Thứ Hai, 9 tháng 7, 2007
Dân chủ: quyền lực và ngờ vực
Phạm Phú Đức
Có thể hiểu một cách đơn giản và khái quát rằng dân chủ nghĩa là dân làm chủ. Nhưng nếu chỉ nói chung chung như thế thì dễ quá, bởi các chế độ độc tài chuyên chính cũng dám tự xưng một cách không thẹn thùng là dân chủ gấp ngàn lần chế độ dân chủ tư bản. Cho nên câu hỏi cần đặt ra là: dân làm chủ bằng cách nào, hay làm thế nào để bảo đảm dân làm chủ?
Để dân có thể làm chủ đất nước thì dân phải có quyền, bởi nếu dân không có quyền, làm gì cũng phải xin phép, thì dân là nô lệ chứ chẳng phải làm chủ. Vì dân quyền là điều kiện quan trọng của nền dân chủ nên công cuộc đấu tranh đòi dân quyền của phong trào Duy tân, lãnh đạo bởi các cụ Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp v.v… vào đầu thế kỷ 20, có thể được xem là phong trào đấu tranh cho tự do, dân chủ đầu tiên tại Việt Nam. [1]
Nhưng để dân chủ hoạt động hữu hiệu và chính đáng đòi hỏi nhiều hơn dân quyền. Điểm khác biệt cơ bản trong ý niệm dân chủ của trường phái chuyên chế - cộng sản (điển hình là tư tưởng Mác, Lênin) và trường phái tự do - phóng khoáng (điển hình là tư tưởng Hobbes, Locke) là một bên tin tưởng gần như tuyệt đối vào một giai cấp lãnh đạo chính trị, ít nhất ở giai đoạn đầu của cuộc cách mạng; trong khi đó, bên kia lại luôn ngờ vực lãnh đạo chính trị ở mọi giai đoạn, ngờ vực quyền lực tập trung, và nhìn rõ những giới hạn lẫn tác hại khi người ta nắm quá nhiều quyền lực trong tay.
Đối với khuynh hướng “cộng sản”, điển hình qua tác phẩm Nhà nước và Cách mạng của Lênin, [2] thì dân chủ kiểu tư bản là dân chủ cho thiểu số, cho giai cấp tư sản, trong khi đó người dân không được tham dự vào các hoạt động quan trọng của xã hội. Cả Mác lẫn Lênin đều cho rằng khi nhà nước tàn lụi, nghĩa là không còn chính phủ nữa (tức vô chính phủ), thì đó là chế độ cộng sản ở mức cao nhất, và lúc đó mới là nền dân chủ đích thực. Trong tác phẩm này, Lênin vạch ra ba giai đoạn cho cuộc cách mạng vô sản (trong khi Mác không vạch ra ba giai đoạn rõ rệt như Lênin): thứ nhất là hình thành chuyên chính vô sản; thứ hai là hình thành xã hội chủ nghĩa, tức giai đoạn chuyển tiếp giữa tư bản sang cộng sản; và thứ ba là giai đoạn cộng sản, tức thời điểm mà không còn chính phủ (hay nhà nước) nữa. [3] Trên thực tế thì chuyên chính vô sản tại tất cả các nước theo đường lối này không bao giờ chịu bỏ quyền lực của mình, chỉ giỏi hô hào chứ không thật sự tiến bao nhiêu lên xã hội chủ nghĩa hay cộng sản chủ nghĩa như Mác và Lênin tưởng tượng. Còn nhà nước thì không tan biến mà còn phình ra và chiếm lĩnh mọi mặt xã hội kiểu độc tài toàn trị. Sự sai lầm lớn lao này là do các nhà Mác-xít đã quanh quẩn trong khung sườn suy nghĩ của duy vật biện chứng mà xem nhẹ bao nhiêu yếu tố quan trọng khác về bản chất con người, trong đó quyền lực là một yếu tố cơ bản tác động hay chỉ đạo hành động con người trong chính trị. Thêm vào đó, đối với cộng sản, quan điểm cho rằng còn tư hữu các phương tiện sản xuất là còn bóc lột thì lại được xem như là chân lý tuyệt đối, do đó để được tự do và không còn bóc lột thì phải tiêu diệt giai cấp tư sản bằng mọi giá. Với những suy nghĩ như thế, xã hội do những người tự xưng là cộng sản biến thành trong suốt thế kỷ 20 đã mang đầy những đặc tính cách mạng bạo lực và cực kỳ phản động.
