còn báo chí trong nước chính phủ đã ra lệnh cấm, nếu có đưa tin cũng một chiều chứ chẳng dám nói lên sự thật. Sự nhiệt tình yem trợ của một số tổ chức và cá nhân hải ngoại là nguồn cổ vũ tinh thần đấu tranh mạnh mẽ đang dâng cao của đồng bào trong nước./.

Thành phố, ngày 10 thàng 07 năm 2007

Phóng viên thường trú Thành phố và các tỉnh phía Nam
của Phong trào Dân Chủ VN (PTDCVN)
Quốc Việt




Dân chủ và phát triển : lý thuyết và chứng cớ

“… Tuy nhiên, Giavazzi và Tabellini khám phá rằng, những quốc gia cởi trói kinh tế lẫn chính trị là khá hơn cả. …”

Từ cuộc Cách mạng Công nghiệp cuối thế kỷ 18 đến nay, thế giới đã chứng kiến hai sự kiện chưa từng có trong lịch sử : một là sự tăng vọt mức sống của con người (nói gọn là phát trỉển kinh tế) và hai là ngày càng nhiều quốc gia trở thành dân chủ. Tuy hai làn sóng này xảy ra không đồng đều mọi nơi, và thường gián đoạn, có lúc giật lùi, không thể không nghi ngờ rằng chúng có liên hệ ít nhiều với nhau. Liên hệ ấy, và nói chung là liên hệ giữa phát triển kinh tế và thể chế chính trị, không những là quan tâm của những người hoạt động chính trị mà còn là một chủ đề học thuật hàng đầu. Trong lịch sử trí thức cận đại, có thể xem nó như "hậu thân" của cuộc tranh biện giữa «kế hoạch» và "thị trường", và xa hơn nữa là giữa tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa.

Vấn đề có thể gút lại qua hai câu hỏi căn bản : (1) các quốc gia chuyên chế có phát triển nhanh hơn các quốc gia dân chủ ?, và (2) phát triển có sẽ đem lại dân chủ ? Rất tiếc, hai câu hỏi này thường được đặt ra không phải để thực tâm nghiên cứu một cách khách quan, khoa học, song chỉ có tính tu từ, hùng biện, với câu trả lời đã định trước, nhằm biện hộ cho một thể chế chính trị nào đó [1]. Vì không ai có thể phủ nhận phát triển kinh tế là cần thiết, người ủng hộ chuyên chế thì tìm cách chứng minh rằng các nước chuyên chế phát triển nhanh hơn (hoặc ít ra là không chậm hơn) những nước được xem là "dân chủ". Tất nhiên, những người ủng hộ dân chủ thì khẳng định ngược lại : muốn phát triển nhanh, vững, thì phải có dân chủ [2].

Nhìn từ góc độ khoa học thì sự việc không đơn giản như vậy. Khoa học không cho phép chủ quan lựa chọn vài đặc điểm trong kinh nghiệm cá biệt của vài nước (nhất là khi kinh nghiệm ấy có nhiều cách diễn dịch khác nhau), trong một giai đoạn nào đó, rồi suy diễn (thậm chí khẳng định) cho những nước khác, trong một giai đoạn khác. Một công trình nghiên cứu chỉ có sức thuyết phục khi nó căn cứ trên một khối lượng thống kê dồi dào và khả tín, trong nhiều lãnh vực (không chỉ kinh tế) về nhiều nước, qua nhiều thời kỳ. Rồi cũng phải có những mô hình đủ quy mô, phương pháp phân tích đủ "cơ bắp" để khai thác khối dữ kiện ấy.

Nên để ý rằng liên hệ nhân quả (nếu có) giữa dân chủ và phát triển, không chỉ là từ quá khứ đến hiện tại mà còn tùy vào kỳ vọng ở hiện tại hướng về tương lai. Một thí dụ đơn giản : nếu dân chủ có ảnh hưởng đến thành tựu kinh tế thì một phần không nhỏ của ảnh hưởng này hẳn là xuyên qua những quyết định về đầu tư, tức là tùy thuộc vào kỳ vọng. Như thế, triển vọng dân chủ tương lai sẽ là một nhân tố quyết định thành tích kinh tế hiện tại. Điều này có nghĩa là, để thẩm định tác động kinh tế của dân chủ, ta phải nhìn xa hơn chế độ đương thời, xét cả đến kỳ vọng của dân chúng (thậm chí của cả giới đầu tư nước ngoài) về sự ổn định của chế độ ấy. Muốn biết kỳ vọng này thì cần những cuộc thăm dò ý kiến quy mô, hay khảo sát tác động của tin tức (qua các phương tiện truyền thông) trong sự thiết lập kỳ vọng. Tất cả đều là những thách thức vô cùng to lớn cho nhà khoa học muốn thực tâm nghiên cứu.

Công bình mà nói, cho đến khoảng những năm 1980, giới nghiên cứu khó làm gì hơn được vì "hộp đồ nghề" phân tích định lượng (như kinh lượng học) còn tương đối thiếu sót, thô sơ. Rất may, gần đây họ được hai cú hích. Cú hích thứ nhất là tiến bộ trong kỹ thuật phân tích, cách đặt vấn đề, phương pháp "xoa nắn" dữ kiện, đặc biệt là những dữ kiện không thể định lượng. Cú hích thứ hai là sự thu thập nhiều dữ liệu khá phong phú từ nhiều quốc gia, khắp các châu lục, qua nhiều năm [3]. Nhờ hai tiến bộ này, một số nghiên cứu quy mô về liên hệ giữa chế độ chính trị và thành tích kinh tế đã xuất hiện [4]. Tuy vẫn còn nhiều "khoảng trống" to lớn trong kiến thức về vấn đề này, giới học thuật đã phát hiện một số kết quả đáng lưu ý.

Hầu hết mọi nghiên cứu đều đồng ý rằng khó tìm ra câu trả lời trắng đen cho câu hỏi : liệu hể có một thể chế chính trị nào đó thì phát triển tất sẽ nhanh? Song, cũng chẳng phải là không có một kết luận rõ rệt nào cả. Điều cần thiết là phải gọt giũa câu hỏi cho có ý nghĩa khoa học, tránh những ý niệm mơ hồ, chung chung, và nhất là phải tìm những kỹ thuật thích hợp để phân tích, sàng lọc khối lượng thông tin, dữ kiện (dù không bao giờ là đầy đủ) mà, may mắn thay, giới học thuật thu thập ngày càng nhiều.

Bài này lược duyệt một số khảo cứu kinh điển về liên hệ giữa phát triển và thể chế chính trị, đặc biệt là giữa phát triển và dân chủ. Phần I tóm lược những ý kiến tạm gọi là "xưa", đa số xuất hiện trong những năm 60, 70, 80 thế kỷ trước. Đại để, những ý kiến này căn cứ trên vài "ấn tượng" tương đối rời rạc về một số quốc gia (phần lớn là ở châu Âu) nhìn qua lăng kính kinh tế tân cổ điển và những suy luận xã hội học. Phần II tường thuật những phát hiện của Adam Przeworski (và các cộng sự) về thành tích kinh tế và dân chủ hóa. Dấu ấn của nhóm học giả này là cách họ đặt đối tượng nghiên cứu : nhìn dân chủ hóa như một tiến trình, rồi xem mức độ phát triển có ảnh hưởng gì không đến (a) sự xuất hiện, và (b) sự tồn tại, của dân chủ. Phần III tóm tắt các công trình của Francesco Giavazzi và Guido Tabellini. Hai nhà kinh tế này nêu câu hỏi : chính trị và kinh tế liên hệ với nhau ra sao trong thứ tự thời gian của "cởi trói" ? Phần IV là kết luận.

I. Những quan điểm "xưa"

Cho đến khoảng giữa những năm 1980, hầu như mọi ý kiến về liên hệ giữa phát triển kinh tế và dân chủ đều có tính giai thoại (ghi nhận chấm phá về một vài nước) và căn cứ vào khung phân tích kinh tế tân cổ điển. Ở đây, "tiếp cận tân cổ điển" có thể được hiểu là quan niệm cho rằng tiết kiệm và đầu tư (thay vì tiêu dùng) là yếu tố quyết định của tăng trưởng. (Nói cách khác, trong tiếp cận này, vai trò của lịch sử, điạ lý, thể chế, giáo dục, v.v., trong tăng trưởng chưa được để ý nhiều như ngày nay). Như vậy, theo những người có ý kiến này, "dân chủ" sẽ giảm tốc tăng trưởng bởi lẽ, trong thể chế ấy, (a) người có thu nhập thấp, là đa số, sẽ đòi phân bố tài sản từ người giàu (có khuynh hướng tiết kiệm và đầu tư cao) sang người nghèo (có tiết kiệm và đầu tư thấp), và (b) nhà nước sẽ bị áp lực của đông đảo cử tri sử dụng ngân sách cho những tiêu dùng ngay hiện tại, thay vì đầu tư cho tương lai.

Có thể phân biệt hai dòng ý kiến (không hẳn là trái ngược nhau). Dòng thứ nhất xuất phát từ khẳng định rằng phát triển sẽ đem lại dân chủ, hoặc nói khác hơn, chuyên chế không thể tồn tại trong một xã hội đã phát triển. Dòng thứ hai cho rằng phát triển cần chuyên chế.

1. Phát triển sẽ đem lại dân chủ ?

Ý kiến cho rằng kinh tế phát triển sẽ từng bước tạo nên các định chế dân chủ, cuối cùng là dân chủ toàn bộ, thường dựa vào năm lập luận chính.

Thứ nhất, phát triển kinh tế sẽ bành trướng giai cấp trung lưu, có học. Khi đủ lớn, thành phần này sẽ đòi hỏi dân chủ, và chính họ sẽ là chỗ dựa cho chế độ dân chủ ấy. Seymour Martin Lipset (1959) có lẽ là học giả đầu tiên đưa ra lý giải này. Theo ông, dân chủ vừa là một hậu quả, vừa là một nhân tố của phát trỉển kinh tế.

Thứ hai, phát triển kinh tế sẽ ảnh hưởng đến tư duy của đa số trong xã hội : hướng tư duy ấy về cá nhân thay vì tập thể, tăng ý thức về cái riêng, về tự do cá nhân và quyển tự quyết. Nói cách khác, phát triển kinh tế sẽ khơi dậy những "giá trị chính trị" (political values) lấy cá nhân làm gốc. Theo những người có ý kiến này, những giá trị ấy là mầm móng của dân chủ.

Thứ ba, kinh tế phát triển sẽ nâng cao dân trí. Khi biết rõ hơn về cơ cấu chính trị, ý thức hơn về quyền lợi và quyền hạn của họ, người dân sẽ bảo vệ quyền của họ tích cực hơn, theo những đường lối có hiệu quả hơn. Đó là dân chủ.

Thứ tư, phát triển sẽ làm giàu khu vực tư, tăng cường khả năng khu vực này trong các hoạt động độc lập, không lệ thuộc vào nhà nước, tăng sức nặng của xã hội dân sự như một đối trọng đối với khu vực công. Hơn nữa, khi đời sống ngươì dân càng sung túc thì xã hội càng hài hoà, giảm đi những đòi hỏi tái phân bố của cải, dân chủ nhờ thế mà ổn định hơn.

Thứ năm, vì phát triển thường đòi hỏi mở cửa kinh tế, một quốc gia phát triển cũng là một quốc gia nhiều tiếp xúc với thế giới về văn hóa, xã hội cũng như chính trị. Sự giao lưu này sẽ làm thông thoáng hơn các luồng thông tin mà chính quyền chuyên chế khó kiểm soát, đồng thời kềm hãm sự chuyên chế ấy qua áp lực của các đối tác quốc tế.

