Thứ Sáu, 13 tháng 7, 2007

“Dối Trá Trắng Trợn” ở Việt Nam

Mike BengePhan Tường Vi lược dịch

Bài xã luận của “Chủ tịch” (1) nước Cộng Sản Việt Nam Nguyễn Minh Triết – “Những gía trị và ích lợi chung giữa Việt Nam và Hoa Kỳ” (Báo Washington Times, Trang A-17, số ngày 25 tháng 6) – sặc mùi tuyên truyền nhớp nhúa cho thấy một sự xơ cứng thiếu sáng tạo trong suy nghĩ: có thể nói nó hoàn toàn là một bản dịch bê-nguyên-xi-từng-chữ trong trang quảng cáo của ông Triết đã đăng trước đó trên báo Washington Post (2) trang A-19 đi ngày 21 tháng 6, là bài “Lá thư Chủ tịch Việt Nam Nguyễn Minh Triết.”

Paul Joseph GoebbelsNguồn: library.thinkquest.org

Thomas Jefferson chắc cũng trăn qua trở lại dưới mồ khi biết Hồ Chí Minh đã từng dùng những lời bất tử của ông trong Bản Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” cho lời mở đầu của bản Tuyên ngôn Độc lập của người Cộng Sản Việt Nam. Đây cũng chính là chế độ Cộng Sản Việt Nam có trách nhiệm với việc thảm sát hơn 1 triệu người Việt Nam (*)

Mặc dầu những lời bất tử của ông Jefferson được dùng trong Tuyên ngôn Độc lập Việt Nam, nhưng ở đó lời bất tử trên chỉ còn là những sáo ngữ rỗng tuếch. Việt Nam không chấp nhận bất kỳ thách đố nào đối với sự cai trị duy nhất của đảng cộng sản. Những sự giết hại vô pháp luật vẫn tiếp tục xảy ra (*), và trong đợt trấn áp “tệ nhất trong 20 năm qua” mới đây, chế độ đã bắt giữ và thảy vô tù hơn 20 người đấu tranh cho tự do tôn giáo, cho dân chủ và nhân quyền, trong lúc tiếp tục siết chặt giới truyền thông và tăng cường kiểm soát ngặt nghèo mạng lưới Internet.

Lãnh đạo tôn giáo và tín đồ của Phật giáo, Thiên Chúa giáo và tín đồ của các giáo phái khác đã bị sách nhiễu và bắt giữ thường xuyên. Hơn 300 tù nhân chính trị người cao nguyên theo đạo Tin lành vẫn đang còn bị giam giữ.

Đối với Jefferson, là tổng thống đồng nghĩa là được người dân bầu chọn qua một cuộc bầu cử công bằng và tự do, không phải do Đảng Cộng Sản Việt Nam, chỉ chiếm 4 phần trăm dân số, chỉ định làm Chủ tịch nước (Tổng thống) như ông Triết. Một dân biểu Hoa Kỳ đã nói rằng: “Vì ông Triết không được bầu qua một cuộc tranh cử tự do, ông không nên được gọi là ông Chủ tịch... Đúng hơn ông có thể được so sánh với một bố gìa ... của một chế độ đẫm máu và đàn áp.”

Trong bài của mình, ông Triết viết, “Quan hệ song phương được xây dựng trên những quan tâm và ích lợi chung của hai nước: mậu dịch, văn hóa, khoa học và kỹ thuật, giáo dục, hoà bình và ổn định trong vùng, cuộc chiến chống khủng bố.” Tuy nhiên, sự khủng bố của chế độ Cộng Sản Việt Nam đối với ngay người dân của chính họ chẳng nằm trong “ích lợi chung” của Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ tí nào, và chế độ cộng sản này cũng không hết sức để ngăn chận tệ nạn buôn bán phụ nữ và trẻ con đi bán dâm.

Ở buổi gặp gỡ tại Tòa Bạch Cung hôm 22 tháng 6, Tổng thống Bush nói với ông Triết, “Để cho những mối quan hệ phát triển sâu đậm hơn, điều quan trọng là Việt Nam cần có cam kết tôn trọng nhân quyền, tự do và dân chủ. ” Ông Triết mắng lại ông Bush sau đó trong một cuộc phỏng vấn của hãng truyền thông AP khi ông nói rằng đất nước của ông không cần phải cải thiện hồ sơ nhân quyền. “Vấn đề không ở chỗ là cải thiện hay không cải thiện... Việt Nam có khung pháp lý riêng, và những người nào vi phạm luật đều bị xử.” Những người được xem là phạm luật Việt Nam theo ông Triết, là lãnh đạo tôn giáo và tín đồ của nhiều tôn giáo, những người hoạt động kêu gọi dân chủ và nhân quyền, luật sư bảo vệ người lao động, và người thiểu số.

Thay vì đi theo những nguyên tắc dân chủ của trường phái Jefferson, ông Triết bám vào cái nguyên tắc căn bản “Dối trá trắng trợn” của Joseph Goebbels (3), rằng người ta sẽ tin một lời dối trá trắng trợn to lớn mau hơn lời dối gian nhỏ bé; và nếu nó được lập đi lập lại hoài thì sớm muộn gì người ta cũng tin.

Người sáng tạo ra chế độ (cộng sản) Việt Nam không là Thượng đế như Jefferson viết, nhưng đó là Hồ Chí Minh. Còn khuya mới trở nên một người yêu chuộng và đấu tranh cho những gía trị dân chủ, nhân quyền như ông Jefferson, vì ông Triết và cái tập đoàn đàn áp người dân của ông ta không làm những gì họ rao giảng trong bản Tuyên ngôn Độc lập của họ.

Thay vì “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng”, chế độ của ông Triết gần gũi hơn với những câu chuyện ngụ ngôn trào phúng về chủ nghĩa Cộng Sản như được miêu tả trong tác phẩm “Trại Gia Súc” của George Orwell (4), nơi mà một số thành viên bình đẳng hơn những đồng loại khác.

Nguồn: 'Big Lie' lives in Vietnam, Mike Benge, Washington Times Forum, July 1, 2007.

DCVOnline: Mike Benge hiện là cố vấn của Tổ chức Nhân Quyền Người Miền Núi (Montagnard Human Rights Organization). Tác giả là tù nhân dân sự (nhân viên của USAID làm việc ở Ban Mê Thuột) bị cộng sản Việt Nam bắt giam từ 28/01/1968 đến 05/03/1973.

(*): Tác giả không nêu rõ nguồn tham khảo về “việc thảm sát hơn 1 triệu người Việt Nam” và “Những sự giết hại vô pháp luật vẫn tiếp tục xảy ra”.


--------------------------------------------

(1) Tác gỉa đặt chữ “President” trong ngoặc kép, ý muốn chơi chữ vì cả Bush lẫn Triết đều được gọi là President hay vì Triết là “President” của Đảng cộng sản VN bầu chứ không là President được dân bầu?
(2) Washington Times và Washington Post là hai tờ báo có trụ sở nằm ở Washington DC. Washington Times là một phần của công ty News World Communications, Inc. Trong lúc báo Washington Post là một phần của công ty Washington Post Company.
(3) Bác sĩ Paul Joseph Goebbels, người cầm đầu bộ máy tuyên truyền của Đức Quốc Xã dưới thời Hitler.
(4) George Orwell, nhà văn Anh, sinh ở Ấn Độ năm 1903 và qua đời ở Anh năm 1950. “Trại Gia Súc” là một trong những tác phẩm ngụ ngôn của ông. Truyện nói về một bầy gia súc ở một nông trại miền quê nổi dậy làm cuộc cách mạng kiểu Bolshevik, lật đổ ông chủ trại và đuổi ông ra khỏi nông trại. Bầy gia súc này bắt đầu xây dựng xã hội của mình dựa trên lý tưởng Cộng Sản, mà bước đầu tiên là mọi con vật trong trại đều được bình đẳng... Truyện ví von xã hội Cộng Sản ở Nga dưới sự cai trị độc tài của Stalin chẳng khác chi một ... trại gia súc và cái gọi là thế giới đại đồng Cộng Sản chỉ là một sản phẩm của ảo tưởng, duy ý chí. Và cũng chính trong thế giới đại đồng đó, vẫn có những tham vọng cá nhân đòi làm lãnh tụ, rồi cũng đưa đến nạn bè phái, thanh trừng lẫn nhau dành quyền lực... Truyện này đã được dựng thành phim năm 1954 và 1999 (phim hoạt họa). Theo tạp chí TIME, “Trại Gia Súc” là một trong 100 tác phẩm hay nhất của thế giới kể từ 1923 đến nay.

Dân chủ và tập trung dân chủ

Nguyễn Văn Trần

Phân tích sơ lược về chế độ Dân chủ - Chế độ ở Hà nội ngày nay

Việt Nam từ khi chưa mất độc lập, sau khi độc lập mất, từ sau khi bị chia đôi năm 1954, và sau khi miền Nam mất năm 1975, chưa bao giờ có được một chế độ dân chủ thực sự. Nói thế không có nghĩa là người dân Việt Nam trong quá khứ dài đã không có những cơ hội hưởng được những phúc lợi về vật chất và tinh thần mà ngày nay người ta gọi đó là những quyền của con người hay nhân quyền và quyền công dân.

Từ xưa ở Việt Nam, tinh thần dân chủ hay nếp sống dân chủ thể hiện qua đời sống thực tế xã hội, mà chưa được thể chế hoá như những giá trị hiến định ngày nay. Tinh thần dân chủ hay nếp sống dân chủ ấy, theo cái nhìn ngày nay, đó là một thứ quyền tiêu cực. Nhà vua nhận lãnh mệnh trời để cai trị nên có bổn phận phải tuân mệnh trời mà chăm lo cho phúc lợi của thần dân. Vì làm sai sợ bị trời đánh, do đó mà trong lịch sử quân chủ Việt Nam không có những bạo chúa cực kỳ hun ác như ở Tàu và ở Âu Châu. Còn đảng cộng sản vì không nhận lãnh mệnh của ai hết, nên ngang nhiên gây ra tội ác với dân chúng mà không phải sợ bị trừng phạt. Tinh thần dân chủ việt nam lấy dân làm cái gốc của nước. Gốc có vững thì nước mới yên. Nên dân bản trở thành mực thước giới hạn thiên mệnh.

Ai cũng biết những người chối bỏ chế độ cộng sản ngày nay, họ tranh đấu là để mong thay thế chế độ cộng sản hiện tại bằng một chế độ dân chủ tự do. Bởi dân chủ ở trường hợp Việt Nam ngày mai này không chỉ nhằm chấm dứt chế độ độc tài toàn trị, mà còn có khả năng động viên toàn dân xây dựng lại đất nước, phát triển đất nước, tạo cho Việt Nam có bản lãnh hội nhập vào thế giới và ngăn chặn mọi hiểm họa thường xuyên xâm lấn đất nước từ phương Bắc

I. Dân chủ và dân chủ nào?

Sau 19 năm đổi mới, Việt Nam thu hoạch được một số thành tựu đáng khuyến khích nhưng vẫn chưa đủ để giải quyết những mặt tiêu cực do chưa có mở cửa về chánh trị.