Điều quan trọng cần suy nghĩ rốt ráo khác là rằng chế độ cộng sản và các nhà Mác-xít, từ trong bản chất, nghĩa là từ trong tư tưởng của họ, không thật sự tin tưởng vào nhân quyền hay dân chủ gì cả. Họ xem việc cân bằng quyền lực, “bàn tay vô hình” (tức kinh tế thị trường, ý niệm xuất phát từ Adam Smith), nhân quyền, dân chủ toàn cầu v.v… chẳng qua là màn hoả mù hay bình phong che dấu bản chất bóc lột của chế độ tư bản mà các hệ thống tân đế quốc hay tân thực dân hôm nay đại diện. [4]
Đối với khuynh hướng “tư bản”, người ta không còn ngây thơ gì với quyền lực cả, bởi lịch sử đã cho họ những bài học đáng nhớ đời rồi. Đam mê quyền lực, tham nhũng, bè phái, thủ cựu, thủ đoạn, ích kỷ v.v… là các đặc tính con người nơi đâu cũng có, sắc dân nào cũng có, đặc biệt trong hoạt động chính trị. Thêm vào đó, tin hay không tin vào một chính thể chẳng qua là hai mặt của cùng một vấn đề chính trị. Một mặt, người ta biết rằng nếu không tin vào thể chế chính trị nào thì khó thể làm cho nó hoạt động hữu hiệu và tồn tại. Mặt khác, người ta cũng biết rằng nếu quá tin vào một thể chế chính trị mà không có biện pháp hay cơ chế (mechanism) gì để bảo đảm, đo lường hay phối kiểm hành động của thành phần lãnh đạo thì trước sau gì nó cũng chỉ đưa đến sự suy vong mà thôi. Nói cách khác, trong chính trị, tin tưởng là cần thiết, nhưng chưa đủ, bởi không phải chỉ có một loại người làm chính trị tốt mà còn có các thành phần xấu hay tính toán. Ngoài ra, chính trị không chỉ là về vấn đề kinh tế mà chính trị liên hệ trực tiếp và toàn diện đến mọi mặt đời sống. Cho nên, đối với ngay cả hạng người tốt làm chính trị thì chắc gì họ có thể thi hành những điều cam kết bởi vì họ cũng phải lệ thuộc ở bao nhiêu người khác vào sự liên hệ và đan kết chằng chịt nhau. Nhìn bản chất như thế, người ta cũng không ngây thơ tin rằng dân chủ sẽ là lời giải cho mọi vấn đề, là thần dược cho các bệnh nan y trong chính trị. Do đó, những nhà tiên phong xây dựng chính thể dân chủ hiện đại đã đặt nền tảng cơ bản của dân chủ vào sự ngờ vực mọi quyền lực. Tuy nhiên, không phải vì thế mà người ta trở nên bi quan hay ngờ vực mọi thứ, nhưng họ chỉ không tin vào cái gì tuyệt đối, và họ muốn khẳng định thực tế rằng thà bắt đầu với cái tương đối làm nền tảng để vươn tới kết quả tốt nhất có thể được. Nói tóm lại, để xây dựng một nền dân chủ bền vững, nguyên tắc dân chủ được xây dựng chính từ sự ngờ vực đã được định chế hoá (institutionalised distrust), nghĩa là các định chế phải được xây dựng từ sự ngờ vực mà phát triển. Nói theo kiểu Việt Nam, tinh thần dân chủ là “thà mất lòng trước, được lòng sau”, để mà còn có thể “ăn chắc, mặt bền”, còn hơn là “mất cả chì lẫn chài”. Nói cách khác nữa, thà đến với nhau bằng sự ngờ vực cho đến khi nào các ngờ vực được giải toả, lúc đó sự tin tưởng sẽ đến và có giá trị hơn. Tóm lại, niềm tin vào tính chính đáng của dân chủ, một yếu tố quan yếu của nguyên tắc dân chủ, là việc định chế hoá sự ngờ vực vào kiến trúc của nền dân chủ.