Về mặt kiểm nghiệm, những công trình theo chân Lipset thường bị chỉ trích là có giá trị khá hạn chế vì chúng chỉ dùng những dữ kiện về mức thu nhập của nhiều nước vào cùng một thời điểm. Lipset cũng nhìn nhận rằng ý kiến của ông là rút từ kinh nghiệm của Tây Âu, và có thể không đúng cho nơi khác.

2. Phát triển có cần chuyên chế ?

Khác với quan điểm trên đây (cho rằng dân chủ là hậu quả tất nhiên của phát triển kinh tế) là quan điểm cho rằng các chính sách kinh tế sẽ có hiệu quả hơn dưới chế độ chuyên chế. Có thể nói rằng theo quan điểm này thì dân chủ là một xa xí phẩm, chỉ nên có khi quốc gia đã phát triển [5].

Dân chủ bị cho là không thuận lợi cho phát triển vì nhiều lý do. Một là, quyền sở hữu (property rights) của người giàu sẽ không được đảm bảo, bởi lẽ người nghèo, là đa số, có thể dùng lá phiếu của họ để đòi phân chia tài sản. Hai là, hoạt động chạy chọt (rent seeking) của các hội đoàn tranh giành quyền lợi (special interest groups), qua các vận động chính trị với các đảng phái, các cơ quan chính phủ, chẳng những sẽ làm phung phí nguồn lực quốc gia mà còn bóp méo chính sách nhà nước. Ba là, bị áp lực của cử tri, các chính phủ dân chủ sẽ chi tiêu quá mức cho hiện tại thay vì đầu tư cho tương lai [Galenson (1959), Schweinitz (1959), Huntington (1968, 1975)].
Chuỗi nhân quả được mô tả như sau : (1) người có thu nhập thấp muốn tiêu dùng ngay, (2) khi lao động có tổ chức (thành công đoàn) thì họ sẽ "đẩy" lương lên, giảm lợi nhuận cho giới kinh doanh, làm nãn lòng người đầu tư, (3) áp lực của cử tri sẽ làm nhà nước có khuynh hướng phân phối thu nhập ra khỏi đầu tư (hoặc là đánh thuế nguời giàu thật nặng để phân phát cho người nghèo, hoặc là tiêu ít hơn vào các dự án đầu tư công), (4) đầu tư thấp đi thì sẽ giảm tốc tăng trưởng.

Những ý kiến trên đây dựa vào giả định căn bản : (i) vốn vật thể là nhân tố cốt lõi của tăng trưởng ; (ii) chính quyền do dân bầu thường bị áp lực phải tiêu xài cho hiện tại [6]. Đây là những giả định không phải luôn luôn đúng vì ngoài vốn vận thể còn có những yếu tố khác cần thiết cho phát triên (ví dụ sự trong sạch của thể chế) mà chuyên chế thường không có, và chưa chắc là chính phủ dân cử nào cũng thiển cận vung vãi tiêu xài thay vì chắt bóp để đầu tư. Hơn nữa, ý kiến cho rằng phát triển sẽ nhanh hơn trong chuyên chế so với dân chủ là dựa vào những lập luận tiêu cực thay vì tích cực. Những người đưa ý kiến này không viện dẫn ưu thế (dù là chỉ theo họ) của chuyên chế mà chỉ vạch ra những nhược điểm (theo họ) của dân chủ [7]. Để thấy một lỗ hổng của lập luận ấy, chỉ cần hỏi : Dù dân chủ quả có ba nhược điểm nói trên, có gì bảo đảm rằng chuyên chế không có những nhược điểm ấy ?

Xem vấn đề bảo đảm quyền sở hữu chẳng hạn. Trong chuyên chế thì tư pháp và lập pháp đều trong một tay nhóm nhỏ, họ có toàn quyền đánh thuế, sung công, bội tín trong các nghĩa vụ tài chính. Thực vậy, lịch sử cho thấy hầu hết các chế độ chuyên chế đều có khuynh hướng lấy của công làm của riêng. Sao có thể cho rằng quyền sở hữu sẽ được đảm bảo hơn trong chế độ ấy ? Ví dụ nữa : Để giữ quyền lực, các lãnh tụ độc tài thường ban phát đặc quyền, đặc lợi cho thuộc hạ (độc quyền kinh doanh, trợ cấp, miễn thuế). Như vậy, hoạt động chạy chọt - và những lãng phí của nó đâu phải là không có trong chế độ chuyên chế ?

II. Phát triển kinh tế và sự bền vững của dân chủ

Cùng mục đích xác định tương quan giữa dân chủ và phát triển nhưng Adam Przeworski [8] nhìn vấn đề từ nhiều góc cạnh khác những người đi trước. Ông cũng muốn biết chế độ chính trị có ảnh hưởng đến thành tích kinh tế hay không, và ra sao, nhưng ông nghĩ rằng vấn đề ấy không thể tách rời khỏi câu hỏi : Phát triển kinh tế có ảnh hưởng gì đến sự xuất hiện và tồn tại của các chế độ chính trị ?

Theo Przeworski, chỉ sau khi xem chế độ chính trị xuất hiện trong hoàn cảnh nào và tồn tại ra sao, thì mới có thể phân biệt được (1) đâu là ảnh hưởng của thực trạng xung quanh một chế độ chính trị, và (2) đâu là tác động của chính chế độ ấy. Nói cách khác, theo Przeworski, phải tách hai câu hỏi ra khỏi nhau : (1) kinh tế phát triển có đẫn đến dân chủ không? và (2) dân chủ có giúp phát triển nhanh hơn không ?

A. Lỗi lầm thường gặp

Przeworski lưu ý ba điểm chính :

Một là, mỗi nước một khác, mỗi thời một khác, không thể so sánh nước này với nước nọ, giai đoạn này và giai đoạn kia. Chính Przeworski đưa ra ví dụ : vào năm 1985, Mali là một quốc gia độc tài, có tốc độ tăng trưởng tương đối thấp (5,35%), song không thể kết luận rằng nếu năm ấy Mali là dân chủ thì sẽ tăng trưởng nhanh hơn, vì đâu có quốc gia nào giống hệt Mali, nhưng dân chủ, để so sánh ? Cũng năm ấy thì nước Pháp (quả là dân chủ) chỉ tăng trưởng với tốc độ 1,43% ! Ai dám bảo rằng nếu Pháp là độc tài thì sẽ tăng trưởng nhanh hơn [9] ? Nói chung, theo Przeworski, dù có thấy rằng, vào một thời điểm nào đó, đa số nước nghèo là độc tài và đa số nước giàu là dân chủ, cũng chưa thể kết luận rằng tăng trưởng là nhanh trong dân chủ hơn trong độc tài. Tốc độ tăng trưởng của một quốc gia tùy thuộc vào xã hội, lịch sử, địa lý… của quốc gia ấy, không nhất thiết là hậu quả của chỉ những gì mà chính phủ nước ấy đang làm.

Hai là, nếu không nhìn vào diễn biến trong khoảng thời gian dài thì khó tránh những kết luận sai lầm. Ví dụ các quốc gia dân chủ dễ bị chao đảo khi có khủng hoảng kinh tế (mà nguyên nhân có thể là do tác động từ ngoài), còn các quốc gia độc tài thì ổn định hơn. Điều này sẽ dẫn đến hiện tượng "ngược đời" là dân chủ có vẻ tăng trưởng nhanh hơn ! Song (theo Przeworski) ta thấy như vậy chỉ vì các chính thể dân chủ thường bị sụp đổ khi kinh tế gặp khó khăn, và trở thành độc tài, có khả năng tồn tại, có thể sống được trong hoàn cảnh khó khăn ấy. Nói cách khác, chế độ độc tài bị "mang tiếng" (trong trường hợp này) là làm chậm phát triển có thể chỉ vì nó kế thừa một nền kinh tế đã trên đà suy thoái.

Ba là, hãy nghĩ đến trường hợp có một yếu tố nào đó (tạm gọi là yếu tố X), tuy không hiển hiện thường xuyên, đều đặn, song tác động đến chế độ chính trị lẫn tốc độ tăng trưởng. Giả dụ yếu tố X là sự "sáng suốt", nhìn xa thấy rộng của cấp lãnh đạo, và vì sự sáng suốt ấy mà cấp lãnh đạo vừa chọn dân chủ, vừa có những chính sách phát triển kinh tế hữu hiệu. Trong trường hợp này, nếu kết luận rằng tăng trưởng nhanh là nhờ dân chủ, thì quả là sai, bởi vì sự thành công kinh tế ấy là do yếu tố X, không phải do dân chủ.

Tóm lại, một phân tích khoa học phải phân biệt bối cảnh (kinh tế, xã hội, lịch sử…) xung quanh một chế độ, và sự thành bại của chế độ ấy. Muốn như vậy, cần xem : trong tình huống nào mà chế độ xuất hiện, và hoàn cảnh nào mà chế độ vẫn tồn tại, hoặc sụp đổ. Chỉ khi biết rõ như thế thì mới có thể xác minh thành tích kinh tế nào là do thể chế chính trị, thành tích nào là do các yếu tố khác. Đây là một bài toán phân tích cực kỳ khó khăn, may là James Heckman (1976, 1988) đã phát minh nhiều thủ thuật kinh lượng để làm việc này.

B. Kết quả của Przeworski

Przeworski phát hiện một điều nổi bật : chế độ chính trị không ảnh hưởng đến suất đầu tư và tốc độ tăng trưởng của tổng thu nhập cả nước. Tuy nhiên, vì dân số thường tăng nhanh hơn trong các quốc gia độc tài [10], thu nhập đầu người thường tăng nhanh hơn trong các nước dân chủ. Przeworski kết luận : không có lý do nào để hy sinh dân chủ cho phát triển.

Năm phát giác khác của Przeworski cũng đáng để ý :

(a) Không có bằng cớ nào cho thấy phát triển kinh tế bao giờ cũng đem lại dân chủ. Đặc biệt, nếu một quốc gia đã khá giàu có mà vẫn là độc tài thì ít khi quốc gia ấy sẽ trở thành dân chủ.

(b) Tuy đa số các nước giàu hiện nay là dân chủ, không có một mức thu nhập nào mà hể trên mức ấy là độc tài sẽ sụp đổ, dân chủ sẽ xuất hiện.

(c) Cũng không rõ ràng là tốc độ tăng trưởng có ảnh hưởng, hay không, đến sự bền vững của chuyên chế. Trung bình, khả năng tồn tại của chính quyền độc tài trong một nền kinh tế đang tăng trưởng thì cũng ngang bằng khả năng mà chế độ ấy tụt dốc trong một, hai, hoặc ba năm. Vài chế độ độc tài sụp đổ sau nhiều năm tăng trưởng liên tục, song cũng có chế độ độc tài sụp đổ sau nhiều năm kinh tế suy sụp liên tục.
(d) Vì không đủ thông tin, khó xác định ảnh hưởng của phân phối thu nhập. Tuy nhiên, dường như độc tài càng dễ sụp đổ khi phân bố thu nhập càng chênh lệch.

(e) Khi đem yếu tố khác (ví dụ như quá khứ chính trị, sự đa dạng ngôn ngữ, tỷ lệ các tôn giáo chính, và truyền thống thuộc địa) vào mô hình thì kết quả cũng không rõ rệt gì hơn.

Przeworski nhận xét : các chế độ độc tài «chết» trong nhiều hoàn cảnh khác nhau. Đôi khi nó sụp đổ khi kinh tế khủng hoảng, lúc khác thì sau một thời kỳ thịnh vượng lâu dài. Nhiều khi thì độc tài chết theo người sáng lập ra nó, lúc khác thì độc tài chấm dứt khi một quốc gia bị thất trận. Và cũng có khi độc tài sụp đổ vì áp lực quốc tế.