Một số những người tranh đấu dân chủ và cả một số những nhà quan sát Tây phương, và nhất là Huê Kỳ, lấy làm lạc quan cho rằng những thành tựu thủ đắc được do mở cửa kinh tế dần dần sẽ đẩy lùi chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam vào quá khứ. Họ tin tưởng rằng một thành phần trung lưu mới vừa thành hình ở xã hội Việt Nam từ chính sách đổi mới sẽ tác hại không tránh khỏi đến sự tồn vong của chế độ. Theo cách suy luận này thì "Cái xe, cái nhà, đô-la đầy túi, lập tức sau đó là dân chủ!" Nhưng đừng quên rằng thành phần trung lưu mới này không phải được thành hình "bên ngoài đảng, chống lại đảng" mà "xuất hiện cùng với đảng", ở ngay trong đảng, có vai trò lịch sử mới là bảo vệ đảng, phát triển đảng theo đường lối lãnh đạo mới.

Nói theo ngôn ngữ xã hội chủ nghĩa, họ sẽ là chủ thể mới của lịch sử. Vả lại, theo nhà kinh tế Amertyr Sen (giải Nobel kinh tế) dân chủ không phải là một xa xỉ phẩm, đợi có tiền mới được hưởng, mà dân chủ là yếu tố cần thiết để làm cho đất nước phát triển. Hơn nữa, trên thực tế đối với những nỗ lực tranh đấu dân chủ hoá Việt Nam thì hiện tượng xã hội mới này là trở ngại lớn, sức cản lớn có khả năng phá vở mọi cố gắng cho dân chủ từ nhiều phía hiện nay.

Dân Chủ:

Như đã nói trên đây, Việt Nam chưa có một định chế dân chủ đúng nghĩa theo hiểu biết ngày nay, tuy từ thời quân chủ đã có tinh thần dân chủ qua nếp sống văn hóa dân tộc. Do đó, ngày mai này, khi muốn làm dân chủ, tưởng chúng ta nên tìm về những kinh nghiệm lịch sử của các nền dân chủ Tây phương và Huê Kỳ, để giúp chúng ta hiểu rõ hơn những vấn đề sẽ đặt ra cho xứ sở chúng ta và giúp chúng ta chủ động hơn trong việc giải quyết vấn đề, vì các nền dân chủ ấy giúp chúng ta thấu hiểu được ba ý niệm cơ bản để xây dựng Việt Nam ngày mai này. Đó là những quyền bất khả nhượng, chủ quyền và dân chủ.

Những quyền bất khả nhượng là những quyền tự nhiên của con người mà mọi Nhà Nước không thể tước đoạt của chúng ta và cũng không thể ban phát cho chúng ta, bởi những quyền ấy là sở hữu của chúng ta (1): "Quyền an ninh thân thể, quyền tự do tinh thần và quyền chống lại áp bức của Nhà Nước".

Các dân tộc Anh, Mỹ, Pháp đã nhân danh những quyền này để làm những cuộc cách mạng của họ.

Chủ quyền quốc gia thuộc toàn dân, nghĩa là người dân tự mình cai trị chính mình.

Dân chủ là sự cai trị bởi dân và vì dân. Dân chủ không phải được định nghĩa bởi nguồn gốc quyền lực, mà do dân chúng bị cai trị có kiểm soát được thường xuyên và hữu hiệu người cầm quyền cai trị mình hay không.

Dân chủ như vậy không gì khác hơn là những định chế do người dân thiết lập ra để thực hiện an ninh trong xã hội và bảo vệ những quyền tự do căn bản của họ. Trong một chế độ dân chủ, Nhà Nước chỉ là một tập hợp những định chế do con người sáng tạo. Do đó, Nhà Nước dân chủ còn được gọi là Nhà Nước-Định chế. Quyền lực cho phép Nhà Nước hành sử chức năng của mình mà không cho phép Nhà Nước có quyền đứng trên xã hội. Bởi trong thể chế dân chủ, chỉ có luật pháp biểu thị chủ quyền quốc gia.

Ở Việt Nam, dưới thời quân chủ, những quyền tự nhiên của con người vẫn được nhà vua tôn trọng và thực thi. Người dân bình thường có quyền tham chánh qua những cuộc thi tuyển chọn nhân tài. Việc học và thi cử hoàn toàn tự do và thường miển phí, dành cho mọi người và còn được khuyến khích. Ở trong làng xã thường có người biết chữ mở trường dạy học. Người học giỏi được xã hội kính trọng. Cho đến đời Minh Mạng, nhà vua vẫn quan tâm lắng nghe ý kiến của dân chúng về việc nước.

Khi xây dựng cho Việt Nam một nền dân chủ thực hữu, về mặt tổ chức lại lãnh thổ, tưởng Việt Nam nên chọn cho mình một thể chế liên bang để thống nhất đất nước trong sự tôn trọng những đặc thù địa phương do lịch sử để lại trên một lãnh thổ có chiều dài hơn 2000 km. Thống nhất trong thể chế liên bang là để điều hoà phát triển.

Thể chế dân chủ và liên bang thực hiện được cho Việt Nam ngày mai này, chắc chắn sẽ đáp ứng được những mong đợi của toàn dân, bởi những giá trị chánh trị ấy hoàn toàn phù hợp với lịch sử và văn hoá dân tộc. Đầu thế kỷ 19, vua Gia Long tổ chức lãnh thổ làm thành nhiều vùng nhằm đáp ứng những đặc tính tâm lý và địa phương khác nhau. Miền Trung gồm 4 doanh, 7 trấn; miền Bắc có 5 nội trấn, 6 ngoại trấn; miền Nam chia làm 5 trấn. Xã thôn Việt Nam trước kia vẫn theo chế độ tự trị. Tất cả những giá trị truyền thống ấy đã không được giữ gìn và phát huy mà còn bị người cộng sản phá huỷ để thay thế bằng thể chế Xã Hội Chủ Nghĩa cực kỳ phi lý và phi dân tộc.


II. Dân chủ và tập trung dân chủ (2)

Khi nói đến dân chủ, tưởng nên phác họa cơ sở để qua đó người ta có thể có được ý niệm về nền dân chủ ấy. Những hình dung từ thêm vào cho từ "dân chủ" thường không đủ làm toát lên nội dung hay thực chất đích thực của nền dân chủ mà ta muốn đề cập đến.

Tuy nhiên, khi nói dân chủ pháp trị, nhờ từ "pháp trị" giúp ta ý niệm được rằng nền dân chủ ấy được thiết lập và điều hành bằng luật pháp. Pháp trị có nghĩa là luật pháp mới là chủ quyền của toàn dân. Nhà Nước dân chủ không thể đứng trên luật pháp.

Trong những người tranh đấu dân chủ, có một số người thường nói dân chủ đa nguyên (để phân biệt, phản bác lại dân chủ xã hội chủ nghĩa, dân chủ nhân dân, v.v...) Cụm từ dân chủ đa nguyên rất gợi hình nên làm cho mọi người tưởng tượng ngay rằng trong nền dân chủ ấy nhiều sự khác biệt đều được tôn trọng. Mà dân chủ nào lại không tôn trọng đặc tính đa nguyên? Nhưng về mặt thể chế, thì đa nguyên lại không giúp hội ý được về cơ sở của nền dân chủ ấy. Như vậy phải chăng những "người dân chủ đa nguyên" muốn đem dân chủ đa nguyên để đối lập, để đối kháng với dân chủ xã hội chủ nghĩa mà thường bị hiểu sai lạc là dân chủ tập trung?

Theo người cộng sản thì về thể chế chánh trị, đại loại, chỉ có hai nền dân chủ hoàn chỉnh và phổ biến hơn hết. Đó là dân chủ tư bản và dân chủ xã hội chủ nghĩa.

Hai nền dân chủ này được định hình trên hai hình thái kinh tế khác nhau, là kinh tế tư sản và kinh tế tập trung. Như vậy, với người cộng sản, không có dân chủ tập trung mà chỉ có dân chủ xã hội chủ nghĩa và tập trung dân chủ.

Ở Việt Nam, từ sau khi tiếp nhận chiếu thoái vị của hoàng đế Bảo Đại, từ sau chiến thắng Điện Biên Phủ và từ sau khi chiếm được Miền Nam, thống nhất Việt Nam, nhà cầm quyền Hà Nội thiết lập và xây dựng một thể chế dân chủ duy nhất gọi là dân chủ xã hội chủ nghĩa.

Cụm từ "dân chủ xã hội chủ nghĩa" rất rõ nghĩa, bởi nó toát lên được ý nghĩa đó là một nền dân chủ mang "bản chất giai cấp công nhân, do đảng cộng sản lãnh đạo để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân lao động trên cơ sở chủ nghĩa xã hội".

Do đó, vẫn theo người cộng sản, dân chủ xã hội chủ nghĩa, một mặt thể hiện bản chất của chủ nghĩa xã hội, mặt khác là một trong những động lực quan trọng hướng dẫn "toàn xã hội tiến lên xây dựng thành công" chủ nghĩa xã hội sau khi cướp được chánh quyền.

Khi nói đến dân chủ xã hội chủ nghĩa thì, về phương diện hoạt động và thể chế, dân chủ phải có quan hệ hữu cơ, gắn liền với tập trung, để "chế độ dân chủ kết hợp chặt chẽ với chế độ tập trung". Từ mối liên hệ này, tập trung dân chủ trở thành một nguyên tắc, một đòi hỏi tất yếu trong thể chế của chủ nghĩa xã hội. Đây là "nguyên tắc cốt tử" của đảng cộng sản trong lãnh đạo chính trị đối với xã hội và lãnh đạo Nhà Nước. Nguyên tắc tập trung dân chủ cho phép người cộng sản đảm bảo cho đảng cộng sản có sức mạnh thống nhất về tư tưởng, chánh trị và tổ chức để biểu hiện và khẳng định đó là đảng cầm quyền, tập trung vào tay đảng trọn vẹn quyền lực quốc gia để thực hiện một chế độ cai trị đất nước toàn diện và triệt để. Tập trung dân chủ không chỉ là nguyên tắc của đảng cộng sản, là chỉ đạo hoạt động lãnh đạo và các quan hệ tổ chức của đảng, mà nó còn là nguyên tắc cần thiết, không thể thiếu trong hoạt động quản lý Nhà Nước. Đó cũng là nguyên tắc tổ chức và hoạt động của các đoàn thể chánh trị trong hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa.