Giáo sư Piotr Sztompka [5] liệt kê 10 nguyên tắc dân chủ dựa trên sự ngờ vực được định chế hoá này. Nguyên tắc thứ nhất của dân chủ đòi hỏi tính hợp pháp và chính đáng của mọi quyền lực, điều đó cho thấy chính nghĩa là nguyên tố quan trọng hàng đầu của dân chủ. Do đó, chỉ khi nào quyền lực được chứng minh là xuất phát từ ý nguyện của người dân, hơn nữa, khi nào những vị dân cử này đáp ứng được nguyện vọng của dân chúng, thì chính quyền đó mới có chính nghĩa. Nhưng ngay cả như thế, sự ngờ vực chưa hẳn biến đi bởi chính trị luôn có ẩn số, không phải lúc nào cũng minh bạch, phân định rõ ràng.
Nguyên tắc thứ hai là về tái bầu cử và thời hạn của nhiệm kỳ. Vấn đề “cha truyền con nối” hay bất hạn định nhiệm kỳ như thời xưa nay không còn ai chấp nhận nữa (riêng đối với 9 thẩm phán tối cao của Hoa Kỳ thì nhiệm kỳ là bất hạn định). Nguyên tắc này cho thấy nền dân chủ ngờ vực những người đang cầm quyền không có tinh thần sẵn sàng tự nguyện từ bỏ quyền lực của mình. Thêm vào đó, vấn đề được tín nhiệm hay tái tín nhiệm phải được đánh giá trên khả năng và viễn kiến của người tranh cử, hay thành quả và trách nhiệm đạt được mỗi kỳ của người đương nhiệm. Mỗi kỳ bầu cử là một thử thách mới, cần sáng kiến mới, cần tư tưởng chỉ đạo đường dài và thực tiễn trong lúc xã hội ít nhiều thay đổi với thời gian; hơn nữa, bầu cử là phương thức tuyển chọn người tài, và chỉ có sự cạnh tranh tự do, minh bạch và bình đẳng mới bảo đảm được phần nào các sự chọn lựa thích đáng.
Nguyên tắc thứ ba là tam quyền phân lập, kiểm soát và cân bằng, và sự giới hạn quyền hành của mỗi định chế (như có đề cập trong bài “Ý niệm tự do”). Điều này cho thấy sự ngờ vực đối với các định chế thể hiện rõ, thí dụ, cả ba ngành tư pháp, hành pháp và lập pháp tại Hoa Kỳ luôn chủ trương mở rộng quyền hành của mình, tất nhiên ở trong vòng hiến pháp. Do đó, nếu không có sự kiểm soát và cân bằng của các ngành khác thì sự độc quyền hay lạm quyền là điều tất yếu xảy ra.
Nguyên tắc thứ tư là nền pháp trị (the rule of law) và các toà án độc lập. Nghĩa rằng mọi người, từ công dân bình thường đến lãnh đạo chính trị hàng đầu (mọi thành viên của ba ngành tư pháp, hành pháp và lập pháp), đều được đối xử giống nhau trước pháp luật. Điều này cho thấy dân chủ ngờ vực các thái độ tuỳ tiện, lạm dụng, thiên vị hay những hành động lầm đường lạc lối, cho nên dân chủ yêu cầu mọi công dân và mọi định chế phải tuân thủ khung sườn luật pháp chung. Nhưng để bảo đảm rằng luật pháp đứng trên mọi cá nhân và định chế, nhiều biện pháp phòng vệ khác nhau được bắt buộc thi hành với mục tiêu bảo đảm sự độc lập, tính khách quan, và không thiên vị của toà án và pháp luật. Tất cả các biện pháp phòng hờ này cốt yếu là để tạo niềm tin rộng rãi của dân chúng vào tính minh bạch và công bằng của pháp luật.