Sự bền vững của dân chủ

Przeworski khám phá rằng dù xuất hiện qua lộ trình lịch sử nào, dân chủ cũng bền vững hơn trong các nước đã phát triển. Đặc biệt, chưa hề có một nền dân chủ nào sụp đổ khi thu nhập đầu người vượt trên ngưỡng 6.000 USD/năm (đo bằng đô la năm 1965). Giáo dục (đo theo số năm đến trường) cũng làm dân chủ bền vững hơn. Tuy nhiên, dù giáo dục và thu nhập có tương quan khá chặt chẽ, Przeworski đã có thể xác định là ảnh hưởng của giáo dục không mạnh bằng ảnh hưởng của thu nhập đối với sự tồn tại của dân chủ. Nôm na : nước giàu mà dốt thì dân chủ khó sập hơn nước có học nhưng hơi nghèo !

Przeworski cũng phát giác rằng khó xác định ảnh hưởng của tăng trưởng kinh tế đến sự tồn vong của dân chủ. Đúng là dân chủ yếu và thu nhập trì trệ là hai hiện tượng thường đi đôi, song khó biết là dân chủ thoi thóp vì nó không hiệu quả, hoặc nó không hiệu quả vì (dân chúng cảm thấy là) nó sắp không còn ?

Tuy rằng giáo dục, phân bố thu nhập, định chế chính trị, và tương quan giữa các lực lượng chính trị đều có vài ảnh hưởng đến sự bền vững của dân chủ độc lập với thu nhập đầu người, ảnh hưởng của mức độ thu nhập là lớn nhất.

Przeworski (2002) lý giải như sau. Ở các nước giàu, mọi người đều ủng hộ dân chủ bởi lẽ nếu chống nó thì có thể mất mát rất nhiều. Ở các nước nghèo thì trái lại : của cải xã hội không có là bao, cho nên nhóm nào chống lại dân chủ, dù bị thất bại, cũng không có gì nhiều để mất. Ở các nước nghèo, thu nhập của những người dưới ách độc tài cũng không thấp hơn thu nhập của những người sống trong dân chủ (dù họ có thắng cử hay không). Ở nước giàu thì khác : khoảng chênh lệch thu nhập giữa những người trong phe thất cử (trong dân chủ) và những người bị đàn áp trong chế độ độc tài là rất lớn. Ví dụ ngay như một nhóm nào đó hi vọng là thu nhập của họ khi quay chống dân chủ sẽ là cao hơn trong dân chủ, cái "cơ may" là họ sẽ là bên bại trận sau khi độc tài thiết lập là rất lớn (trong xã hội phồn thịnh) và do đó họ sẽ ngại chống dân chủ. Nói chung, theo lập luận của Przeworski, thu nhập càng cao thì cái có thể bị mất mát càng lớn, do đó ngay đến nhóm luôn luôn thất cử cũng thà chấp nhận kết quả bầu cử còn hơn. Chính thái độ tránh rủi ro (risk aversion) là động cơ khiến mọi người các nước trù phú tuân theo kết quả bỏ phiếu [11].

Przeworski tóm tắt : Lý do các nước dân chủ thường là các nước kinh tế phát triển, và ít khi là các nước nghèo, không phải vì dân chủ thường xuất hiện như là hậu quả của phát triển, song vì nó có hi vọng sống lâu hơn nếu nó may mắn xuất hiện trong quốc gia đã phát triển. Đúng là lộ trình mà dân chủ xuất hiện là rất đa loại, khó thể tiên đoán, nhưng, một khi nền dân chủ đã thành hình thì sự tồn tại của nó tùy thuộc vào một số yếu tố rất dễ thấy. Đứng đầu danh sách các yếu tố ấy là mức độ phát triển kinh tế, như được đo bằng thu nhập đầu người. Các định chế chính trị cũng có ảnh hưởng.

C. Đánh giá Przeworski

Một chỉ trích Przeworski và Limongi (xem Lời Dẫn Nhập của Bhardan trong Journal of Economic Perspectives, 1993) là hai ông này chỉ dùng thu nhập làm thước đo tăng trưởng. Nhiều nghiên cứu khác cũng cho thấy là thu nhập có ảnh hưởng (dù không lớn) đến dân chủ. Chẳng hạn như Londregan và Poole (1996) cho biết nếu tăng thu nhập gấp đôi thì sẽ tăng "mức độ dân chủ" của các chế độ chuyên chế khoảng 30% nếu nước ấy là chuyên chế "vừa phải" (moderately authoritarian), nhưng nếu nước ấy là cực kỳ chuyên chế thì tăng gấp đôi thu nhập như thế chỉ tăng mức dân chủ chừng 5-15% mà thôi. Và nếu nước ấy đã tương đối phóng khóang thì tăng đôi thu nhập không tăng thêm mức độ dân chủ.

Cũng nên kể thêm là kết quả của Barro (1996, bản thảo 1994) cho thấy là liên hệ giữa dân chủ và phát triển có thể có dạng chữ U ngược : Tăng trưởng là chậm nhất ở các quốc gia thiếu tự do nhất. Ở những nơi này, nếu thêm dân chủ một chút là tăng trưởng tăng thấy rõ, đạt đến cao đỉnh vào khoản thu nhập trung bình. Và ảnh hưởng này yếu đi khi dân chủ tăng lên ở các quốc gia thu nhập cao hơn thêm.

III. Cởi trói kinh tế và cởi trói chính trị

Như đã lược thuật ở Phần I, phần lớn ý kiến "xưa" về liên hệ giữa thể chế chính trị và phát triển đều dựa vào nhận định đơn giản : muốn phát triển thì cần đầu tư, vậy chế độ nào có tác động tăng đầu tư thì sẽ tốt cho phát triển. Nhận định này ngày càng bị cho là thiếu sót. Những năm gần đây manh nha một lối nhìn khác, với nhận định là phát triển cần cả một định chế chính trị thuận lợi, không chỉ ở mức độ đầu tư. Do đó, muốn biết liên hệ giữa ảnh hưởng của chế độ chính trị đến phát triển thì phải xem ảnh hưởng của chế độ ấy đến các định chế cần thiết cho phát triển (xem thêm Rodrik, 2004). Các định chế ấy gồm (1) luật pháp bảo vệ quyền sở hữu, (2) luật phát bảo vệ tự do cá nhân (vì tự do ấy được xem như cần thiết để thúc đẩy óc sáng tạo và tinh thần kinh doanh), và (3) những cơ chế "kiềm chế và đối trọng" (checks and balances) để ngăn ngửa tham ô, lấy của công làm của riêng, thường thấy ở các quốc gia chuyên chế.

Francesco Giavazzi và Guido Tabellini định nghĩa "cởi trói kinh tế" như là những cải cách toàn diện để nới rộng thị trường, nhất là thị trường quốc tế, và dùng cụm từ "cởi trói chính trị" như đồng nghĩa với dân chủ hóa.

Trong một loạt bài từ đầu những năm 2000, hai nhà kinh tế ngưới Ý này đặt bốn câu hỏi :

(1) Cởi trói kinh tế và cởi trói chính trị có ảnh hưởng đến thành tích kinh tế (chẳng hạn như tăng trưởng và đầu tư), đến chính sách vĩ mô (chẳng hạn như lạm phát và ngân sách), và chính sách cơ cấu (ví dụ như bảo vệ quyền sở hữu và kiềm chống tham nhũng) hay không ?

(2) Có quả là cởi trói kinh tế khích động (induce) cởi trói chính trị, hoặc ngược lại ? Hoặc hai loại cởi trói ấy không dính dáng gì đến nhau ?

(3) Hai loại cởi trói này tương tác qua lại ra sao (hiệu quả của hai loại cởi trói, nếu thực thi cùng lúc, có lớn hơn tổng cộng của chúng nếu thực hiện riêng rẽ ?)
(4) Thứ tự thời gian của hai đợt cởi trói ấy (đợt nào trước, đợt nào sau) có quan hệ gì không ? Nói cách khác, nếu một nước đang "đóng cửa", và không dân chủ, quyền định "mở cửa" trong cả hai lãnh vực, thì khởi điểm của nước ấy có quan hệ gì không ?

Tất nhiên, đây không phải là lần đầu tiên mà các câu hỏi ấy được đặt ra (ngay cả Przeworski và Limongi cũng đã đề cập đến chúng), song trước Giavazzi và Tabellini (và Persson cũng có đóng góp) thì hầu như tất cả đều phân tích hai loại cởi trói đó riêng rẽ, bỏ mất cơ hội xem xét ảnh hưởng qua lại giữa chúng.

Cởi trói nào trước ?

Tiên nghiệm (a priori) thì chiều nhân quả nào cũng là có thể : Thương mại có khuynh hướng đem lợi ích cho đa số và chỉ tổn hại thiểu số, vậy có thể là số đông (trong dân chủ) sẽ "đẩy" tự do thương mại (nhiều kết quả thực nghiệm xác nhận điều này). Song cũng có thể là một nền kinh tế cởi trói sẽ tạo sức ép "đẩy" chính trị về phía dân chủ, chẳng hạn vì nó tăng sức mạnh và quyển lực (kinh tế) của giới trung lưu (như quan điểm "xưa", nói ở Phần I). Theo Giavazzi và Tabelllini thì chiều nhân quả có khuynh hướng đi từ chính trị đến kinh tế thay vì ngược lại (nói nôm na, đừng tưởng là dân giàu thì sẽ đòi dân chủ !).

Những quốc gia mà cải cách kinh tế đi trước dân chủ gồm : Hàn Quốc, Đài Loan, Chile, Mexico. Ngươc lại thì có thể kể : Argentina, Brazil, Philippin và Bangladesh. Theo kết quả của Giavazzi và Tabellini, những quốc gia cải cách "kinh tế trước, chính trị sau" có những thành tích tốt hơn. Cụ thể :

(1) Thứ nhất, cởi trói kinh tế bởi một chính quyền chuyên chế có công hiệu hơn bởi một chính quyền dân chủ. Có hai bằng cớ. Một là, khi nhà nước chuyên chế cởi trói kinh tế thì kim ngạch ngoại thương sẽ tăng nhiều hơn khi nhà nước đó đã là dân chủ. Hơn nữa, khi nhà nước đó trở thành dân chủ sau này thì mức tăng đó cũng còn kéo dài hơn. Hai là, nếu cởi trói kinh tế trước (khi chính trị vẫn còn là chuyên chế) thì lạm phát sẽ giảm nhanh hơn.

Theo Giavazzi và Tabellini, sự khác biệt về mức công hiệu (và ảnh hưởng đến ngoại thương) nói trên có thể là vì nội dung các chính sách kinh tế vĩ mô. Khi một chính quyền chuyên chế ban bố thì nội dung này là khác khi nhà nước dân chủ ban bố. Xem vấn đề mở cửa kinh tế chẳng hạn. Những nước dân chủ, khi mở cửa kinh tế, cũng còn đặt nhiều rào cản thương mại (vì bị áp lực của các thành phần kinh tế "nạn nhân" của mở cửa). Trong lúc đó, dù rằng các nước chuyên chế thường ít mở cửa hơn, song khi mở cửa thì họ không bị áp lực của các "nhóm lợi ích" (interest group) trong nước, và do đó ít có rào cản thương mại hơn.[12]

(2) Thứ hai, dân chủ hóa được tiến hành trong một không khí kinh tế "tự do" sẽ đem đến một nền dân chủ "tốt" hơn. Có nhiều cách giải thích hiện tượng này.