Như vậy, ta phải hiểu cho đúng (theo cộng sản) thì dân chủ xã hội chủ nghĩa phải dẫn tới nguyên tắc tập trung dân chủ. Nó vừa là nguyên tắc chánh trị của đảng cộng sản, vừa là nguyên tắc và cơ chế quản lý của Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa. Nói rõ hơn, tập trung (dân chủ) là phương thức, là điều kiện, còn dân chủ là cơ sở, là mục đích. Thông qua tập trung mà dân chủ xã hội chủ nghĩa được giữ vững, được thực hiện và trở thành mục đích của chế độ. Không gắn với tập trung thì dân chủ xã hội chủ nghĩa không có sức mạnh thực tế trong hành động. Tập trung dân chủ chỉ là thẩm quyền quyết định của cá nhân người chỉ huy và của cơ quan lãnh đạo chính trị, theo trật tự chặt chẽ có sự tuân hành từ dưới lên trên.

Trong chế độ xã hội chủ nghĩa, tập trung dân chủ là một loại cơ chế thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa, bởi đó là nguyên tắc lãnh đạo của đảng cộng sản. Tập trung dân chủ do đó trở thành một hệ thống tập trung quyền lực và phương pháp thi hành quyền lực lên xã hội. Tập trung dân chủ, ở đây, hoàn toàn không phải là một thể chế chánh trị, mà đó không gì khác hơn là một phương pháp thực thi chế độ độc tài toàn trị.

Một đảng cầm quyền độc tài toàn trị như đảng cộng sản Hà Nội ngày nay, nếu không thực hiện được tập trung dân chủ, thì dĩ nhiên không còn là một đảng hành động, mà lập tức sẽ biến thành một thứ tập hợp đầy mâu thuẫn, xung đột. Và từ đó, Nhà Nước sẽ không còn thực quyền quản lý xã hội nữa. Vì thế chúng ta không ngạc nhiên khi Hà Nội thẳng tay đàn áp và trù dập tất cả những người có chánh kiến khác với đảng. Dân chủ vì thế mà trở thành một mối hiểm họa sanh tử của chế độ Hà Nội.

III. Tập Trung Dân chủ hay Độc Tài toàn trị

Nói cho rõ và dứt khoát thì chế độ chánh trị ở Việt Nam hiện nay hoàn toàn là một chế độ độc tài toàn trị. Khi nói đó là một chế độ độc tài toàn trị thì người ta thường hình dung đến chế độ Hitler ở Đức hoặc Stalin ở Liên-Xô trước kia. Theo bà Hannah Arendt (Triết gia Mỹ gốc Đức chuyên nghiên cứu về nền tảng các chế độ độc tài toàn trị) thì chế độ "độc tài toàn trị" là một hệ thống hoàn toàn đặc biệt được khai triển trên sự biến thể những giai cấp xã hội trở thành những tập thể, biến cảnh sát trở thành trung tâm quyền lực và thiết lập một chánh sách đối ngoại nhằm công khai thống trị thế giới. Trong quá trình thực hiện, chế độ độc tài toàn trị nhằm triệt tiêu xã hội cũng như cá nhân. (3)

Nhưng chế độ Hà Nội hiện nay, cũng được gọi là chế độ độc tài toàn trị, lại không hoàn toàn giống chế độ Hitler hay chế độ Stalin bởi trong hai chế độ nầy, người ta thấy rõ Hitler và Stalin là hai người thật sự nắm quyền lực cai trị nước Đức và Liên Xô.

Ở Việt Nam, ai, cơ quan nào là đối tượng của những người đấu tranh đòi dân chủ? Nếu muốn lật đổ chế độ, hay muốn đối thoại thì nhắm vào ai? Trong vừa qua, để lật đổ chế độ độc tài ở Irak, Huê Kỳ và liên minh chỉ nhằm tấn công vào Saddam Hussein. Trong trường hợp Việt Nam ngày nay, chắc chắn người cộng sản cũng khó mà biết được ai, bộ phận nào trong đảng, gồm những ai, nắm quyền lực thật sự và nắm được đến mức độ nào?

Năm 1953, Hồ Chí Minh học bài học Trung Quốc (4) cho tiến hành cuộc thanh lọc nội bộ đảng đẩm máu bằng cải cách ruộng đất, rồi chỉnh đảng. Lúc bấy giờ, đảng Lao động (đảng Cộng sản đổi tên) gồm có lối 740.000 đảng viên. Số đảng viên bị khai trừ, cách chức, thủ tiêu, giết hại lên đến 40% vì bị qui vào thành phần phản động do địch cài lại. Riêng nông dân, trong cải cách ruộng đất, bị Hồ Chí Minh giết hại đến 500.000 người. Trong đó có không biết bao nhiêu người chịu oan ức, người yêu nước đã từng cống hiến tài sản, sanh mạng bản thân cho kháng chiến chống thực dân Pháp, ... Sửa sai và chỉnh huấn xong, vào cuối thập niên 50, một bộ máy quyền lực mới thật sự thành hình tập trung sức mạnh vào Ban tổ chức trung ương Đảng, đưa Lê Duẩn và Lê Đức Thọ chia nhau vai trò chi phối quyền lực Nhà Nước và đẩy ra bên lề vai trò lãnh tụ lịch sử của những người như Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, ...

Lê Duẩn cả quyết đưa chiến tranh vào Nam và đã thôn tính được Miền Nam năm 1975. Năm 1973, Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam ban hành nghị quyết 26 phủ nhận giá trị pháp lý của Hiệp Định Paris, xác định rõ mục tiêu vẫn trước sau như một là tiến chiếm miền Nam và thiết lập chế độ xã hội chủ nghĩa trên cả nước. Chiến tranh dai dẳng chấm dứt đã tạo điều kiện thuận lợi cho Lê Duẩn và Lê Đức Thọ xây dựng chế độ độc tài toàn trị theo kiểu hoàn toàn Hà Nội. Chế độ độc tài toàn trị nầy bắt đầu tiến hành phương thức thực hiện tập trung dân chủ, tức tập trung quyền lực, bằng cách tuần tự triệt tiêu tất cả các lãnh tụ đảng từ thời lập đảng, các đảng viên gia nhập đảng vì nhiệt tình yêu nước dấn thân tranh đấu giành độc lập dân tộc, đến vô hiệu hóa Nhà Nước, các tổ chức quần chúng như Mặt trận Tổ quốc, Hội Phụ nữ Giải phóng, các Giáo hội, các Công đoàn, ... sử dụng các tổ chức này làm bình phong, trang trí cho đảng, vô hiệu hóa đảng, dùng bản thân đảng để bảo vệ và nâng cao uy quyền Ban Chấp hành trung ương, vô hiệu hóa Ban Chấp hành trung ương để bảo vệ Bộ Chánh trị, cuối cùng cũng vô hiệu hóa Bộ Chánh trị để chỉ còn lại Tổng bí thư và Ban thường vụ đảng.

Mặt khác, chế độ "độc tài toàn trị" dùng công an kiểm soát mọi người, mọi tổ chức, từ tổ chức quần chúng làm kiểng đến nội bộ đảng ở các cấp. Đồng thời, chính công an cũng được tổ chức phân tán thành nhiều bộ phận hoàn toàn ngăn cách và đan xen với nhau khiến người chỉ huy công an cũng khó mà nắm được toàn bộ guồng máy này. Cho nên trong chế độ toàn trị kiểu Hà Nội, bất cứ ai, từ người dân, lẽ dĩ nhiên, đến bản thân đảng viên công an, ... ở mọi cấp bực đều có thể, bất cứ lúc nào, bị loại trừ, bị thanh trừng, mà không làm sao biết được lý do và do ai quyết định. (5)

Để thấy rõ thứ quyền lực vô hình này, tưởng không gì bằng nhìn vào trường hợp tướng Võ Nguyên Giáp từ nhiều năm qua và đọc bức thư của ông gởi Bộ Chánh Trị đề ngày 03/01/2004 tại Hà Nội.

Tướng Giáp tố cáo Lê Đức Anh, lúc làm Bộ Trưởng Quốc Phòng, đã cho lập Tổng Cục II An Ninh, trực thuộc Bộ Quốc Phòng, để củng cố quyền lực của mình và trù dập, đàn áp các phe cánh khác, trong đó tướng Giáp là mục tiêu chánh.

Theo tướng Giáp, Lê Đức Anh đã ngụy tạo hồ sơ "tình hình hoạt động bè phái trong đảng" (số 541 - Báo cáo của Bộ Chánh Trị tại Hội nghị TW-12 BCH khóa VI) để hãm hại tướng Giáp và một số đảng viên kỳ cựu, có thành tích chiến đấu cao mà không cùng phe cánh với Lê Đức Anh và Đỗ Mười đi theo Bắc Kinh. (6)

Bộ Chánh Trị là cơ quan quyền lực cao nhất vẫn bị Tổng Cục II cho đặt máy nghe lén suốt hơn mười năm. Thế mà từ đại hội VII đến đại hội X, vụ này vi phạm kỷ luật đảng và luật pháp Nhà Nước xã hội chủ nghĩa vẫn chưa được xử lý đúng mức. Trong lúc đó, ở một nước dân chủ bình thường, không xã hội chủ nghĩa, như nước Huê Kỳ, Tổng thống (T.T.) Nixon cho đặt máy nghe lén đối phương (đảng Dân Chủ) bị mất chức khi nội vụ đổ bể. T.T. Clinton dan díu với gái, bị thưa ra tòa, đã phải hầu tòa và thi hành phán quyết của tòa án. Tổng Thống pháp, ông Jacques Cirac, chỉ thời gian ngắn rời ghế tổng thống, đã phải trình diện trước Tòa án để trả lời về hồ sơ tiền bạc của Đản RPR của ông khi ông làm Thị Trưởng Paris . Ở Hà Nội, đảng viên các cấp tham nhũng, cướp giựt nhân dân giữa ban ngày chỉ bị xử lý nội bộ. Tức vô tội vạ để còn tiếp tục cướp giựt nữa . Đây là sự khác biệt rõ ràng giữa hai nền dân chủ, xã hội chủ nghĩa và không xã hội chủ nghĩa! Và chỉ trong một chế độ dân chủ không xã hội chủ nghĩa, mọi người mới được luật pháp bảo vệ về an toàn bản thân và tài sản. Người cộng sản không thấy được điều này phải chăng vì họ thiếu văn hóa chánh trị?

Chúng tôi nghĩ không phải họ thiếu vắng văn hóa chánh trị, mà đó là thiên chức của đảng cộng sản. Lý thuyết chỉ đạo cộng sản, theo Lenin, là “đảng ta dùng nói dối và bạo lực cướp chánh quyền và bằng mọi giá phải giữ chánh quyền cho đảng”. Khi nắm trọn chánh quyền, đảng ta lấy nhân dân làm đối tượng, cướp tất cả cái gì thuộc về sở hữu của nhân dân .