Nguyên tắc thứ năm là tính hiến pháp hoá (constitutionalism) và sự xét lại hay phê bình pháp luật (judicial review) khi thích hợp. Điều này cho thấy sự ngờ vực đối với các cơ quan lập pháp. Thí dụ, họ có thể bẻ cong pháp luật để hỗ trợ quyền lợi cụ thể nào đó hay thay đổi pháp luật vì cơ hội chủ nghĩa. Vì thế, phải có các điều luật căn bản để ngăn ngừa sự thay đổi pháp luật một cách tuỳ tiện hay dễ dãi. Ngoài ra, các định chế bảo vệ và hỗ trợ hiến pháp, thí dụ các toà án tối cao hay toà án hiến pháp, mới có thẩm quyền để diễn giải hay bắt tuân theo mệnh lệnh pháp luật, đặc biệt khi có những tranh chấp liên hệ trực tiếp đến vấn đề hợp hiến hay không.
Nguyên tắc thứ sáu là tiến trình đúng đắn, thích hợp (due process). Hậu quả của một quyết định chính trị có đúng đắn hay không phần lớn đến từ việc thực hiện đúng đắn tiến trình minh bạch và dân chủ được quy định trong nguyên tắc hay thủ tục được công nhận. Không phải ai cũng tuân thủ các thủ tục hay nguyên tắc này, ngay cả trong các thể chế được xem là rất dân chủ. Do đó, người ta ngờ vực cả các cơ quan thi hành luật và phân xử luôn cả các định chế này. Các toà án cũng không nằm ngoài nghi vấn về tính thiên vị hay cẩu thả của họ. Vì thế, người ta có quyền kháng án đối với các định chế, và thỉnh thoảng có thể kháng án nhiều lần, cho đến khi quyết định trở thành có giá trị và bắt buộc.
Nguyên tắc thứ bảy là sự tôn trọng và bảo đảm dân quyền. Như đã nói trên, nếu người dân không có quyền thì chẳng thể gọi nền dân chủ đó là đích thực. Người ta ngờ vực thiện chí của giới chức có thẩm quyền trong việc đáp ứng nhu cầu và quyền lợi của công dân. Hơn nữa, công dân có thể bị sách nhiễu bởi giới có quyền lực. Chính vì thế nên người ta đòi hỏi các biện pháp có thể đo lường trách nhiệm của giới thẩm quyền, đòi hỏi các nhu cầu của họ được thoả mãn, và bảo vệ họ để khỏi bị giới chính trị lạm dụng. Để làm việc này thì người dân phải có quyền, và quyền của họ phải được bảo vệ tối đa trong hiến pháp. Do đó, bảo đảm các quyền dân sự trong hiến pháp, mở rộng nhu cầu để người dân có thể kiện tụng cả các định chế công cộng, thành lập các văn phòng để các nhân viên thanh tra độc lập kiểm soát việc làm của nhân viên nhà nước… Đối với một số quốc gia, người ta có thể trực tiếp kiện tụng tính hợp pháp của chính quyền. Dân quyền, trong ý nghĩa này, là để bảo vệ và khuyến khích người dân trực tiếp sử dụng quyền công dân của mình để khi nhà nước không thi hành những gì họ cam kết thì họ sẽ bị người dân thay thế. Bản tuyên ngôn độc lập Hoa Kỳ cách đây 231 năm (4/7/1776) và bộ luật dân quyền (Bill of Rights) thể hiện trong 10 Tu chính án đầu tiên của Hiếp pháp Hoa Kỳ đã thể hiện rõ suy nghĩ và tinh thần của các nhà lập pháp Hoa Kỳ thời đó. [6]
Nguyên tắc thứ tám là vấn đề áp dụng thi hành luật. Điều này, ngược lại các nguyên tắc đã nêu trên, ngờ vực công dân nghiêm chỉnh thi hành hay tuân thủ luật. Do đó, phải có các biện pháp kiểm tra xem công dân có thi hành trách nhiệm của mình hay không, và nếu cần thì phải áp dụng các biện pháp mang tính bắt buộc. Những ai không tôn trọng luật pháp đối với nhà nước hay với những công dân khác sẽ phải chịu các cơ quan như cảnh sát, công tố viên, người thu thuế v.v… áp lực tuân hành.