Giải thích thứ nhất là, khi một chế độ chuyên chế chính trị cởi trói kinh tế thì chẳng những tăng trưởng nhanh hơn mà môi trường cũng có nhiều cạnh tranh hơn. Nhờ thế, khi quốc gia ấy truất phế nhà độc tài và trở thành dân chủ thì nó sẽ là một nền dân chủ tốt hơn bởi hai lý do. Một là, nó đã sẳn mở cửa cho thương mại và cạnh tranh, và hai là, nhờ đã phát triển khá, quốc gia ấy có đủ nguồn lực để phân phối cho dân chúng, một điều mà mọi chính thể dân chủ đều cần làm. Mặt khác, một nền dân chủ phôi thai, trong một nền kinh tế còn tương đối đóng kín, sẽ dễ bị tê liệt do các thế lực đòi phân bố thu nhập, và sẽ đi quá xa trong những chính sách thoả mãn quần chúng (populist policies), có tính lãng phí.
Giải thích thứ hai là, có thể chính sự cởi trói kinh tế trước cởi trói chính trị là lộ trình do một lãnh tụ nhìn xa thấy rộng định trước. Trái lại, khi dân chủ hóa đến trước thì nó thường là hậu quả của một cuộc cách mạng (hay đảo chánh) đột ngột, có tính xáo trộn. Như vậy, nó thường đi kèm với những xáo trộn kinh tế.

Tóm tắt, cởi trói kinh tế sẽ có hậu quả tốt về mọi mặt, bởi vì nó sẽ đưa đến những chính sách tốt về cơ cấu cũng như về những mặt vĩ mô. Cởi trói chính trị, trái lại, không có ảnh hưởng nhiều đến tăng trưởng và đầu tư, dù có vẻ tăng chất lượng của các chính sách cơ cấu. Ảnh hưởng của cởi trói chính trị đến chính sách vĩ mô thì có khi tốt, khi xấu. Tuy nhiên, Giavazzi và Tabellini khám phá rằng, những quốc gia cởi trói kinh tế lẫn chính trị là khá hơn cả.

Persson and Tabellini (2006) đề nghị ý niệm "vốn dân chủ" (democratic capital) mà họ giải thích như sau. Sự cảm nhận của dân chúng đối với giá trị của dân chủ không phải ngày một ngày hai mà có. Trái lại, nó là một tiến trình dần dần, từng bước, như là tích lũy "của cải" dân sự và xã hội, khi mà quốc gia ấy học được từ kinh nghiệm của chính họ cũng như kinh nghiệm của các nước láng giềng.

IV. Kết luận

Cần khẳng định rằng những nghiên cứu định lương (hay cố gắng về hướng đó) như lược duyệt trong bài này không nhất thiết sẽ là gần "chân lý" hơn những phân tích không định lượng [13]. Tuy nhiên, khảo hướng này vạch trần những khó khăn trong việc tim hiểu những liên hệ phổ quát giữa dân chủ và phát triển, những khó khăn mà mọi nghiên cứu khách quan, khoa học, cần lưu tâm và khắc phục.

Dù rằng liên hệ giữa phát triển kinh tế và thể chế chính trị (cụ thể là dân chủ) đã được nhiều người khẳng định (và là một cương lĩnh tuyên truyền của nhiều chính phủ), cho đến nay chứng cớ khoa học cho liên hệ này vẫn chưa rõ ràng và, theo tôi, sẽ không thể rõ ràng, vì có quá nhiều thông số. Nó hết sức phức tạp, tùy vào thể chế, lịch sử cuả quốc gia và, thật vậy, vào chính mức độ phát triển hiện tại của quốc gia ấy nữa. Ngay từ căn bản : thế nào là phát triển, và thế nào là mức độ dân chủ, cũng khó có một thước đo mà mọi người đều đồng ý, và như Tabellini và Giavazzi nhấn mạnh, mỗi hình thức dân chủ (dân chủ đại nghị, dân chủ tổng thống, v.v.) có những hậu quả khác nhau.

Nhưng đặt câu hòi về liên hệ giữa dân chủ và phát triển (như đo bằng mức thu nhập) có thể là quá hẹp hòi, bởi vì "dân chủ" phải đuợc xem như một phương tiện để thực hiện những ao ước khác của con người, đó là sống một cuộc đời mà khả năng được phát triển toàn vẹn. Đó là tự do.

Người phân tích sâu sắc nhất về tự do và phát triển có lẽ là Amartya Sen (1999). Theo ông, sự bành trướng tự do [14] là (1) mục tiêu bậc nhất (primary end) và (2) phương tiện chính (principal instrument) của phát triển. Có thể gọi vai trò thứ nhất của tự do là vai trò thành tố, và vai trò thứ hai là vai trò công cụ. Theo Sen, phát triển, chính nó, có thể được xem như là một tiến trình mở rộng tự do cho con người, nói cách tổng quát. (Nên nhớ là trong vai trò công cụ, tự do có nhiều loại (a) tự do chính trị, (b) tự do kinh tế, (c) cơ hội thăng tiến trong xã hội, (d) bảo đảm tính minh bạch (transparency guarantees).) Như vậy, theo Sen, câu hỏi thật sự quan trọng là liên hệ giữa tăng trưởng và tự do, không phải giữa dân chủ và phát triển. Và nếu hỏi như vậy thì, theo Sen, câu trả lời thật quá rõ ràng : tự do sẽ gia tốc tăng trưởng, và tăng trưởng sẽ nới rộng tự do (cụ thể là không còn bị đe dọa bởi đói khát, có nhiều cơ hội học hành…) [15].
Tách rời dân chủ và phát triển (không phủ nhận, cũng không khẳng định) như hai mục tiêu khác nhau còn giúp "giải phóng" nhà khoa học khỏi những thiên kiến ngoài kinh tế. Cần tập trung vào những yếu tố không thể phủ nhận (1) tham nhũng, lãng phí, bất công xã hội chắc chắn sẽ làm trì trệ phát triển, và (2) "tự do" có một giá trị to lớn, tự tại, biệt lập với phát triển kinh tế. Cũng nên thêm một nhận xét : dù có cho rằng dân chủ sẽ có lợi cho phát triển, lộ trình dân chủ hóa của một quốc gia không đang là dân chủ tuỳ thuộc vào bối cảnh lịch sử, xã hội, và chính trị cá biệt của quốc gia ấy. Hoặc có cho rằng dân chủ và phát triển là hai mục tiêu đánh đổi, thì vấn đề tiếp theo sẽ là thể chế nào là tốt nhất để làm quyết định đánh đổi này.

Trần Hữu Dũng (© Thời Đại Mới)
Department of Economics, Wright State University, Dayton, OH 45435, USA.
(Bài này được viết lại theo báo cáo tại Hội Thảo Hè "Dân chủ và phát triển", 28-29 tháng 7, 2006, tại Berkeley, California (Hoa Kỳ).



Chú thích:

[1] Trong số này cũng có thể kể một bài báo khá nổi tiếng gần đây, tuy có nhiều nhận xét mới lạ và hữu ích, nhưng khá phiến diện và không có tính học thuật cao, đó là bài của De Mesquita và Downs (2005). Đúng ra, hai tác giả này chỉ là áp dụng lý thuyết của Chong (1991) và Chwe (1998, 2001) cho "thời đại Internet".

[2] Tuy nhiên, cũng có nhiều người không đồng ý là phát triển là cần thiết, thậm chí dân chủ cũng là không cần thiết. Xem, chẳng hạn, Gordon Graham, The case against the democratic state, Imprint Academic, 2002. Về vấn đề phát triển có thực sự đem lại hạnh phúc cho con người không, xem, chẳng hạn, Richard Layard, Happiness : Lessons from a new science, Penguin, 2006.

[3] Đó chưa nói đến cac máy tính điện tử ngày càng mạnh và rẻ.

[4] Hai bài "mở đường" cho những tiến bộ này là Lucas (1988) và Barro (1991), nhưng công trình có ảnh hưởng nhất phải là Barro (1996) - tuy được in năm 1996 nhưng bản thảo đã được giới học giả chuyền tay nhau xem từ đầu thập kỷ 1990.

[5] Điển hình là Galenson (1959), Schweinitz (1959), La Palombara (1963), Huntington và Nelson (1976).

[6] Một giả định nữa là thu nhập càng thấp thì khuynh hướng tiêu dùng càng cao. Giả định này giải thích tại sao dân chủ là có thể đi đôi với tăng trưởng khi mức thu nhập (bình quân) đã là cao, nhưng không như vậy khi thu nhập (bình quân) còn là thấp.

[7] Xem, chẳng hạn, Minxin Pei (1999).

[8] Giáo sư chính trị học, đại học New York.

[9] Quốc gia độc tài trù phú nhất giữa 1951 và 1990 là Singapore, có thu nhập đầu người là 11.698 USD, tức là cũng không giàu bằng Pháp.

[10] Đây là một sự thật mà tôi chưa thấy ai giải thích.
[11] Độc giả quen thuộc với thuyết trò chơi (game theory) hẳn đã thấy ngay ảnh huởng của thuyết này trong lý giải của Przeworski.

[12] Tôi không nghĩ điều này là đúng.

[13] Xem, chẳng hạn, Fukuyama, "Remembering Seymour Martin Lipset", American Interest "blog", mùa thu 2006.

[14] Theo tôi, cụm từ "bành trướng tự do", thay vì chỉ "tự do", diễn tả chính xác hơn ý của Sen.

[15] Một khái niệm khá có ích trong khung cảnh này là khái niệm "vô tự do" (unfreedom).

Tham khảo

- Adsera, Alicia, và Carlos Boix, 2002, Trade, Democracy, and the Size of the Public Sector : The Political Underpinnings of Openness International Organization 56, 2, Mùa xuân, tr. 229 -262
- Barro, Robert J., 1991, Economic Growth in a Cross Section of Countries, Quarterly Journal of Economics, Bộ 106, tháng 5, tr. 407-443.
-Barro, Robert J., 1996, Democracy and Growth, Journal of Economic Growth, Bộ 1, Số 1, tháng 3, tr. 1-27.
- Caplan, Bryan, và Tyler Cowen, 2004, Do we underestimate the benefits of cultural competition ?, American Economic Review, Papers and Proceedings, Bộ 94, Số 2, tháng 5, tr. 402-407.
- Chong, David, 1991, Collective Action and the Civil Rights Movements, Chicago, University of Chicago Press.
- Chwe, Michael, 1998, Culture, Circles, and Commercials, Rational and Society, Bộ 10, Số 1, tr. 47-75.
- Chwe, Michael, 2001, Rational Ritual, New Jersey, Princeton University Press.
- de Mesquita, B. B., và George W. Downs, 2005, "Development and Democracy", Foreign Affairs, tháng 9/10, bản dịch.
- Galenson, Walter, 1959, Labor and Economic Development, New York, John Wiley and Sons; Giavazzi, Francesco, và Guido Tabellini, 2005, "Economic and Political Liberalizations", Journal of Monetary Economics, Bộ 52, 1297- 1330.
- Heckman, James J., 1976, The Common Structure of Statistical Models of Truncation, Sample Selection, and Limited Dependent Variables and a Simple Estimator for Such Models, Annals of Economic and Social Measurement, Số 5, tr. 475-492.
- Heckman, James J., 1988, The Microeconomic Evaluation of Social Programs and Economic Institutions, trong Chung-Hua Series of Lectures by Invited Eminent Economists, Số 14. Taipei : The Institute of Economics, Academia Sinica.
- Huntington, Samuel P., 1968, Political Order in Changing Societies. New Haven : Yale University Press.
Huntington, Samuel P., vaø Joan Nelson, 1976, No Easy Choice : Political Participation in Developing Countries, Cambridge : Harvard University Press.
- Journal of Economic Perspectives, 1993, Hội thảo về Dân Chủ và Phát Triển, Mùa hè.
- Lipset, Seymour Martin, 1959, Some social requisites of democracy : Economic Development and Political legitimacy, American Political Science Review, Bộ 53, 69-105.
- Lipset, Seymour Martin, 1960, Political Man : The Social Bases of Politics, Garden City : Doubleday.
- Londregan, John, và Keith Poole, 1996, Does High Income Promote Democracy ?, World Politics 46, tháng 10.
- Lucas, Robert E., 1988, On the Mechanics of Economic Development, Journal of Monetary Economics, Bộ 22, Số 1, 3-42.
- Moore, W.H., 1995, Rational rebels : Overcoming the Free-rider Problem, Political Research Quarterly, Bộ 48, tr. 417-54.
- Pei, Minxin, 1999, Economic Institutions, Democracy, and Development, Báo cáo đọc tại Conference on Democracy, Market Economy, and Development, do Ngân hàng Thế giới và Chính phủ Hàn Quốc đỡ đầu, 26-27 tháng 2.
- Persson, Torsten, 2003, Consequences of constitutions, National Bureau of Economic Research Working Paper, số 10170, tháng 12.
- Persson, T., 2005, Forms of democracy, policy and economic development, National Bureau of Economic Research Working Paper, số 11171, tháng 3.
- Persson, Torsten, và Guido Tabellini, 1994, Is inequality harmful for growth ?, American Economic Review, Bộ 84, Số 3, tháng 6, tr. 600-621. tháng 4.
- Persson, Torsten, và Guido Tabellini, 2006, Democracy and development : The Devil in the details, American Economic Review, Papers and Proceedings, tháng 5, 2006 (Phiên bản chi tiết hơn : National Bureau of Economic Research Working Paper, Số 11993). Working Paper, Số 12175, tháng 4. 8154, tháng 3.National Bureau of Economic Research Working Paper, Số 10176, tháng 12.
- Przeworski, Adam, 1991, Democracy and the Market, Cambridge , Cambridge University Press.
- Przeworski, Adam, 2004, Economic Development and Transitions to Democracy, bản thảo, Department of Politics, New York University, tháng 3. Ohio State University Press.
- Rodrik, Dani, Arvind Subramanian, và Francesco Trebbi, 2004, Institutions Rule : The Primacy of Institutions over Geography and Integration in Economic Development, Journal of Economic Growth, Bộ 9, Số 2, tháng 6, tr. 131-165.
- Schweinitz, Karl, 1964, Industrialization and Democracy, New York : The Free Press.
- Sen, Amartya, 1999,Development as Freedom , New York : Oxford University Press.