Đến tuổi già, bắt đầu lo sợ sẽ đến phiên mình, lần lượt sẽ là nạn nhân của thứ "bóng đêm" này, một số cựu công thần của chế độ Hà Nội như Mai Chí Thọ, Trần Bạch Đằng, Phan Minh Tánh,Võ văn Kiệt, ... đã lên tiếng cảnh cáo, không sớm thay đổi, đảng sẽ mất quyền lãnh đạo. Mà thật thế, ngày nay do phải mở cửa ra bên ngoài, nhiều đảng viên đã nhận thức được những giá trị phổ quát về dân chủ, nhơn quyền là cần thiết để tổ chức xã hội, xây dựng đất nước phát triển, nên họ đã bắt đầu tranh đấu chống sự độc tài đảng trị ...

Song song với việc chỉnh đốn đảng theo cung cách đặc biệt “Hà Nội” này, lẽ dĩ nhiên, đảng Cộng sản Việt Nam phải kết nạp thêm đảng viên mới để thay thế những người đã lần lượt "ra đi". Và, cứ mỗi lần có một đợt kết nạp thì dân chúng tỏ vẻ vui mừng, bảo nhau "Thế là xã hội lại được sạch sẽ thêm một chút!".

Ở Việt Nam ngày nay, người ta khó mà biết ai thật sự nắm quyền ở Hà Nội. Và nắm quyền đến mức độ nào? Ai nắm công an? Ai nắm quân đội?

Nhà cầm quyền Hà Nội thường cho rằng chế độ của họ là chế độ "do dân vì dân" tức là chế độ dân chủ. Mà chế độ dân chủ thì quyền lực chánh trị là một hệ thống công khai hình thành do xã hội sáng tạo và thực hiện theo một qui trình được xã hội chấp thuận, ở nhiều mức độ khác nhau, bằng nhiều phương thức khác nhau. Đặc tánh của chánh quyền dân chủ là tính công khai và sự tín nhiệm của xã hội có giới hạn đuợc qui định thành văn .

Trái lại, ở Việt Nam, quyền lực tồn tại không cần những yếu tố tất yếu ấy, bởi nó được cấu kết trong bóng tối với những kẻ vô danh chuyên sử dụng bạo lực khủng bố, trù dập, thủ tiêu đồng chí, đồng đảng và mọi người khác ý kiến hoặc chống đối. Lập chánh phủ, bầu quốc hội, đại hội đảng, tất cả chỉ là những thứ hiện tượng do thứ quyền lực bóng tối ấy dựng lên để ẩn núp sau đó mà tồn tại và hoạt động. Ai cũng sợ hãi nó. Nhưng nó cũng nơm nớp một nỗi sợ hãi lớn: sợ hãi sự công khai, tức sợ hãi ánh sáng! Tuy nó nắm trong tay sự toàn trị xã hội mà vẫn sợ phải công khai xuất hiện. Như tòa án do nó giàn dựng lên mà vẫn thường né tránh những phiên xử công khai dưới ánh sáng công lý, thường chọn cách xử kín và kết thúc phiên xử nhanh chóng như tháo chạy.

Năm 1986, để tránh cho chế độ khỏi bị sụp đổ do sự khủng hoảng trầm trọng kéo dài từ cuối thập niên 70, Hà Nội đưa ra chánh sách "đổi mới ". Nhưng Hà Nội vẫn không thể "đổi mới" thật sự được vì nếu phải công khai hóa quyền lực, công bố tài chánh của đảng (thường bằng 1,5 đến 2 lần ngân sách chánh phủ), tài sản của đảng viên, nói thẳng, nói thật với mọi người và để mọi người phê phán về mình thì chẳng khác nào đảng tự treo cổ! Chế độ Hà Nội phải tồn tại cho đến hết quá trình xã hội chủ nghĩa của nó! Đó là thời điểm trước mắt! Để tồn tại, nó phải dựa trên thế đan xen của ba lực lượng: đảng, công an và quân đội. Nhưng phải hiểu "nó tồn tại" đó không phải là bản thân đảng, bản thân công an hay quân đội. Mà "nó" chỉ là hiện tượng quyền lực ẩn sâu trong đảng, trong công an, trong quân đội, trong Nhà Nước, như Đỗ Mười và Lê Đức Anh với đám đàn em cài sâu trong Bộ máy hiện nay, và tài sản quốc gia do đảng làm chủ và sử dụng.

Những người tranh đấu cho dân chủ ngày nay, kể cả những người cộng sản phải thấy đối tượng của mình không ở ngoài Việt Nam, không ở trong dân chúng, không ở trong những quân nhân, không ở trong những nhân sự công an, mà nó ở sâu trong các tổ chức này để giựt giây, điều khiển những tổ chức này theo chiều hướng quyền lợi riêng của nó.

Để làm cho chế độ "độc tài toàn trị" theo kiểu Hà Nội ngày nay sớm sụp đổ, tưởng không có cách nào tốt hơn, hữu hiệu hơn là lôi "NÓ" ra trước ánh sáng. Ánh sáng của thị trường, của thông tin, ngôn luận.

Không thể nói "dân chủ xã hội chủ nghĩa" là dân chủ được bởi, như ta thấy, chế độ xã hội chủ nghĩa thật sự chỉ là "chế độ độc tài toàn trị". Nó còn biến dạng dưới những hình thức khác như "dân chủ nhân dân", ... Còn "dân chủ đa nguyên" tuy không thuộc các hình thức dân chủ kia, nhưng nó không nói lên được nội dung dân chủ một cách hoàn chỉnh, có cơ sở. Nó chỉ đọng lại ở tầng gợi hình mà thôi.

Khi nói một chế độ dân chủ thì phải thấy trong đó người dân phải thật sự tự mình cai trị chính mình.

Vậy chỉ có dân chủ hoặc không có dân chủ mà thôi. Mà dân chủ thì chế độ sẽ tồn tại bền vững. Độc tài cộng sản thì chắc chắn sẽ theo con đường Liên Xô và Đông âu ở những năm 89 và 90. Đó là tất yếu lịch sử!


Ghi chú:
(1) Fitche, "Considérations sur la Révolution française", 1793, Paris.
(2) Nguyễn Tiến Phồn, "Dân chủ và tập trung dân chủ", Khoa Học Xã Hội xuất bản - Hà Nội, 2001.
(3) Hannah Arendt, "Nguồn gốc chế độ độc tài toàn trị" (Les origines du totalitarisme) Paris, 1972.
(4) Trần Lực, "Những bài học về kinh nghiệm Trung Quốc", Hà Nội, 1952.
Pierre BROCHENX, Hồ Chí Minh, du revolutionnaire à l`icône Paris 2003
(5) Xem Diễn Đàn, số 18, tháng 4/ 1998, Paris.
(6) Về vụ tướng Giáp, xem bức thư của Giáp gởi Bộ Chánh Trị và bản báo cáo của BCT tại Hội nghị TW-12 BCH khóa VI.

Quốc hội Châu Âu ra Quyết Nghị định giá lại chính sách hợp tác với Việt Nam và tố cáo Việt Nam đàn áp nhân quyền và tôn giáo

********************************************************************************
Quê Mẹ : Hành động cho Dân chủ Việt Nam
& Ủy ban Bảo vệ Quyền làm Người Việt Nam
Que Me : Action for Democracy in Vietnam & Vietnam Committee on Human Rights
Que Me : Action pour la Démocratie au Vietnam & Comité Vietnam pour la Défense des Droits de l’Homme
B.P. 63 - 94472 Boissy Saint Léger cedex (France) - Tel.: (Paris) (331) 45 98 30 85
Fax : Paris (331) 45 98 32 61 - E-mail : queme@free.fr - Web : http://www.queme.net
********************************************************************************


THÔNG CÁO BÁO CHÍ LÀM TẠI STRASBOURG NGÀY 12.7.2007
Quốc hội Châu Âu ra Quyết Nghị định giá lại chính sách hợp tác với Việt Nam và tố cáo Việt Nam đàn áp nhân quyền và tôn giáo


STRASBOURG, ngày 12.7.2007 (Quê Mẹ) - Hôm nay, thứ năm 12.7.2007, khóa họp toàn thể Quốc hội Châu Âu tại Strasbourg, miền Đông Bắc Pháp, đã đồng thanh thông qua "Quyết nghị về vấn đề Việt Nam". Kể từ ngày khai mạc hôm 9.7 các chính đảng Quốc hội đã họp riêng bàn thảo về tình hình đàn áp nhân quyền và tôn giáo trầm trọng tại Việt Nam để lấy thái độ. Sau ba lần họp kín xem xét nội dung 6 dự án Quyết Nghị do 6 chính đảng đệ nạp (Đảng Bình dân Âu châu và Dân chủ Âu châu (PPE-DE) ; Đảng Xã hội Âu châu (PSE) ; Đảng Tự do, Dân chủ và Cải cách Âu châu (ALDE) ; Liên đoàn Tả phái Thống nhất (GUE/NGL, trong số có Đảng Cộng sản) ; Đảng Xanh và Liên minh Tự do Âu châu (Green/ALE) và Đảng Liên hiệp Âu châu các Quốc gia (UEN), nhằm đưa tới một bản Quyết nghị tổng hợp đệ trình khóa khoáng đại xin thông qua theo thể lệ khẩn cấp.

Vào đúng 16 giờ 20 chiều ngày 12.7 bản Quyết nghị đã được toàn thể Quốc hội thông qua sau khi nghe một số Dân biểu Tây và Đông Âu đại diện các chính đảng trình bày về tình trạng đàn áp nhân quyền và tôn giáo tại Việt Nam. Nổi cộm trong các cuộc trình bày là những vụ xử án bất công cuối tháng 3 sang tháng 5.2007, cuộc đàn áp 20 Ban Đại diện Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, điều luật "an ninh quốc gia" trong Bộ luật Hình sự Việt Nam trái chống với các Công ước quốc tế, Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính mang số 44 ban hành năm 2002 cho phép đưa các nhà bất đồng chính kiến vào bệnh viện tâm thần như kiểu Xô viết ngày xưa, v.v...

Quyết nghị trên đây là thành quả sau một tháng vận động của Tổ chức Quê Mẹ : Hành động cho Dân chủ Việt Nam và Ủy ban Bảo vệ Quyền làm Người Việt Nam nhằm thông tin và báo động các chính đảng, các vị Dân biểu Quốc hội Châu Âu cũng như các cơ cấu cao cấp của Liên Hiệp Châu Âu như Hội đồng Châu Âu, Ủy hội Châu Âu, Phân ban Nhân quyền Châu Âu, v.v... Đặc biệt trong thời gian vận động này, ông Võ Văn Ái được Cơ cấu Dân chủ thuộc Quốc hội Châu Âu mời tham dự cuộc thảo luận bàn tròn hai ngày về đề tài "Châu Âu tiếp cận việc Tương trợ Dân chủ và Cộng đồng Dân chủ Thế giới"

Những cuộc tiếp xúc của Tổ chức Quê Mẹ : Hành động cho Dân chủ Việt Nam và Ủy ban Bảo vệ Quyền làm Người Việt Nam để trình bày và trao tài liệu về sự đàn áp nhân quyền và tôn giáo tại Việt Nam tiếp diễn nhiều năm qua, đặc biệt các cuộc bắt bớ, các phiên tòa bất công từ cuối tháng 3 sang đầu tháng 5.2007, những cuộc đàn áp các tôn giáo như Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, giới Tăng sĩ Phật giáo Khmer Krom, Hòa Hảo, Tin Lành, người Thượng, v.v... đã gây ngạc nhiên và chấn động các Dân biểu và cơ quan gặp gỡ.

Chiều ngày 12.7, chứng kiến những cánh tay ủng hộ đưa cao đáp lời chủ tọa khóa họp toàn thể Quốc hội Châu Âu hỏi rằng : "Ai đồng ý thông qua Quyết nghị của Quốc hội Châu Âu về vấn đề Việt Nam ?". Rồi không một cánh tay phản đối khi đáp lời Chủ tọa khóa họp hỏi thêm hai câu tiếp : "Ai phản đối ?", "Ai bỏ phiếu trắng ?". Nên liền đó, ông Võ Văn Ái, Chủ tịch Ủy ban Bảo vệ Quyền làm Người Việt Nam và Phát ngôn nhân Viện Hóa Đạo Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, đã tuyên bố với báo chí rằng :

"Chúng tôi hoan nghênh và chào đón Quyết Nghị của Quốc hội Châu Âu đã kịp thời xuất hiện, mang lại sự phấn kích cho các nhà bất đồng chính kiến tại Việt Nam đang bị bộ máy độc tài của Hà Nội hăm dọa nghiến nát, đồng thời minh chứng sự sáng suốt của các vị Dân biểu Quốc hội Châu Âu trước thủ đoạn lừa đảo chính giới Âu Mỹ của nhà cầm quyền Hà Nội năm ngoái. Thật quan trọng sự kiện Quốc hội Châu Âu vừa khỏa lấp sự im lặng do nhà cầm quyền Hà Nội dựng lên và được một số các cơ quan truyền thông báo chí bao che trước cuộc đàn áp liên tục đối với Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất". Ông Ái cũng hoan nghênh sự kiện bản Quyết Nghị không bị chóa mắt trước lời tuyên bố lừa gạt của Hà Nội khi cho biết đã bãi bỏ Nghị định Quản chế hành chính 31/CP, vì bản Quyết Nghị đã tố cáo sự kế thừa qua Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính mang số 44/2002/Pl-UBTVQH10. Ông Ái nói : "Một Nhà nước pháp quyền hay dân chủ không thể hiện hữu khi còn tồn tại các điều luật kết án vì "an ninh quốc gia" hay thứ Pháp lệnh 44 cho phép đưa các nhà hoạt động cho nhân quyền và dân chủ vào nhà thương điên".

Hiện nay nhà cầm quyền Hà Nội đang làm đủ cách để bôi nhọ Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, vu cáo hàng lãnh đạo Giáo hội "làm chính trị" cốt cho quần chúng và chính giới Âu Mỹ e ngại, cốt cho giới truyền thông, báo chí bớt loan tin. Nhưng Quốc hội Châu Âu đã thật sáng suốt phá bỏ âm mưu này khi ghi nhận trong bản Quyết nghị :

"Vì rằng, dù có những lời kêu gọi thường trực và kiên trì của cộng đồng quốc tế, Đức Tăng thống của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, Đại lão Hòa thượng Thích Huyền Quang (87 tuổi) và người phụ tá ngài, Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ (79 tuổi), người được Giải Người Bảo vệ Nhân quyền của Sáng hội Rafto năm 2006, vẫn bị giam giữ không xét xử tại chùa viện từ năm 1982, với lý do duy nhất hai ngài là người quyết tâm bênh vực cho tự do tôn giáo, nhân quyền và dân chủ ; vì rằng, các thành viên của những Ban Đại diện Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất tại các tỉnh, mà Giáo hội thiết lập trong 20 tỉnh nghèo để cứu trợ cho những kẻ cơ hàn, trở thành nạn nhân bị sách nhiễu, bị thẩm vấn, bị thị uy và đe dọa thường trực, chỉ vì lý do các Ban Đại diện này đứng trong hàng ngũ Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất".

Những điều quan trọng nhất cho tiến trình pháp quyền hóa nhà nước và dân chủ hóa Việt Nam đã được Quyết nghị của Quốc hội Châu Âu về vấn đề Việt Nam đề xuất, chẳng hạn như :

- "yêu cầu Việt Nam thực hiện các cải cách chính trị và thể chế để thiết lập nền dân chủ và một Nhà nước thực sự pháp quyền, bắt đầu bằng việc thiết lập chế độ đa đảng, một nền báo chí tự do và những công đoàn tự do".

- " yêu cầu chính phủ Việt Nam tôn trọng quyền tự do tôn giáo và khôi phục quy chế pháp lý cho tất cả các cộng đồng tôn giáo, đặc biệt là Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất. Vì rằng, sự công nhận các phong trào tôn giáo thông qua quy chế đăng ký còn quá ít ỏi và bất bình đẳng, với ví dụ 50 giáo hội Tin lành tại gia được công nhận trong số 4000 giáo hội đã đăng ký, và rằng các giáo hội được công nhận này lại phải xin gia hạn mỗi năm".

- "yêu cầu nhà cầm quyền Việt Nam thực thi những khuyến cáo của LHQ, đặc biệt của Ủy ban Nhân quyền LHQ trong phần kết luận năm 2002, bãi bỏ những pháp chế của Việt Nam trái chống với nhân quyền và bảo đảm thực sự các quyền cơ bản cho mọi công dân Việt Nam, chiếu theo Công ước quốc tế về các quyền Dân sự và Chính trị và Công ước quốc tế về các quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa"

- "yêu sách trả tự do tức khắc và vô điều kiện cho mọi cá nhân bị giam giữ vì lý do duy nhất là họ sử dụng ôn hòa và chính đáng các quyền tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do báo chí và tự do tôn giáo, trong số này có linh mục Nguyễn Văn Lý, Nguyễn Phong, Nguyễn Bình Thành, các luật sư Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân, Trần Quốc Hiền, Lê Nguyên Sang, Nguyễn Bắc Truyển, Huỳnh Nguyên Đạo, Dương Thị Tròn, Lê Văn Sóc, Nguyễn Văn Thủy, Nguyễn Văn Thọ, Đức Tăng thống Thích Huyền Quang, Hòa thượng Thích Quảng Độ và Bùi Thị Kim Thành".

Và đặc biệt là :

- "thỉnh mời Hội đồng Châu Âu và Ủy hội Châu Âu phải định giá lại chính sách hợp tác với Việt Nam, căn cứ trên điều 1 trong Hiệp ước hợp tác năm 1995, đặt cuộc hợp tác trên sự tôn trọng các nguyên tắc dân chủ và các quyền cơ bản", cũng như "nhắc nhở rằng cuộc đối thoại về nhân quyền giữa Liên hiệp Châu Âu và Việt Nam phải đưa tới những cải tiến cụ thể tại Việt Nam".

Dưới đây là bản Việt dịch toàn văn Quyết Nghị của Quốc hội Châu Âu về vấn đề Việt Nam chiếu theo bản Pháp ngữ. Bạn đọc có thể tìm đọc toàn văn Quyết Nghị bằng Anh, Pháp và Việt ngữ trên Trang nhà Quê Mẹ: http://www.queme.net


Quyết Nghị của Quốc hội Châu Âu về vấn đề Việt Nam

QUỐC HỘI CHÂU ÂU,

- chiếu theo các Nghị Quyết trước đây về vấn đề Việt Nam,

- chiếu theo lời tuyên bố của Chủ tịch Liên hiêp Châu Âu ngày 15.5.2007 trước sự kết án các nhà đấu tranh cho nhân quyền tại Việt Nam,

- chiếu theo Hiệp ước Hợp tác năm 1995 giữa Liên hiệp Châu Âu và Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam,

- chiếu theo Công ước Quốc tế về Các quyền Dân sự và Chính trị mà Việt Nam tham gia ký kết năm 1982,

- chiếu theo điều 115, chương 5, Quy chế Liên hiệp Châu Âu

A. Vì rằng, từ tháng 3 năm 2007, hơn 15 nhà bất đồng chính kiến bị kết án tù nặng nề và bị quản chế,

B. Vì rằng, cuộc đàn áp này xẩy ra sau một năm 2006 cởi mở chính trị, làm phát sinh những đảng phái độc lập và dân chủ, nhiều người Việt Nam (trí thức, luật sư, nhà báo, nghệ sĩ, tu sĩ, công dân) biểu kiến sự quan tâm cho dân chủ nên đã có vô số lời kêu gọi cho dân chủ,

C. Vì rằng, kiến nghị đòi hỏi dân chủ tung ra trên Mạng thiên dân chủ và cải cách 8406 với 118 chữ ký những người cốt cán, đánh dấu bước khởi đầu một phong trào cho dân chủ thực sự trên mạng truyền thông Internet,

D. Vì rằng, sự khoan nhượng của chế độ Việt Nam đối với sự sôi sục của giới ly khai dân chủ làm dấy lên những niềm hy vọng và giúp cho Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam được vào Tổ chức Thương mại Thế giới, được rút tên khỏi danh sách các quốc gia đàn áp tôn giáo (CPC), và được Hạ viện Hoa Kỳ ban cho quy chế quan hệ thương mại bình thường và vĩnh viễn,

E. Vì rằng, dù có những lời kêu gọi thường trực và kiên trì của cộng đồng quốc tế, Đức Tăng thống của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, Đại lão Hòa thượng Thích Huyền Quang (87 tuổi) và người phụ tá ngài, Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ (79 tuổi), người được Giải Người Bảo vệ Nhân quyền của Sáng hội Rafto năm 2006, vẫn bị giam giữ không xét xử tại chùa viện từ năm 1982, với lý do duy nhất hai ngài là người quyết tâm bênh vực cho tự do tôn giáo, nhân quyền và dân chủ ; vì rằng, các thành viên của những Ban Đại diện Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất tại các tỉnh, mà Giáo hội thiết lập trong 20 tỉnh nghèo để cứu trợ cho những kẻ cơ hàn, trở thành nạn nhân bị sách nhiễu, bị thẩm vấn, bị thị uy và đe dọa thường trực, chỉ vì lý do các Ban Đại diện này đứng trong hàng ngũ Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất,

F. Vì rằng, sự công nhận các phong trào tôn giáo thông qua quy chế đăng ký còn quá ít ỏi và bất bình đẳng, với ví dụ 50 giáo hội Tin lành tại gia được công nhận trong số 4000 giáo hội đã đăng ký, và rằng các giáo hội được công nhận này lại phải xin gia hạn mỗi năm,