CHÉN ĐẮNG GIỮA NĂM

Trăm hận, ngàn đau nào sánh được
Tấm lòng lưu lạc nhớ quê hương…


Thơ Thanh Nam, làm năm 1979, 1980 ở Thành phố Seattle. Những ngày như lá, tháng như mây… Hai mươi niên đã qua kể từ ngày Thanh Nam làm những lời thơ nhớ thương sầu hận ấy…

Và đây hai câu Thơ khác của Thanh Nam làm cùng năm trên Đất Khách:

Bốn năm đã thấm trò dâu biển
Một cõi lưu đày rộn nhiễu nhương..

Nếu những năm 1978, 1979, 1980 tôi sống ở Mỹ, nếu tôi làm Thơ với ý trên, câu Thơ sẽ là:

Bốn năm đã ngấm trò dâu biển..
Một cõi lưu đày rộn nhiễu nhương.

“Ngấm” nặng hơn, thô hơn “thấm.” “Thấm” nhẹ hơn, thanh hơn “ngấm.” Tôi, với những phóng sự tiểu thuyết gọi là thời đại, có những ngôn từ sống sượng hơn Thanh Nam với những tiểu thuyết lãng mạn, diễm tình trong đó đa số nhân vật là người tử tế, lịch sự, thanh nhã. Nhưng thôi, cho qua những xác định chữ nghĩa vẩn vương, “thấm” hay “ngấm” thì cũng thế thôi, cũng là ẩm, là mốc cả. Sáng nay, buổi sáng nắng vàng Tháng Bẩy ở xứ người, tôi nhớ Thơ Thanh Nam, tôi ngậm ngùi tự nhủ:

- Mới 4 năm lưu đày đã “thấm” trò dâu biển. Nếu sống thêm ba mươi năm, nếu còn sống hôm nay Thanh Nam sẽ nghĩ gì, sẽ đau như thế nào trước những biển dâu vân cẩu ở cõi lưu đày này?

Thanh Nam sẽ cảm nghĩ gì khi anh phải thấy người từng là Tướng, Tổng Thống của anh le lưỡi liếm đít tên Việt Cộng Tội Đồ của Nhân Dân Việt Nam khi tên này nhâng nháo vác mặt xỏ lá đến Mỹ. Không những chỉ liếm suông, nó liếm tận tình, nó liếm không thằng nào có thể liếm hơn nó!

Trong nhục nhã tôi phải kêu lên:

“Ôi… Mẹ Việt Nam ơi… Chúng con có tội tình gì? Sao chúng con phải sống cùng thời với môt thằng người Việt khốn nạn đến như thằng đó? Sao bao nhiêu anh em chúng con đã phải chết tan xương, nát thịt để cho thằng khốn đó nó sống? Để nó ăn trên, ngồi trốc, để nó nói láo, để nó bợ đít những thằng Cộng Chồn tội nhân của nhân dân? ”

Số phận dân tộc tôi khốn khổ khốn nạn quá chừng khi dân tộc tôi phải có những thằng dân hèn mạt như thằng đó. Thằng đó làm tôi nhục quá chừng, nhục đến như tôi là nhục nhất rồi, trên cõi đời nhiều nhục nhã này tôi nhục không còn ai có thể nhục hơn tôi.

Khi bắt đầu viết bài này, tôi lấy tên bài là TRĂM HẬN NGÀN ĐAU theo lời Thơ Thanh Nam. Viết đến đây tôi đổi tên bài là:

CHÉN ĐẮNG GIỮA NĂM

Cuối năm 2006 tôi viết bài:

CHÉN ĐẮNG CUỐI NĂM

Chén Đắng Cuối Năm kể chuyện Tổng Thống Gerald Ford và người Mỹ phản bội, bỏ rơi nhân dân Việt Nam Cộng Hòa năm 1975. Không những chỉ bỏ rơi, họ còn muối mặt nói những lời tàn nhẫn về những người Việt từng chiến đấu, từng đổ máu với họ.

Bây giờ Tháng Bẩy 2007, tôi viết CHÉN ĐẮNG GIỮA NĂM là đúng sách vở.

Khi năm Heo tới, tôi đã tự bảo năm Heo đừng ngạc nhiên khi thấy những chuyện Lợn, khi thấy những thằng người bẩn hơn Heo, ngu hơn Chó trình lộn mặt thớt mà không biết xấu hổ. Nhưng không ngờ, chắc không người Việt nào ngờ, thằng ấy nó lại đểu, lại hèn đến như thế. Vì tôi là người Việt Nam, vì nó là người Việt Nam, nó không phải là người Việt Nam thường dân, nó từng là Tướng của Quân Đội tôi, Quân Đội Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa, nó từng là Tổng Thống, Thủ Tướng chính phủ nước tôi, vì nó hèn nên tôi bị nhục. Làm người phải biết Nhục khi mình bị Nhục. Người không thấy Nhục khi bị Nhục không phải là Người.

Nó chửi tôi bằng cách nó quỵ lụy tên Cộng sản. Không phải nó chỉ chửi mình tôi, nó chửi tất cả những người Việt Nam, đã chết, còn sống. Nó chửi tôi, nó chửi đồng bào tôi, tôi đau, tôi chửi nó như thế này chỉ là chửi lèm bèm, không hề hấn gì nó. Mặt thớt của nó vẫn bôn lì ra. Xong tôi vẫn phải chửi nó. Tôi chửi nó vì những người Việt Nam đã chết cho nó sống. Tôi chửi nó bằng tiếng chửi của những người Việt đã chết ấy.

Tháng Tư 1975 Thanh Nam làm việc trong Đài Phát Thanh Mẹ Việt Nam. Đài này do người Mỹ lập, người Mỹ điều hành. Năm 1972 người Mỹ ở Việt Nam có đài phát thanh Tiếng Nói Tự Do – khi thò tay – năm xưa giới ký giả Việt ở Sài Gòn thường gọi bàn tay người Mỹ là “bàn tay lông lá ” - ký Hiệp Định Paris với bọn Bắc Cộng, người Mỹ cam kết hủy bỏ những cơ sở tuyên truyền chống bọn Bắc Cộng của họ trong lãnh thổ Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa. Tòa Đại Sứ Mỹ ở Sài Gòn giải tán Đài Tiếng Nói Tự Do, mở ra Đài Mẹ Việt Nam. Đâu cũng vẫn đấy.

Những ngày 19, 20 Tháng Tư 1975, Tòa Đại Sứ Mỹ cho nhân viên Đài Mẹ Việt Nam từ Sài Gòn bay ra đảo Phú Quốc. Đây là trò ông cha tôi gọi là “cà cuống chết đến đít còn cay”. Người Mỹ cho Đài Mẹ Việt Nam ra đảo Phủ Quốc để có thể nói: “Mỹ không đưa nhân viên của Mỹ bỏ chạy khỏi nước, ra đảo Phú Quốc vẫn là ở trong lãnh thổ Việt Nam.” Từ đảo Phú Quốc một sáng, hay một đêm mù sương đầu Tháng 5, 1975, khi Sài Gòn đã đầy nón cối, giép râu, nhân viên Đài Mẹ Việt Nam, trong số có Thanh Nam, xuống tầu biển vượt đại dương sang bên kia trái đất.

Ở thị trấn Ramsey, Mỹ Quốc, một ngày Tháng 11, 1975, nhớ sáng, nhớ đêm mờ sương rời nước xuống tầu trên bờ biển Phú Quốc, người ly hương mới 10 tháng Thanh Nam làm Thơ:

SƯƠNG
Sớm nay trời đổ sương mù
Đồi cao ngó xuống thấy mờ biển khơi.
Bỗng dưng lòng thoáng bồi hồi
Tưởng đâu Phú Quốc đêm rời quê hương.

Nếu sống đến hôm nay, Tháng Bẩy 2007, chắc tâm trạng Thanh Nam không còn thấm, cũng không còn ngấm được gì nữa, những nhiễu nhương của cõi lưu đày chắc đã làm cho tâm trạng Thi sĩ nát như bún thiu, chua như cơm vữa.

Nhớ Thơ của Thi sĩ:

Buồn như người lính vừa thua trận
Nằm giữa sa trương nát gió mưa
Khép mắt cố quên đời chiến sĩ
Làm thân cây cỏ nép bên bờ
Đêm đêm từ đáy hồn thương tích
Vẳng tiếng kèn truy điệu mộng xưa.

Tôi hỏi Thi sĩ:

Buồn như người lính vừa thua trận
Nằm giữa sa trường nát gió mưa
Đêm đêm từ đáy hồn thương hân
Vẫn Tiếng Kèn Truy Điệu Nước Xưa?

Thanh Nam đi khỏi cõi đời này từ thị trấn Seattle Tháng Sáu năm 1980. Từ ấy, đến năm nay, 2007, Tháng Sáu đến, Tháng Sáu trở lại, người ta nhắc đến Thanh Nam.

Nhiều bài các bạn văn của Thanh Nam viết về Thanh Nam được đăng lại. Tôi thầm nói với Thanh Nam:

- Nam may mắn đấy. Ít nhất Nam cũng may mắn hơn anh em. Bao nhiêu năm ở trong quân đội, Nam toàn ngồi viết ở bàn giấy, Nam không phải bận đồ treillis vác súng gác cổng trại quân một lần nào, Nam không phải bắn một phát súng; Nam đi thoát trước ngày 30 Tháng Tư, Nam không phải qua một ngày tù đày nào ở quê nhà như anh em, Nam không phải ngồi ngậm miệng nghe bọn chúng nó nói Nam có tội, Nam không phải thò tay ký vào bản nhận “ Tôi có tội với nhân dân, có tội với Tổ Quốc”; sang Mỹ, Nam có khổ cực thì cũng chỉ khổ như anh em thôi. Nam đi khỏi cõi lưu đày này sớm nên Nam không bị nhục như tôi đang nhục bi giờ.