G. Vì rằng, tháng 2 năm 2007, cuộc biểu tình đòi tự do tôn giáo của 200 giáo phẩm Phật giáo Khmers Kroms bị đàn áp bằng bạo lực tại tỉnh Sóc Trang, ngày 10 tháng 5 sau đó, năm Tăng sĩ trong họ bị kết án từ 2 đến 4 năm tù vì tội "phá rối trật tự công cộng", và rằng ngoài những cuộc đàn áp tôn giáo, người Khmers kroms còn bị cưỡng bức đồng hóa,

H. Vì rằng, các dân tộc ít người miền thượng du Bắc Việt và Cao nguyên Trung phần luôn luôn là nạn nhân bị phân biệt đối xử, bị tịch thu đất đai và bị vi phạm quyền tự do tôn giáo, rằng chỉ có 38 nhóm tôn giáo được công nhận tại vùng Tây Bắc, và các tổ chức phi chính phủ độc lập cũng như các nhà báo không được tự do đến các vùng cao nguyên để chứng kiến thực trạng của những người Thượng hồi hương từ Cam Bốt,

I. Vì rằng, tất cả những nhà bất đồng chính kiến bị bắt từ tháng 3.2007 căn cứ vào sự vi phạm cơ bản điều luật "an ninh quốc gia", như "tuyên truyền chống phá CHXHCNVN" (điều 88 Bộ luật Hình sự), hay âm mưu "lật đổ chính quyền" (điều 79) ; rằng những cáo buộc vi phạm "an ninh quốc gia" này đã bị Ủy ban Nhân quyền LHQ, Báo cáo viên LHQ đặc nhiệm Bất bao dung tôn giáo và Tổ hành động chống bắt bớ trái phép của LHQ đánh giá trái chống với luật pháp quốc tế, và đã yêu sách hủy bỏ hay sửa đổi điều luật "an ninh quốc gia" ấy,

J. Vì rằng, Việt Nam được hưởng sự tài trợ của Liên hiệp Châu Âu và các quốc gia thành viên của Liên hiệp Châu Âu trong khuôn khổ "Chiến lược phát triển hệ thống pháp lý" cũng như "Chiến lược cải cách tư pháp",

K. Vì rằng, Việt Nam tiếp tục tổ chức các phiên tòa nhưng chẳng tôn trọng sự suy đoán vô tội, quyền bào chữa hay tính độc lập của các thẩm phán, như đã cho thấy qua các phiên xử linh mục Nguyễn Văn Lý (30.3.2007), Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân ((11.5.2007),

L. Vì rằng, việc bãi bỏ Nghị định 31/CP năm 1997 về "quản chế hành chính" không thể làm quên đi việc khăng khăng áp dụng Pháp lệnh 44/2002/PL-UBTVQH10 về "Xử lý vi phạm hành chính", pháp lệnh mở rộng các khả năng giam giữ không xét xử những người bất đồng chính kiến và tái hồi phương pháp cổ hủ và độc địa đưa các nhà bất đồng chính kiến vào bệnh viện tâm thần, mà nạn nhân là nữ luật sư Bùi Thị Kim Thành, bị giam từ tháng 11.2006 vì bà đã bênh vực cho quyền lợi dân oan ở nông thôn,

M. Vì rằng, Liên hiệp Châu Âu là đối tác doanh thương quan trọng nhất của Việt Nam, và Việt Nam đã được hưởng Hệ thống ưu đãi phổ cập (GSP) của Liên Âu,

N. Vì rằng, tháng 3.2007, Hội đồng Châu Âu đã gia tăng 30% tài trợ cho Việt Nam trong thời khóa 2007-2013 (304 triệu Euros), mà một phần lớn dành cho việc cai quản quốc gia và nhân quyền,


QUỐC HỘI CHÂU ÂU

1. biểu tỏ sự lo lắng sâu xa trước đợt sóng đàn áp các nhà bất đồng chính kiến tại Việt Nam;

2. do vậy yêu sách trả tự do tức khắc và vô điều kiện cho mọi cá nhân bị giam giữ vì lý do duy nhất là họ sử dụng ôn hòa và chính đáng các quyền tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do báo chí và tự do tôn giáo, trong số này có linh mục Nguyễn Văn Lý (8 năm tù), Nguyễn Phong (6 năm tù), Nguyễn Bình Thành (5 năm tù), các luật sư Nguyễn Văn Đài (5 năm tù) - đều là thành viên của Blog Trang nhà thiên dân chủ và cải cách 8406 - và Lê Thị Công Nhân (4 năm tù), phát ngôn nhân Đảng Thăng tiến, Trần Quốc Hiền (5 năm tù), đại diện Hiệp hội Công Nông Việt Nam, chủ tịch đảng Dân chủ Nhân dân, Lê Nguyên Sang (5 năm tù), Nguyễn Bắc Truyển (4 năm tù), Huỳnh Nguyên Đạo (3 năm tù), cũng như các tín đồ Phật giáo Hòa Hảo Dương Thị Tròn (6 năm tù), Lê Văn Sóc (6 năm tù), Nguyễn Văn Thủy (5 năm tù), Nguyễn Văn Thọ (4 năm tù), Đức Tăng thống Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, Thích Huyền Quang, Hòa thượng Thích Quảng Độ và Bùi Thị Kim Thành;

3. yêu cầu chính phủ (Việt Nam) chấm dứt mọi hình thức đàn áp những cá nhân sử dụng các quyền của họ về tự do ngôn luận, tự do tư tưởng và tự do hội họp, chiếu theo các tiêu chuẩn quốc tế về nhân quyền ; lập lại lời kêu gọi của Quốc hội Châu Âu yêu cầu nhà cầm quyền Việt Nam cấp tốc cải tổ những điều quy định liên quan đến điều luật an ninh quốc gia để hoặc hủy bỏ hoặc tuân thủ theo luật pháp quốc tế;

4. yêu cầu Việt Nam thực hiện các cải cách chính trị và thể chế để thiết lập nền dân chủ và một Nhà nước thực sự pháp quyền, bắt đầu bằng việc thiết lập chế độ đa đảng, một nền báo chí tự do và những công đoàn tự do;

5. yêu cầu chính phủ Việt Nam tôn trọng quyền tự do tôn giáo và khôi phục quy chế pháp lý cho tất cả các cộng đồng tôn giáo, đặc biệt là Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất;

6. thỉnh mời chính phủ Việt Nam chấm dứt việc phân biệt đối xử với cộng đồng người Thượng;

7. chào mừng việc bãi bỏ Nghị định 31/CP như bước đầu cải tổ tư pháp và yêu cầu chính phủ Việt Nam loại trừ mọi hình thức giam giữ mà không được pháp lý che chở, đặc biệt là Pháp lệnh mang số 44 năm 2002;

8. yêu cầu nhà cầm quyền Việt Nam thực thi những khuyến cáo của LHQ, đặc biệt của Ủy ban Nhân quyền LHQ trong phần kết luận năm 2002, bãi bỏ những pháp chế của Việt Nam trái chống với nhân quyền và bảo đảm thực sự các quyền cơ bản cho mọi công dân Việt Nam, chiếu theo Công ước quốc tế về các quyền Dân sự và Chính trị và Công ước quốc tế về các quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa;

9. nhắc nhở rằng cuộc đối thoại về nhân quyền giữa Liên hiệp Châu Âu và Việt Nam phải đưa tới những cải tiến cụ thể tại Việt Nam ; thỉnh mời Hội đồng Châu Âu và Ủy hội Châu Âu phải định giá lại chính sách hợp tác với Việt Nam, căn cứ trên điều 1 trong Hiệp ước Hợp tác năm 1995, đặt cuộc hợp tác trên sự tôn trọng các nguyên tắc dân chủ và các quyền cơ bản;

10. Ủy nhiệm Chủ tịch Quốc hội Âu châu chuyển giao Quyết Nghị này đến Hội đồng Âu châu, Ủy hội Âu Châu, cũng như đến các Chính phủ thành viên Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á, Tổng Thư ký LHQ, Cao ủy Nhân quyền LHQ và Chính phủ và Quốc hội Việt Nam.

(Ủy ban Bảo vệ Quyền làm Người Việt Nam dịch từ bản Pháp ngữ)

Sự đồng thuận của HĐGM Việt Nam và Toà Thánh Vatican trong việc xử án Cha Lý, có hay không?

THƯ GỞI ÔNG NGUYỄN MINH TRIẾT
V/v: Sự đồng thuận của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam và Toà Thánh Vatican trong việc xử án Cha Lý.


Kính gởi ông NGUYỄN MINH TRIẾT,
Chủ Tịch Nhà Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam


Kính ngài,
Tôi ký tên dưới đây là Nguyễn Học Tập.

Được đọc trên báo NHÂN DÂN ( 04.07.2007, trg. 2) và trên báo TUỔI TRẺ (08.07.2007, trg. 1), lời tuyên bố của ông nhân cuộc phỏng vấn của phóng viên Wolf Blitzer (CNN) trong chuyến đi Hoa Kỳ của ông vừa qua, từ 18-23.6.2007, liên quan đến phiên toà xử án Cha Lý, tôi có một thắc mắc muốn được thưa với ông.

Trong cuộc phỏng vấn trên, đề cập đến phiên toà Cha Lý bị bịt miệng, không được luật sư biện hộ và cũng không có quyền tự biện hộ, một quyền tự do tối thiểu bất khả xâm phạm của con người của một xứ văn minh, ông đã cho rằng việc Cha Lý đứng ra tranh đấu cho Nhân Quyền và Tự Do Dân Chủ cho con người có được một cuộc sống xứng đáng với phẩm giá con người là hành vi "phạm pháp luật Việt Nam" (Báo Nhân Dân, 04.07.2007, trg. 2) của xứ Xã Hội Chủ Nghĩa Nhân Dân văn minh của ông.

Và rồi từ đó ông cho rằng Quốc Gia XHCNVN văn minh của ông được cả Hội Đồng Giám Mục Việt Nam và Toà Thánh Vatican cho phép, nguyên văn như sau:

- "Việc xét xử ông ta được Hội Đồng Giám Mục Việt Nam và Toà Thánh Vatican cũng đồng tình với chúng tôi" (Báo Nhân Dân, id., trg.2; Báo Tuổi Trẻ, id., trg.1).

Kính thưa ông,
Là người Công giáo, tôi nghĩ rằng Hội Đồng Giám Mục Việt Nam và Toà Thánh Vatican không có lý do gì đồng thuận "lên án" Cha Lý, chỉ vì Cha hành xử, tranh đấu bênh vực Nhân Quyền và Tự Do Dân Chủ, nhằm "Thăng Tiến con người và Thăng Tiến xã hội", như những gì Phúc Âm dạy cho.

Trước xác tín vừa kể, tôi không muốn một vết nhơ oen ố như vậy bị bôi trét lên lịch sử Giáo Hội Công Giáo Việt Nam và trên lịch sử Giáo Hội Công Giáo hoàn vũ, mà tôi cũng là thành phần của Giáo Hội.

Do đó việc "đồng tình" vừa kể, được thốt ra từ Đấng Bậc nào đó trong Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, chúng tôi đã và đang kiểm chứng và sẽ cho mọi người biết trong những ngày sắp tới.

Về phía Toà Thánh Vatican, tôi khẩn xin ông, nếu như sự thật đã xảy ra, cung cấp cho tôi
- tên họ và chức vụ của Đấng Bậc đã "biểu đồng tình" với ông,
- ngày tháng,
- trong bối cảnh
- và trước mặt ai là nhân chứng,

Có được những yếu tố đó, tôi cam kết với ông: Cá nhân tôi sẽ đến tận Toà Thánh Vatican để được hội kiến với Đấng Bậc "đồng chí" của ông, biết rõ ý kiến và nguyên nhân đã khiến Đấng Bậc đương sự "đồng tình" với Nhà Nước CHXHCNVN xử án "bịt miệng" Cha Lý và lên án ngài, nhờ vào những quen biết của tôi với Toà Thánh Vatican.

Như vậy, ông và tôi, chúng ta cùng nhau làm sáng tỏ cho mọi người thấy đâu là sự thật và đem lại lòng tin của người con dân Việt Nam đối với ông, vị Nguyên Thủ Quốc Gia, cũng như cách hành xử tôn trọng sự thật của Đảng và Nhà Nước CSVN.

Ngược lại, nếu sau một tháng trôi qua, kể từ hôm nay 09.07.2007, chúng tôi không được một lời minh định nào của ông trên báo NHÂN DÂN và TUỔI TRẺ, mọi con dân Việt Nam sẽ thấy được phẩm chất lời tuyên bố ở trên của ông và cho đó cũng là cách hành xử quen thuộc của Đảng và Nhà Nước CSVN do ngài lãnh đạo.

Mong ông vì quyền lợi, ước vọng và lý tưởng của dân tộc Việt Nam, hiện tại cũng như những thế hệ tương lai, cùng cộng tác giải toả những nghi ngờ, đem lại lòng tin cho đồng bào chúng ta, để xây dựng Đất Nước.

Xin thành thật cám ơn và trọng kính ông,

NGUYỄN HỌC TẬP.

Việt Nam, Ðảng là ai mà ăn trùm ?

VIỆT NAM: ĐẢNG LÀ AI MÀ ĂN TRÙM ?
16 Năm Vẫn Không Xây Dựng Nổi Đảng viên ?
Phạm Trần

Hoa Thịnh Đốn.- “Đảng lãnh đạo nhưng không bao biện, làm thay Nhà nước” là khẩu hiệu tuyên truyền được lập đi lập lại nhiều lần từ Đại hội đảng X năm 2006 bởi Nông Đức Mạnh, Tổng Bí thư đảng,nhưng đảng lại “ăn trùm” tất cả, ra lệnh cho mọi người làm theo ý mình mà chẳng có trách nhiệm gì với dân thì có lạ không ?

Nhưng Đảng là ai, của trên Ba triệu đảng viên, của 85 triệu người dân hay chỉ là của riêng những người may mắn được lọt vào Bộ Chính trị. Trong trường hợp của khóa X, có 14 người may mắn đó được xếp theo thứ tự : Nông Đức Mạnh, Tổng Bí thư; Lê Hồng Anh, Bộ trưởng Bộ Công an; Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng; Nguyễn Minh Triết, Chủ tịch Nước; Trương Tấn Sang, Bí thư Trung ướng Đảng; Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch Quốc hội; Phạm Gia Khiêm, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao; Phùng Quang Thanh, Đại tướng (mới lên từ Thượng tướng ngày 6-7-07), Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; Trương Vĩnh Trọng, Bí thư Trung ương đảng; Lê Thanh Hải; Nguyễn Sinh Hùng, Phó Thủ tướng; Nguyễn Văn Chi, Bí thư Trung ương đảng; Hồ Đức Việt, Bí thư Trung ương đảng và Phạm Quang Nghị, Bí thư Thành ủy Thành phố Hà Nội.


Tất cả những chủ trương, chính sách của đảng từ xưa đến nay đều do Bộ Chính trị quyết định trước rồi mới chuyển xuống cho Nhà nước thi hành nên bảo “không bao biện” là không đúng. Còn việc có “làm thay” hay không thì hậu qủa của các vụ can thiệp của các Tổ chức, Ban, Ngành, Đảng ủy Tỉnh, Thành của Đảng vào công tác điều hành của Nhà nước; Lấn sang trách nhiệm hiến định làm Luật của Quốc hội; Che dấu tội phạm hay an thiệp sâu vào các vụ Điều tra tội phạm của ngành Tư pháp, Công an như vụ băng đảng Năm Cam, tham nhũng PMU 18, các Chương trình Xây dựng cơ bản, lãng phí Miá Đường, Xi Măng, Bến cảng, Bắt cá xa bờ, Xóa đói giảm nghèo đến “ăn đất” ở Đồ Sơn, uống dầu ở Công ty Dầu khí, Buôn lậu ở Air Việt Nam v.v…thì có ai không biết ?

Bằng chứng đã rành rành như trong phát biểu của Nguyễn Văn An, Cựu Chủ tịch Quốc hội trên báo Tuổi Trẻ ngày 9-7 (2007) :

Hỏi : Ông nghĩ sao khi thực tế thời gian qua cấp ủy Đảng tại một số nơi can thiệp quá sâu vào công việc của chính quyền?

Đáp : “Nếu Đảng trực tiếp chỉ đạo làm thay các cơ quan nhà nước thì Đảng đã tự cho mình trở thành cơ quan quyền lực nhà nước song song và đứng trên cơ quan quyền lực nhà nước. Nếu lẫn lộn sẽ dẫn tới nghịch lý là Đảng có quyền quyết định song lại không chịu trách nhiệm trước pháp luật, còn người đứng đầu cơ quan nhà nước không có quyền quyết định lại phải chịu trách nhiệm trước nhân dân theo pháp luật. Như vậy, nếu quyền hạn và trách nhiệm tách rời nhau thì cơ quan nhà nước sẽ trở thành hình thức, trách nhiệm cá nhân sẽ không được đề cao, toàn bộ thiết chế bộ máy nhà nước sẽ rối loạn. Đó là điều tối kỵ!”

“Thời gian qua, sự can thiệp của cán bộ trong cấp ủy vào UBND một số địa phương, vào hoạt động của các cơ quan quản lý hành chính nhà nước và xét xử của ngành tòa án đã cho chúng ta những bài học kinh nghiệm sâu sắc. Nếu sai phạm để xảy ra ở cấp trung ương thì kỷ cương phép nước sẽ bị rối loạn, hậu quả sẽ là khôn lường.”

Đó là những điểm đặc thù đến kỳ quặc của nền chính trị “đảng là cha thiên hạ”, “trên bảo dưới không nghe” , “cha chung không ai khóc”, “quan liêu, tham nhũng cứ thong dong tồn tại”, “hành chính chồng chéo” đang diễn ra ở Việt Nam ngày nay.

Vì vậy mà trong kỳ Hội nghị V của Ban Chấp hành Trung ương đảng X (từ ngày 5 đến 14/7/2007) vấn đề “Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị” đã được đặt lên hàng đầu.

Sau đó mới bàn đến các vấn đề nổi cộm khác như : “Đẩy mạnh cải cách hành chính, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước; Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Đảng; Công tác tư tưởng, lý luận, báo chí trước yêu cầu mới; Cơ cấu tổ chức Chính phủ nhiệm kỳ Quốc hội khoá XII; Giới thiệu nhân sự lãnh đạo các cơ quan nhà nước để Quốc hội xem xét, quyết định.”

Nhưng “đổi mới” như thế nào ? Có thay “cái cũ” bằng “cái mới” hay cứ nói “đổi mới” mà vẫn làm như cũ ?

Mạnh nói trong buổi khai mạc Hội nghị V ngày 5-7 (2007) : “Như các đồng chí đã biết, trong phương hướng, mục tiêu xây dựng Đảng, Nghị quyết Đại hội X đã xác định phải đổi mới và hoàn thiện phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị. Đây là một nhiệm vụ hết sức quan trọng. Việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng phải đồng bộ với đổi mới tổ chức và hoạt động của cả hệ thống chính trị, đồng bộ với đổi mới kinh tế; thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức, sinh hoạt và hoạt động của Đảng. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước là khâu mấu chốt, cần tiếp tục quán triệt và thực hiện tốt các nguyên tắc chung đã được xác định là : Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng đường lối, quan điểm, các nghị quyết; lãnh đạo thể chế hoá, cụ thể hoá thành Hiến pháp, pháp luật, kế hoạch, các chương trình công tác lớn của Nhà nước; phải bố trí đúng cán bộ và thường xuyên kiểm tra việc tổ chức thực hiện. Đảng lãnh đạo nhưng không bao biện, làm thay Nhà nước; trái lại, phát huy mạnh mẽ vai trò chủ động, sáng tạo của Nhà nước trong quản lý đất nước và xã hội.”

Mạnh nói tiếp : “Theo hướng đó, khẩn trương xây dựng, hoàn thiện hệ thống văn bản quy định cụ thể về nguyên tắc, nội dung và cơ chế Đảng lãnh đạo đối với Nhà nước trong từng lĩnh vực : lập pháp, hành pháp, tư pháp và từng cấp, từng loại hình tổ chức nhà nước.”

“Đối với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân, Đảng định hướng và tạo điều kiện để Mặt trận và các đoàn thể xác định đúng mục tiêu, phương thức hoạt động; đồng thời, phát huy tinh thần dân chủ, sáng tạo trong xây dựng, đổi mới tổ chức và hoạt động của mình. Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị, đi đôi với phát huy trách nhiệm của các tổ chức và người đứng đầu các tổ chức trong hệ thống chính trị về công tác cán bộ; thực hiện luân chuyển cán bộ, khắc phục tình trạng khép kín, cục bộ về cán bộ. Tăng cường trách nhiệm của cán bộ, đảng viên là thủ trưởng cơ quan nhà nước... Việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị phải thường xuyên gắn với đổi mới phong cách và lề lối làm việc ở từng cấp theo hướng thật sự dân chủ, thiết thực, nói phải đi đôi với làm.”

NĂM SAU XẤU HƠN NĂM TRƯỚC

Nói như vậy thì đảng đã “bao trùm” từ gốc đến ngọn chưa hay mới lưng chừng một nửa ?

Nhưng tại sao mãi tới bây giờ, hơn một năm sau ngày Đại hội X (4/2006) mà cấp Lãnh đạo vẫn còn loay hoay chưa biết bắt đầu công tác “Xây dựng đảng” (XDĐ) từ chỗ nào ?