Nam nhớ không? Một tối năm 1960 chúng ta ba mươi tuổi, Ngọc Linh mời chúng ta ăn trên lầu Nhà Hàng Đồng Phát, Chợ Cũ, Sài Gòn. Có Nguyên Sa, Thái Thủy, Phan Nghị, Văn Quang, Quốc Phong, Sĩ Trung. Trong khi ăn chúng ta nói linh tinh đến chuyện vợ bé, con riêng.

Tôi nói:

- Ông bố tao không có vợ bé, tao không bị khổ vì ông bố tao có vợ bé, tao sẽ không bao giờ có vợ bé.

Văn Quang nói:

- Nếu mày nói thế thì tao có quyền có vợ bé. Ông bố tao nhiều vợ lắm.

Tôi không được sắc xảo lắm về miệng lưỡi, tôi không đối đáp được nhanh. Đang nói, bị ai nói ngược, tôi khựng lại. Một lúc sau, khi anh em đã nói sang chuyện khác, tôi nói:

- Này Văn Quang. Nếu trước đây ông già mày có vợ bé, mày khổ thì bi giờ mày đừng làm cho các con mày phải khổ như mày. Còn mày thấy ông già mày có vợ bé mà mày không khổ thì mày cứ việc.

Thanh Nam nói:

- Làm cái gì mà mày cay cú thế? Mày mới có vợ đây mà. Đừng có nói vội. Tao thấy những thằng nói như mày là những thằng có vợ bé sớm hơn ai hết.

Thanh Nam hơn chúng tôi ba, bốn tuổi, tuy không nói ra, chúng tôi coi Nam như đàn anh. Tối ấy Thanh Nam nói về tôi như thế, tôi lặng im.

1960 Sài Gòn, 2007 Washington DC, 47 năm sau, hôm nay tôi nói với Thanh Nam:

- Thanh Nam ơi… Tao nói tao sẽ không có vợ bé, tao không có vợ bé.

Đang viết chuyện Chén Đắng, có lẽ vì chén đắng quá, tôi níu Thanh Nam vào chuyện. Đắng ơi là đắng. Tôi ngán, tôi tởm cũng phải thôi. Mười ngàn người Việt đi biểu tình chửi Việt Cộng, chỉ một thằng đó với cái mặt vừa mo vừa thớt của nó, cái lưỡi dài có gai độc của nó, hóa giải công lao của mọi người. Đau quá là đau. Nó nói láo, nó công nhiên liếm tên Việt Cộng ngay trên đất Hoa Kỳ mà người Việt ở Mỹ không làm gì được nó. Càng kể càng đau, ruột gan càng kể càng rầu như dzưa. Lần trước viết về nó, tôi nhớ lời dậy của bà mẹ tôi ngày xưa:

- Đừng có bới cứt ra mà ngửi.

Nó thối quá rồi, không nói đến nó nữa, coi nó như bãi cứt, chửi nó mình chỉ thêm khó chịu. Tôi đã coi nó như bãi cứt, nhưng nó không chịu nằm im, nó bốc mùi thối. Tôi không thể không chửi nó.

Trên các báo Việt ngữ ở hải ngoại hôm nay, trên hằng hà sa số các trang WEB, NET Việt, bài của hai ông nhà viết kể tên dưới đây được đăng nhiều nhất: Văn Quang với những bài Lẩm Cẩm Sài Gòn Thiên Hạ Sự, Phạm Trần với những bài phê bình chính trị. Hôm qua, Nhà Viết Phạm Trần gửi bài viết mới của ông cho Tạ Quang Khôi, biệt dzanh Tạ Ống Khói – vì nước da họ Tạ trắng như than Tầu - và tôi, với lời an ủi:

- Hai ông đọc đi, cho nguôi giận về vụ Nguyễn Cao Kỳ.

Tôi đọc và tôi hậm hực:

“Nguôi là thế nào? Nguôi là ký gì? Làm sao nguôi được! Nó chửi mình mình nghe. Mình chửi nó mình nghe. Nó có nghe chó đâu! Đồng bào ta ở quê nhà đâu có thấy cảnh người Việt ở Mỹ biểu tình chửi bố thằng Chủ Tịt Hậu Môn, những thằng Đầu Xỏ Cộng Sản chuyên thậm thụt ra dzô cửa sau những công thự ở các nước Âu Mỹ. Nó chỉ cần cho TiVi chiếu cảnh bọn Việt Chồn Lùi đến ăn uống Tiệc Máu với nó ở Cali, nơi được gọi là Thủ Đô của Người Việt Chống Cộng, nó chỉ cần cho chiếu cảnh nó được thằng Lộn Giống cung kính nâng bi, một điều “ Kính thưa Chủ Tịt,” hai điều : “Chủ Tịt là người Việt cao quí. Tôi rất kính phục Ngài Chủ Tịt. Tôi kêu gọi người Việt ở Mỹ hãy cùng tôi nâng bi Ngài Chủ Tịt…” Nó chỉ cần làm thế là tôi thua nó dzồi.

Nó, tên Chủ Tịt Hậu Môn, và bè lũ đảng viên Mafia Hút Máu Dân Việt, sẽ có ngày bị đền tôi; chúng sẽ có ngày bị dân Việt nắm cổ chó lôi từng thằng ra trước cửa chợ, đánh cho mỗi thằng năm, bẩy cái bạt tai, nhổ vào mặt mỗi thằng năm, bẩy bãi nước miếng, đá đít, đuổi đi, tượng Lão Hồ bẻ cổ em nhỏ trước Tòa Đô Chính Sài Gòn sẽ bị dân Sài Gòn kéo đổ, lôi ra cho nằm trước chợ Bến Thành, rất có thể trong Ngày Trị Tội Đền Tội đó có vài thằng Cộng ác ôn bị nhân dân Việt kê súng vào đầu, nổ bọp, như chuyện đã xẩy ra 10 năm trước ở các nước Đông Âu, ở Lỗ, ở Nga, ở Đức. Chuyện ấy, chuyện bọn đảng viên Việt Cộng Ác Ma bị dân Việt bợp tai, đá đít, chuyện tượng anh Gìa Hồ bị dân Việt cho ra nằm ở bãi rác, là chuyện nhất định sẽ đến. Sông có thể không cạn, núi có thể không mòn, nhưng chuyện bọn Cộng Việt bị dân Việt bạt tai, đá đít nhất định sẽ xẩy ra.

Tôi không thấy có Bỉnh Bút Da Việt Nam nào ở Mỹ, tức những nhà bình luận chính trị, viết kể tội người Mỹ, gọi đích danh Tổng Bớt, Ngoại Rai, trong Vụ Án Bọn Cộng Đàn Áp Nhân Quyền ở Việt Nam năm 2007. Ngang ngược nhất là cảnh thằng Công An VC dùng bàn tay mu rùa cộng sản hôi nhớt của nó bịt miệng Linh Mục Nguyễn Văn Lý. Hai người đó, Tổng Bớt, Ngoại Rai, với thái độ Hờ Hững Lạnh Nhạt Ra Mặt của họ với Phong Trào Dân Chủ ở Việt Nam khi họ đến Việt Nam dự Hội Nghị APEC, đã cho phép bọn Việt Cộng thẳng tay đánh những người Việt Dân Chủ ở trong nước. Đau hơn nữa là bọn Cộng chơi trò bổn cũ soạn lại.

Chuyện đó đã xẩy ra với bọn Tầu Cộng. Mỹ cho nó, Tầu Cộng vào WTO, Mỹ rút, cởi, mở hết những xiềng xích kiềm chế nó. Dzô WTO, Mỹ hết gò bó, Mỹ không còn cách xiết được nó, bọn Tầu Cộng hung hăng đánh những người Tầu Dân Chủ hộc máu mồm, hộc cả sì dzầu, chà cháo quẩy, pánh tiu, pánh pò, đánh đến nơi, đến chốn, Trước ngày được dzô WTO, bọn Tầu Cộng để cho Đảng Đối Lập Tầu ra đời, hoạt động, chúng không công nhân nhưng chúng cũng không cấm, không dẹp ngay. Dzô WTO rồi, chúng chơi xả láng. Chủ Tịch Đảng Đối Lập Tầu bị chúng bắt, ra tòa, kết án tù năm bẩy năm về tội phá rối trị an.

Chính phủ Mỹ có làm gì đâu? Biu Lin-tân, Gioọc Bớt, Ngoại Rai im ỉm gái ngồi phải cọc. Phản đối mồm lảm nhảm rồi thôi. Lại xem bọn Tầu Cộng đàn áp những người Tầu Pháp Luân Công. Những người này chỉ ngồi thiền, nó bảo không được ngồi đông nơi công cộng. Cứ ngồi. Nó đánh, nó đá, nó đạp ngay tai chỗ. Đàn ông, đàn bà nó thượng cẳng chân, hạ cẳng tay, nôm na là nó đấm, nó đá, bịt mồm, bẻ tay, quật ngã, còng, cùm như nhau. Nó bắt họ đi tù. Nay có cả ngàn người Pháp Luân Công nằm phơi rốn trong ngục tù Tàu Cộng. Chính phủ Mỹ có làm gì bênh vưc họ đâu! Thương thay! Người thế giới đã quên những người Pháp Luân Công nạn nhân của Tàu Cộng.ï Nay chẳng còn ai nhắc đến Pháp Luân Công. Mà những người Pháp Luân Công ở Mỹ đông hơn, mạnh hơn người Việt ở Mỹ biết bao nhiêu. Đấy là chưa kể việc bọn Tàu Cộng chiếm nứơc Tây Tạng từ 50 năm nay, Đạt Lai Lạt Ma bôn ba thế giới từ năm 1950, đượ gì đâu, dân Tây Tạnh vẫn nằm dưới sự cai trị của bọn Tàu Cộng, nước Tây Tạng vẫn là một tỉnh của nước Tàu.

Tên Chủ Tịt Tầu Hồ cẩm Đào mới đây nói:

- Trung Quốc vẫn giữ chính sách Độc Đảng.

“Độc Đảng” nghĩa là nước Tầu chỉ có một Đảng Cộng Sản Độc Ác cầm quyền, ở nước Tầu chỉ có bọn đảng viên Đảng Cộng Độc có quyền ăn trộm, ăn cắp, ăn chơi sa đọa, hiếp dâm, tham nhũng thả dàn, cướp đất của dân, bán đất, bỏ tù dân, giết dân. Dù chúng không còn là Cộng sản nữa, dù chúng đã cho bọn Kác Mác, Lê-nin xuống hố phân, chúng vẫn cứ giữ cái quyền độc ác giết dân, tham nhũng, trộm cắp của bọn Cộng sản. Bọn Việt Cộng theo đúng thủ đoạn của bọn Tầu Cộng đàn anh chúng. Bọn Tầu Cộng dzô WTO mà vẫn sống, không những chúng chỉ sống, chúng còn sống ngang ngược hơn trước.

Bọn Việt Cộng cũng thế thôi. Khi thấy có Bình Luận Da Việt tiên đoán:

“Dzô WTO bọn Việt Cộng sẽ chết!”

Tôi tự hỏi:

“Bon Tầu Cộng dzô WTO không chết, tại sao bọn Việt Cộng dzô WTO lại chết?”

Chính sách đối phó với những người Tàu đòi Dân Chủ, Nhân Quyền của bọn Tàu Cộng là chúng không thẳng tay diệt những người đối lập chúng khi những người này hoạt động đơn độc, không có đoàn thể, nhưng khi những người này lập Đảng, Phong Trào, có thành viên, là chúng đập chết thôi. Bọn Việt Cộng diệt Linh Mục Nguyễn Văn Lý vì ông có một số tín hữu theo ông, chúng diệt phong trào đối kháng ở hậu giang vì phong trào này có tín đồ Hòa Hảo, Cao Đài. Chúng bao vây, cô lập, làm khó Bác sĩ Nguyễn Đan Quế ở Sài Gòn nhưng chúng không bắt, chúng không bỏ tù ông nữa, chúng để ông lâu lâu gửi một Tâm Thư, hay một cái gọi là Lộ Trình Dân Chủ ra nước ngoài. Ông Bác sĩ có làm hại chúng nhưng cái hại đó chúng chịu được. Người Việt ở nước ngoài đem đô-la về nước ăn chơi, chúng để yên nhưng nếu ai từ nước ngoài về đường Nguyễn Trãi đến gặp Bác sĩ Nguyễn Đan Quế, hay đến Thanh Minh Thiền Viện đường Trương Tấn Bửu xin thăm Hòa Thượng Thích Quảng Độ, người này vừa ra khỏi chỗ gặp là bọn Công An Đầu Trâu Mặt Ngựa nó áp tới, nó bóp đzế nó lôi đi liền một khi.

Chuyện Chủ Tịt Hậu Môn Nguyễn minh Triết bị giới lập pháp Mỹ hạch hỏi về thành tích đàn áp Nhân Quyền, theo tôi, không có gì đáng cho nó, và bọn đảng viên Cộng Việt, phải sợ. Vừa rút nó ra khỏi Danh Sách Đen Những Nước Mỹ Cần Quan Tâm, không thể năm, bẩy tháng lại đút nó trở dzô. Lập Pháp Mỹ không thể làm cái trò trẻ con đó. Lập pháp Mỹ không thể làm gì có hại đáng kể cho bọn Việt Cộng khi hành pháp, tức chính phủ Mỹ, không đồng ý. Gặp Tổng Thống Mỹ ở Nhà Trắng như một vị quốc khách, dù là Khách Hậu Môn, gặp những nhà lập pháp Mỹ, Nguyễn minh Triết nó có sợ hãi, nó có hứa hẹn sửa đổi gì đâu? Không những nó không sợ, nó còn ngang ngược nói như nó nói trên đấát nó cầm quyền:

- Ở Việt Nam không có tù chính trị.

Nó lẹo lưỡi Chồn nói với người Việt ở Mỹ:

- Sống trên đời để làm gì? Các bạn có đặt câu hỏi đó không? Sống trên đời không phải để thù hận mà chính là để yêu thương với nhau, yêu thương giữa con người với con người, giữa dân tộc. Vì vậy một lần nữa tôi mong bà con của mình, ở đây thì khỏi phải nói rồi, nhưng mà bà con còn xa xa hãy vì quê hương đất nước vì dân tộc này, hãy gác bỏ mọi chuyện cũ đi, mọi tị hiềm của quá khứ, hãy đoàn kết lại và cùng nhau xây dựng một mẹ hiền, một đất nước Việt Nam giàu mạnh. Đó không chỉ là lời nói và ý kiến của tôi mà đó là tâm nguyện của cả dân tộc Việt Nam, là ý chí của đảng và nhà nước Việt Nam

Nó nói dzậy đó, nó nói dzậy ở Cali, Huê Kỳ, ở giữa Thủ Đô của Người Việt Chống Cộng, nó nói dzậy tôi không điên ruột, tôi không sôi máu, tôi không – như Tạ Tốn - rú lên một tiếng thanh thoát, tôi không thổ ra một búng máu tươi, sao được!

Có khác chi nó nói:

- ĐM chúng mày. Chúng mày về nước đi để cho bố chúng mày bịt mõm chúng mày.

Tôi gửi riêng bài này đáp lễ Bình Luận Da Phạm Trần, với lời cám ơn và cước chú:

- Đọc bài của Bình Luận Da, tôi không nguôi hận một ly ông cụ nào. Hình như tôi lại càng thêm hận. Tôi hận mà tôi có làm gì cho tôi nguôi hận được đâu, tôi chỉ có thể chửi chúng nó lèm bèm thế này thôi.

Ngày mai tôi sẽ không viết chuyện chính chị, chính em nữa. Từ đầu năm Heo đến nay tôi đã xa cách những chuyện Tình Yêu Cao Đẹp Ngàn Đời Sống Mãi với Trăng Sao, Thơ Văn Lãng Mạn Châu Ngọc Vàng Y Kim Cang, Đàn Bà Tiên Nữ Đa Tình Đa Cảm Đa Đoan Đa Đủ Thứ, Những Cuộc Tình Xanh Yêu Đương, Trắng Thủy Chung, Rộn Thanh Âm, Rạo Ân Ái, Rực Tình Xuân, Bần Thần Hoài Niệm. Từ ngày mai tôi sẽ viết về

TÌNH và THƠ.

THƠ gì cũng được, Thơ Dzở cũng là Thơ. Cuộc đời có nhiều nhà Thơ Dzở Bỏ Cha đi mà vẫn được ca tụng là Thi Sĩ Lời Lời Châu Ngọc, Hàng Hàng Gấm Thêu, người ta đánh bóng Thơ Người Ta, bôi dzầu vẹc-ni, chà giấy nhám, sịt nước bông Thơ Bạn Người Ta, Thi Sĩ Mướp Đắng bốc Thơ Thi Sĩ Mạt Cưa là “Đệ Nhất Thơ Việt Muôn Đời Ngàn Kiếp,” Thi Sĩ Mạt Cưa nâng Thơ Thi Sĩ Mướp Đắng là “Thơ Tuyệt Vời Kim Cổ.”

Vậy thì thay vì làm cái việc ngu ngơ bới cứt ra mà ngửi, thay vì phí compiutưa viết về những thằng Lộn Giống, tại sao tôi lại không viết về Tình Yêu, về Thơ? Như tự bao giờ tôi vẫn viết. Khi bánh xe lãng tử đưa tôi đến Kỳ Hoa một sáng cuối thu 10 niên trước đây, tôi đã định tôi sẽ chỉ viết về Tình Yêu. Vậy mà vì những nguyên nhân tẹp nhẹp nào, mấy năm nay tôi sa đà vào cõi tục lưu đày nhiễu nhương với những bài chửi Cộng?

Bởi dzậy, từ ngày mai Viết ở Rừng Phong, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Đất Trích, tôi sẽ trở lại với chuyện Tình, chuyện Thơ.

Có thể những nữ độc giả thơm như múi mít của tôi không thích khi các nàng phải đọc những chuyện tanh tưởi như chuyện Chủ Tịt Hậu Môn Cộng Chồn đưa cái Lá Đa Gái Việt ra làm món hàng mời chào doanh gia thế giới:

“Ông ơi… Đến Việt Nam đi ông. Việt Nam có Lá Đa ngon lắm.” – bọn Việt Cộng bắt chước bọn Tầu Công gọi cái trò Mời Chào Lá Đa này là “khuyến mãi” - các nàng không thích đọc những chuyện Cao Cầy Nham Nhở Nâng Bi Chủ Tịt Hậu Môn. Tôi sẽ viết chuyện Tình, chuyện Thơ để các nàng đọc.

Tôi kết bài này bằng Thơ Thanh Nam, tôi có phóng tác mấy tiếng. Nếu Thanh Nam sống hôm nay, chắc Thơ Thanh Nam sẽ như vầy:

Ba mươi năm tởm trò dzơ bẩn
Một cõi lưu đày nhớp với nhơ.
Buồn như người lính vừa thua trận
Nằm giữa sa trường nát gió mưa



Đêm đêm từ đáy hồn thương hận
Vẫn Tiếng Kèn Truy Điệu Nước Xưa!

CÔNG TỬ HÀ ĐÔNG

Cố gắng xây dựng một lý thuyết mới để duy trì chế độ

“… Khi muốn chuyển từ tiên phú luận sang cộng đồng phú dư luận, ông Ôn Gia Bảo và ban lãnh đạo thế hệ cách mạng thứ 5 của Trung Quốc đã nghĩ đến tiền đề cải cách chính trị và bỏ chuyên chính một đảng …”

Tổng quát

Sau gần 7 năm gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới ngày 11-12-2001, ban lãnh đạo Đảng Cộng Sản Trung Quốc đang tìm một lý thuyết mới để chính thống hóa vai trò lãnh đạo của mình trên toàn xã hội Trung Hoa và đã làm đủ mọi cách để bảo vệ quyền lãnh đạo này. Cố gắng này đã được khích lệ bởi sự tăng trưởng cao và đều về kinh tế, nhờ đó tăng cường sức mạnh quân sự.

Chính qua cố gắng tăng cường sức mạnh quân sự này mà nhân dân Trung Quốc đã phần nào chấp nhận vai trò lãnh đạo của đảng cộng sản để có thể tự hào trước thế giới về sự hùng mạnh của quốc gia mình. Từ cuối thập niên 1990 đến nay, kinh phí quốc phòng hàng năm của Trung Quốc không ngừng gia tăng, chủ yếu vào hai lực lượng chính là hải quân và không quân để trong 10 năm tới có thể đối đầu ngang hàng với Hoa Kỳ, ít nhất trên biển Đông và khu vực phía tây Thái Bình Dương (Đông Á).

Trong cuộc Triển lãm IMDEX ASIA 2007 tại Singapore từ ngày 15 đến 18-5-2007 vừa qua, Bắc Kinh cho biết Trung Quốc đã đặt mua thêm 5 tàu ngầm mang đầu đạn nguyên tử SSN MIRV và 30 tàu ngầm loại tấn công khác. Về không quân, ngay trong năm 2007, bộ quốc phòng Trung Quốc đã đặt mua hoặc bắt đầu sản xuất theo bằng sáng chế của Nga từ 10 đến 20 oanh tạc cơ siêu âm Backfire TU-22M có phạm vi hoạt động 4.000 km, v.v.

Nhưng sự hùng mạnh của Trung Quốc không chủ yếu nằm trong lãnh vực quân sự mà là tư tưởng. Theo ban lãnh đạo Đảng Cộng Sản Trung Quốc, chủ nghĩa Marx-Lenin, tư tưởng Mao Trạch Đông và đường lối Đặng Tiểu Bình không còn sức thuyết phục nữa, nhất là đối với các thế hệ thứ 5 (sinh từ 1950 đến 1969) và thế hệ thứ 6 (sinh từ 1970 đến 1989), phải tìm cho ra một tư tưởng mới và một cách thức quản trị mới để duy trì sự lãnh đạo của đảng cộng sản trên toàn lãnh thổ Trung Quốc, kể cả Đài Loan.

Cuối tháng 2-2007, thủ tướng Ôn Gia Bảo đã khai mạc cuộc hội luận về "nhiệm vụ lịch sử của chặng đường đầu tiên của chủ nghĩa xã hội và một số vấn đề liên quan đến chính sách đối ngoại của đảng ta". Tiếp đó, ngày 16-3, Hội nghị lần thứ 5 của quốc hội kỳ 10 Trung Quốc đã thông qua dự thảo "luật vật quyền", hay luật về quyền sở hữu tài sản, dự định sẽ ban hành vào ngày 1-10 sắp tới. Đây là hai lý luận mới mà ban lãnh đạo Bắc Kinh muốn Đại hội đảng cộng sản Trung Quốc tổ chức vào mùa thu năm nay thông qua, trước khi chính thức được áp dụng vào thực tế.