Trong Báo cáo XDĐ của khóa IX, cũng do Mạnh làm Tổng Bí thư, Ban chấp hành đảng đã báo cáo trước đại hội : “Dân chủ trong Đảng và trong xã hội còn bị vi phạm. Kỷ cương, kỷ luật ở nhiều cấp, nhiều lĩnh vực không nghiêm. Sự đoàn kết, nhất trí ở không ít cấp ủy còn yếu. Quan hệ giữa Ðảng và nhân dân có lúc, có nơi bị xói mòn do những hạn chế, yếu kém trong công tác tư tưởng chính trị, công tác vận động quần chúng, công tác tổ chức cán bộ, công tác quản lý nhà nước và những khó khăn phát sinh trong quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế - xã hội.”

“Không ít tổ chức đảng yếu kém, nhất là ở cơ sở, không làm tròn vai trò hạt nhân chính trị và nền tảng của Ðảng, không đủ sức giải quyết những vấn đề phức tạp nảy sinh từ cơ sở, thậm chí có những tổ chức cơ sở đảng tê liệt, mất sức chiến đấu. Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, kể cả một số cán bộ chủ chốt các cấp, yếu kém cả về phẩm chất và năng lực; thiếu tính chiến đấu và tinh thần bảo vệ quan điểm, đường lối của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, giảm sút lòng tin, phai nhạt lý tưởng; một số ít có biểu hiện bất mãn, mất lòng tin, nói và làm trái với quan điểm, đường lối của Ðảng, vi phạm nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Ðảng, vi phạm pháp luật của Nhà nước.”

“Bệnh cơ hội, chủ nghĩa cá nhân trong một bộ phận cán bộ, đảng viên có chiều hướng gia tăng; vẫn còn tình trạng "chạy chức", "chạy quyền", "chạy tội", "chạy bằng cấp". Thoái hóa, biến chất về chính trị, tư tưởng, về đạo đức, lối sống; tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, sách nhiễu dân trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên diễn ra nghiêm trọng, kéo dài chưa được ngăn chặn, đẩy lùi, nhất là trong các cơ quan công quyền, các lĩnh vực xây dựng cơ bản, quản lý đất đai, quản lý doanh nghiệp nhà nước và quản lý tài chính, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Ðảng. Ðó là một nguy cơ lớn liên quan đến sự sống còn của Ðảng, của chế độ.”

“Cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, tự phê bình và phê bình trong các cấp ủy, tổ chức đảng, đảng viên chưa đạt yêu cầu đề ra, chưa tạo được chuyển biến cơ bản, chưa góp phần tích cực ngăn chặn và đẩy lùi tệ tham nhũng, lãng phí, quan liêu. Một số cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp chưa nêu gương, chưa làm tròn trách nhiệm trong đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu. Việc xử lý kỷ luật đối với những người đứng đầu để xảy ra tham nhũng, lãng phí ở ngành, địa phương, đơn vị chưa kịp thời, kiên quyết.”

Ô hay, trong 5 năm cầm quyền (2001-2006), Mạnh và Ban Chấp hành khóa IX chỉ “ăn không ngồi rỗi”, không có việc gì làm hay chỉ biết ăn mà không chịu làm nên xấu xa mới tồn tại ngổn ngang đến thế ?

Nhưng trước Mạnh, những tệ nạn trong đảng chưa xây dựng nổi cũng đã tồn tại từ khóa VII, được Tổng Bí thư Đỗ Mười trao lại cho Lê Khả Phiêu khóa VIII. Hết hạn, không giải quyết nổi Phiêu lại đổ sang cho Mạnh tại Đại hội khóa IX (19-04-2001).

Phiếu báo cáo : “Trong công tác xây dựng Đảng, bên cạnh những ưu điểm, đang nổi lên một số mặt yếu kém và khuyết điểm, nhất là khuyết điểm về công tác giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên, chưa ngăn chặn và đẩy lùi được sự suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức, lối sống. Một số tổ chức đảng ở các cấp chưa được chỉnh đốn; dân chủ bị vi phạm, kỷ luật, kỷ cương lỏng lẻo, nội bộ không đoàn kết; chất lượng sinh hoạt đảng giảm sút. Công tác tư tưởng, công tác lý luận còn yếu kém, bất cập; công tác tổ chức, cán bộ còn một số biểu hiện trì trệ. Việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng còn lúng túng, chưa đi sâu làm rõ đặc điểm và yêu cầu về sự lãnh đạo của Đảng trong điều kiện Đảng cầm quyền, chưa phát huy đầy đủ hiệu lực quản lý của các cơ quan nhà nước, tính tích cực của các đoàn thể và quyền làm chủ của nhân dân. Tổ chức chỉ đạo thực hiện và kiểm tra việc thực hiện các nghị quyết của Đảng và pháp luật của Nhà nước còn yếu.”

Phiêu bảo: “Những khuyết điểm nêu trên là do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, trực tiếp và chủ yếu là do nhiều cấp uỷ và tổ chức đảng, kể cả Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị, tuy đã có nhiều cố gắng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nhưng chỉ đạo chưa tập trung và kiên quyết; chủ trương, biện pháp thiếu đồng bộ; chưa chỉ đạo tốt việc kết hợp tự phê bình và phê bình với kiện toàn tổ chức, đổi mới cơ chế, chính sách, chỉnh đốn các khâu quản lý kinh tế, tài chính và tăng cường công tác giáo dục, quản lý cán bộ, đảng viên...”

Phiêu khuyến cáo đảng phải : “Chống tư tưởng cơ hội, thực dụng. Trên cơ sở tổng kết hai năm thực hiện cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, tiếp tục đưa việc tự phê bình và phê bình trong các cấp uỷ và tổ chức đảng từ Trung ương đến cơ sở thành nền nếp thường xuyên và theo định kỳ, không làm qua loa, chiếu lệ, hình thức; vận động nhân dân góp ý phê bình cán bộ, đảng viên….Đẩy mạnh tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận, thảo luận dân chủ, sớm làm rõ và kết luận những vấn đề mới, bức xúc nảy sinh từ thực tiễn; từng bước cụ thể hoá, bổ sung, phát triển đường lối, chính sách của Đảng; đấu tranh với những khuynh hướng tư tưởng sai trái...”

Nhưng tại Đại hội X, tài liệu đảng vẫn viết : “Công tác tổ chức trên một số mặt còn yếu; chưa thực hiện đầy đủ các nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Ðảng. Chậm xây dựng, hoàn thiện tổ chức và cơ chế giám sát trong Ðảng và trong hệ thống chính trị, giám sát của nhân dân đối với hoạt động của Ðảng, Nhà nước và cán bộ, đảng viên. Còn thiếu những quy chế cụ thể bảo đảm phát huy dân chủ, thực hiện đúng đắn nguyên tắc tập trung dân chủ. Một số cấp ủy, tổ chức đảng và cán bộ lãnh đạo thiếu tôn trọng và phát huy quyền của đảng viên, ít lắng nghe ý kiến cấp dưới; cán bộ lãnh đạo ở một số nơi gia trưởng, độc đoán, chuyên quyền, mất dân chủ hoặc dân chủ hình thức...”

“…Việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng còn chậm và lúng túng. Chậm nghiên cứu và ban hành những quy định cụ thể về phương thức Đảng lãnh đạo Nhà nước; chậm xây dựng các cơ chế phối hợp giữa các tổ chức trong hệ thống chính trị. Thiếu những quy định cụ thể bảo đảm thực hiện đúng đắn nguyên tắc tập trung dân chủ, phát huy dân chủ trong Ðảng. Chưa thực sự coi trọng đổi mới phong cách, lề lối làm việc, thực hiện nói đi đôi với làm; tình trạng nói nhiều làm ít, né tránh, đùn đẩy trách nhiệm còn diễn ra ở nhiều nơi.”

Như vậy thì cái đảng này đã và đang làm gì cho đất nước và dân tộc từ 32 năm qua ? Họ “đổi mới” kinh tế để tồn tại, nhưng lại lạm dụng sự thành công để nuôi dưỡng tham nhũng, làm giầu cho thiểu số lãnh đạo, để cho các tệ nạn xã hội tự do sinh sôi nẩy nở làm băng hoại đời sống văn hóa và tinh thần của người dân, nhất là thế hệ trẻ.

Nếu tính từ thời Đỗ Mười làm Tổng Bí thư đảng năm 1991 thì đảng CSVN đã trải qua 16 năm không “chỉnh đốn, xây dựng” được những chứng hư tật xấu của cán bộ, đảng viên, trong đó hành dân lấy tiền là chính.

Cũng trong những năm này, họ đã kiên quyết duy trì “tập trung dân chủ” để nuôi dưỡng độc tài đảng trị, tiêu diệt tự do ngôn luận, xâm phạm nhân quyền và vi phạm các quyền dân chủ hiến định cho chính họ viết trong Hiến pháp.

Do đó, dù kết qủa của Hội nghị V có hứa hẹn gì chăng nữa nhưng nếu đảng vẫn độc quyền lãnh đạo, không chịu trả quyền làm chủ đất nước cho nhân dân thì bộ mặt đen đuốc của Việt Nam vẫn cứ như bây giờ.

Sự gian dối, thêm, bớt của báo chí trong nước, cách riêng hai tờ Nhân Dân và Tuổi Trẻ, trong bài tường thuật lại cuộc phỏng vấn Chủ tịch Nước Nguyễn Minh Triết của đài truyền hình Mỹ, CNN, trong vụ Linh mục Nguyễn Văn Lý bị bỏ tù đã khiến Hội đồng Giám mục Việt Nam phải lên tiếng phủ nhận đã chứng minh điều này .

Giám mục Phaolô Nguyễn Văn Hòa,Chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Việt Nam viết thư gửi Nguyễn Minh Triết:

“Thay mặt Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, tôi kính gửi lời thăm Cụ và thưa Cụ việc sau đây :

“Nhân đọc trong báo “Tuổi Trẻ“, số ra ngày 6 tháng 7 năm 2007, tại trang 3, liên quan đến vụ xét xử Linh mục Nguyễn Văn Lý,

“Hội Đồng Giám Mục Việt Nam nhận định như sau :

Câu trả lời của Cụ Chủ tịch Nước Nguyễn Minh Triết “Hội Đồng Giám Mục Việt Nam và Tòa Thánh Vatican cũng đồng tình với chúng tôi “ là không đúng sự thật”.

Thật ra thì trong bài Phỏng vấn của CNN, không có câu nói của Triết, nhưng Triết vẫn để cho báo chí trong nước bịa ra tin bịp bợm để đánh lừa dư luận.

Việc này xẩy ra chỉ một ngày sau khi Mạnh khai mạc Hội nghị V của Ban Chấp hành Trung ương đảng để bàn về công tác “khắc phục những biểu hiện lệch lạc trong hoạt động báo chí, xuất bản, văn hóa, văn nghệ” thì còn gì xấu hổ hơn không ?

Phạm Trần
(07/07)