Luật về quyền sở hữu tài sản

Để đối phó với nạn đầu cơ về nhà đất và chứng khoán, ban lãnh đạo đảng cộng sản vừa ban hành đạo luật về quyền sở hữu để giải nhiệt cơn sốt nhà đất và chứng khoán đang sắp bùng nổ.

Dự luật này đã được ra đời một cách khó khăn. Nó được phôi thai từ năm 1993, nhưng sau nhiều tranh cãi gay gắt về ý thức hệ, "luật này mâu thuẫn với nguyên tắc công hữu của chủ nghĩa xã hội", tất cả đều bị xếp lại. Từ sau ngày đó, sinh hoạt kinh tế của xã hội Trung Quốc đã thay da đổi thịt, không còn liên quan gì đến lý thuyết của chủ nghĩa xã hội nữa. đổi hẳn. Tháng 12-2002, dự luật về quyền sở hữu tài sản này được đưa bàn cãi và mãi tới ngày 16-3-2007, nội dung của nó mới được quốc hội chấp nhận với khá nhiều sửa đổi.

Dự luật này có nhiều mục đích. Trước hết nó nhằm giải quyết các cuộc tranh giành tài sản giữa tư nhân và nhà nước, đang đe dọa xã hội Trung Quốc. Thứ hai là để đối phó với những tranh chấp quyền sở hữu bất động sản giữa các cá nhân, do mức sống được nâng cao. Thứ ba là để ngăn ngừa sự nhũng lạm của các cấp lãnh đạo địa phương trong việc thu dụng đất đai của nông dân và nhà cửa của cư dân đô thị cho nhu cầu riêng. Sau cùng là để hạn chế việc chiếm hữu tài sản nhà nước khi giải tư các xí nghiệp quốc doanh dự định sẽ tiến hành đều đặn từ đây.

Thực tế tại Trung Quốc từ 15 năm trở lại đây, cùng với việc khai thác đất đai và chỉnh trang đô thị trên khắp lãnh thổ, trình trạng những người bị buộc phải rời khỏi nhà đất của mình không được đền bù xứng đáng xảy ra tràn lan, gây thành vấn nạn xã hội lớn. Thêm vào đó, các chính quyền địa phương gia tăng tốc độ khai thác bất động sản một cách mù quáng làm thiệt hại khá nhiều công quỹ làm sinh hoạt kinh tế địa phương không bình thường.

Dưới chế độ cộng sản, mặc dù được ghi trong được ghi trong hiến pháp và dân luật, quyền sở hữu tư nhân vẫn chưa được công nhận. Lần này luật về quyền sở hữu xác định rằng tại Trung Quốc nhà nước, tập đoàn, cá nhân đều có quyền sở hữu tài sản riêng.

Bộ Luật về quyền sở hữu này có năm thiên, 19 chương, 241 điều, có thể tóm tắt lại như sau : chính quyền bảo vệ tài sản của nhà nước, các tập đoàn và tư nhân bằng pháp luật, không một tổ chức hay cá nhân nào có quyền xâm phạm. Trong trường hợp trưng dụng đất đai và nhà cửa vì lợi ích chung, chính quyền phải bồi thường thiệt hại một cách xứng đáng cho người bị truất hữu hay bị thu mua nhà đất. Không ai được quyền chiếm đoạt hay phá hoại tài sản hợp pháp đó.

Nhưng một vấn đề lớn đang đặt ra cho xã hội Trung Quốc là nếu luật này được áp dụng, nghĩa là quyền tư hữu được chấp nhận, giá bất động sản tại Trung Quốc sẽ nổ bùng và đào sâu thêm hố sâu cách biệt giữa nông thôn và thành thị, chênh lệch giàu nghèo càng thêm rõ nét. Nếu không kiểm soát được sự đầu cơ nhà đất, thị trường bất động sản sẽ có nguy cơ phá sản như các thị trường chứng khoán không có kiểm soát. Tuy nhiên, với luật mới này, sinh hoạt kinh tế sẽ phát triển hơn vì người sở hữu nhà đất có quyền thế cầm cố tài sản của mình để vay thêm vốn đầu tư. Tình trạng nhũng làm quyền thế cũng sẽ giảm đi vì sự chuyển nhượng bất động sản sẽ không qua trung gian nhà nước và người bị di dời đi nơi khác sẽ được đền bù xứng đáng theo giá thị trường.

Chính vì muốn phát huy những ưu điểm và hạn chế những khuyết điểm của luật về quyền sở hữu này, chính quyền Trung Quốc đã thả nổi dự luật để đón nhận những ý kiến khác nhau trước khi áp dụng. Nếu không có gì trở ngại, dự luật này "sẽ được quốc hội thông qua" nhân dịp quốc khánh 1-10 sắp tới. Từ đây tới đó những nhà lập pháp Trung Quốc đang suy nghĩ về những thủ tục áp dụng luật nào vào thực tế để tiếp tục lôi kéo đầu tư nước ngoài và giữ vững tốc độ tăng trưởng kinh tế.

Nói chung, với bộ luật về quyền sở hữu này, Trung Quốc đã làm một cố gắng lớn để hội nhập một cách bình thường vào sinh hoạt kinh tế chung của thế giới.

Lý luận mới về chặng đường đầu tiên

Khác với Nga và các nước Đông Âu, cho đến đầu thế kỷ 21 này Trung Quốc đã không phủ nhận chủ nghĩa xã hội mà còn từng bước tu chính ý thức hệ này.

Vào giữa thập niên 1980, dưới sự chỉ đạo của Đặng Tiểu Bình, Hồ Diệu Bang và Triệu Tử Dương, một số thành phần cấp tiến trong đảng cộng sản đã tổ chức nhiều cuộc hội thảo về "chặng đường phát triển đầu tiên của chủ nghĩa xã hội". Trong đại hội lần thứ 13 của đảng cộng sản mùa thu 1987, tổng bí thư Triệu Tử Dương (bị thất sủng vào tháng 6-1989 vì lắng nghe ý kiến của sinh viên ở Thiên An Môn và muốn hiện đại hóa chính trị) đã tạo điều kiện để triển khai hệ thống lý luận này. Ôn Gia Bảo, lúc đó đang là bí thư của Triệu Tử Dương, phát biểu rằng nếu biến chủ nghĩa xã hội thành một "lý tưởng" và hợp thức hóa một số yếu tố của chủ nghĩa tư bản, như tự do kinh doanh và quyền tư hữu, chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ có thể kéo dài 100 năm dưới sự lãnh đạo chuyên chính của một đảng.

Lý luận này được đưa ra từ ý thức nguy cơ sau 30 năm dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản, khả năng sản xuất của Trung Quốc vẫn không gia tăng, khả năng xây dựng một xã hội lý tưởng theo khuynh hướng xã hội chủ nghĩa đúng nghĩa vẫn chưa thể thực hiện. Dưới sự chỉ đạo của Đặng Tiểu Bình, khi bắt đầu đường lối cải cách, mở cửa và thực hiện bốn hiện đại hóa từ 1978, nhiều chỉ dấu tốt đẹp bắt đầu thành hình. Ban lãnh đạo cộng sản Trung Quốc nhận thấy rằng muốn gia tăng sản xuất không phải bằng kinh tế kế hoạch mà bằng các yếu tố tư bản chủ nghĩa, nghĩa là chấp nhận kinh tế thị trường, tôn trọng quyền tư hữu, cho phép cá nhân làm giàu và các vùng có điều kiện địa lý thuận lợi phát triển nhanh hơn những nơi khác. Chủ trương này có tên là "tiên phú luận".

Sau gần 30 năm áp dụng, từ 1978 đến nay, kết quả đã vượt ngoài ước muốn của ban lãnh đạo đảng cộng sản. Tỷ lệ tăng trưởng kinh tế gia tăng chưa từng thấy, bộ mặt kinh tế của Trung Quốc cũng thay đổi hẳn. Những nơi nhận đầu tư nước ngoài phát triển vượt trội hơn các nơi khác ; những trung tâm trao đổi chính như Quảng Châu, Thượng Hải, và Bắc Kinh trở thành những đầu cầu phát triển mới.

Ngày 26-2-2007, thủ tướng Ôn Gia Bảo, nhà lý luận chính thống của đường lối cải cách mở cửa, nhắc lại "nhiệm vụ lịch sử của chặng đường đầu tiên để phát triển vững chắc chủ nghĩa xã hội". Ông cho rằng phải giải phóng sức sản xuất, gia tăng không ngừng tài sản vật chất của chủ nghĩa xã hội bằng cách thực hiện từ từ công bình, dân chủ và pháp trị.

Ôn nói : "Khoa học dân chủ, pháp chế, tự do, nhân quyền không phải là thứ đặc hữu riêng của chủ nghĩa tư bản, đó là những giá trị trong quá trình lịch sử dài của loài người đạt được, đó là thành quả của văn minh sáng tạo. Dó đó chế độ xã hội chủ nghĩa và chính trị dân chủ không mâu thuẫn nhau, dân chủ cao độ, pháp chế hoàn bị thực ra là yêu cầu nội tại của chế độ xã hội chủ nghĩa... "Mục tiêu trước mắt của chúng ta là xúc tiến phát triển kinh tế, bảo vệ quyền lợi công dân, chống lại hành vi hủ bại, nâng cao uy tín của chính phủ, xúc tiến hòa giải xã hội, mở rộng dân chủ, chỉnh đốn pháp chế, tiếp tục cải cách thể chế chính trị. Làm được như thế chúng ta sẽ đạt được sự thông cảm và tán đồng rộng rãi về con đường mà nhân dân Trung Quốc đã chọn".

Ông chủ trương tiếp tục đường lối cải cách, vừa mở cửa vừa thông qua cải cách chính trị như điều chỉnh khoảng cách thu nhập quốc dân, xem dân chủ và pháp trị là trung tâm cải cách để nhằm đào tạo một xã hội hài hòa mà ông gọi là "cộng đồng phú dư" (cùng giàu với nhau).
Trong tình trạng xã hội Trung Quốc hiện nay, hố ngăn cách giàu nghèo còn rất sâu rộng mà Ôn Gia Bảo gọi là "giai đoạn đầu tiên của chủ nghĩa xã hội" để thực hiện không phải là một xã hội xã hội chủ nghĩa xã hội chín muồi mà là xã hội tư bản chủ nghĩa thành thực như Nhật Bản và các nước Âu Tây đã đạt được.

Khi muốn chuyển từ tiên phú luận sang cộng đồng phú dư luận, ông Ôn Gia Bảo và ban lãnh đạo thế hệ cách mạng thứ 5 của Trung Quốc đã nghĩ đến tiền đề cải cách chính trị và bỏ chuyên chính một đảng dù vẫn chuẩn bị cho đảng cầm quyền có cơ hội nắm quyền lân hơn. Sự khiêm tốn muốn học hỏi "tài sản chung của loài người là dân chủ và pháp chế" của thủ tướng Ôn Gia Bảo là một bước tiến lớn để thuyết phục các đồng chí của ông thoát khỏi chủ nghĩa công nghiệp, chủ nghĩa khoa học giản đơn. Trong kỳ họp đại hội đảng cộng sản lần thứ 7 vào mùa thu năm nay, ông sẽ đề nghị đổi tên đảng cộng sản Trung Quốc thành đảng Xã hội khoa học để cân bằng giữa phát triển và hài hòa xã hội, khai thác và giữ gìn môi trường. Cả vấn đề Đài Loan cũng có thể giải quyết tương đối dễ dàng nếu có một cộng hòa liên bang Trung Hoa dân chủ, pháp trị và đa nguyên.

Nguyễn Minh (Tokyo)

Báo Nhân Dân “bịt miệng” CNN để mớm lời cho Chủ tịch Triết