Nguyên tắc thứ chín là nhu cầu thông tin rộng mở. Cho đến nay, lịch sử nhân loại đã dạy một bài học vô cùng quan trọng rằng chúng ta, dù rất muốn đi chăng nữa, cũng không thể dễ dàng tin tưởng sự thành thật của mọi người và mọi định chế cho đến khi nào có đủ bằng chứng là thế. Do đó, chỉ có tranh luận công khai và minh bạch để quan điểm của mọi phiá được trình bày chi tiết và rõ ràng thì mới có thể tìm ra sự thật tương đối. Hơn nữa, không có nhà nước nào muốn để cho giới truyền thông có hoàn toàn quyền tự do hành nghề nên thường đưa ra các biện pháp kiểm duyệt hay giới hạn quyền lực của truyền thông. Tuy nhiên, cho đến nay, người ta đều thấy nhu cầu chống lại các chế độ kiểm duyệt, tuyên truyền, giáo điều, các chủ trương giới hạn quyền tự do thông tin ngôn luận, hay sự lường gạt thẳng thừng xảy ra trong giới quyền lực và với cả công dân. Thêm vào đó, người ta cũng thấy rằng việc bảo vệ và đề cao lòng khoan dung, tranh luận công khai, và sự tôn trọng đối với các cơ quan truyền thông đa dạng và độc lập là vô cùng cần thiết để bảo đảm nguyên tắc hành xử căn bản của nền dân chủ. Đó cũng là nhu cầu đi tìm sự thật, đi tìm sự thoả thuận và đồng thuận. Chính ngành “đệ tứ quyền” này, và tính cách độc lập của nó, mới bảo đảm được phần nào giá trị kiểm soát hiệu quả đối với sự lạm quyền, tính thiên vị hay phân biệt đối xử của mọi người và mọi định chế.
Nguyên tắc thứ mười là tính chính trị cộng đồng. Dân chủ mở rộng cơ hội cho khối quần chúng tham gia các hoạt động chính trị qua các tổ chức tự nguyện, dân sự và chính trị địa phương. Đây được xem là biện pháp để cân bằng lại các nhà nước hành chánh hay chủ yếu phục vụ chính mình và các guồng máy của mình. Do đó, các nhóm dân sự góp phần làm nở rộ nền dân chủ thường là các tổ chức bảo vệ người tiêu thụ, các công đoàn, nghiệp đoàn, các nhóm quyền lợi (interest groups), các nhóm vận động chính trị (lobbying groups) v.v.... Các tổ chức dân sự, dù chẳng ai giao phó, nhưng tự nhận lãnh trách nhiệm kiểm soát, quan sát, hay áp lực lên chính quyền bởi vì họ ngờ vực nhà nước và guồng máy của nó. Trong một số trường hợp, người ta ngờ vực rằng chính quyền mãi lo phục vụ cho các nhóm giòng chính, các nhóm cử tri ảnh hưởng lên lá phiếu quyết định nhưng lại quên đi thành phần dân chúng “thấp cổ bé miệng”, các thành phần cần được quan tâm hỗ trợ hay thành phần bị đẩy ra vòng biên (marginalised groups).
Nói tóm lại, theo Sztompka, người ta sẵn sàng tin tưởng vào định chế và người khác nếu các tổ chức xã hội đang hoạt động có thể bảo đảm họ khỏi bị sức mẻ hay khủng hoảng niềm tin. Tin thường đi đôi với rủi ro mà hậu quả nhiều khi không thể ngờ được. Do đó, khi càng nghi ngờ sự khả tín và khả thi của các định chế (nhà nước hay các cơ quan công quyền…) để tìm ra các biện pháp hiệu quả và thực tiễn chống lại sự độc quyền hay lạm quyền của những cá nhân hay định chế thì nền dân chủ xây dựng được sẽ bền vững hơn và dễ tạo ra văn hoá tin tưởng nhau (culture of trust). Một xã hội mà người dân tin tưởng nhau và tin tưởng các định chế là một xã hội lý tưởng bởi vì tin là yếu tố quan trọng đối với hiệu năng của lãnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội dân sự v.v… Tin là một giá trị có tiềm lực rất cao, được xem là một trong những yếu tố quan trọng nhất của vốn xã hội (social capital). Ba quốc gia có nền kinh tế hàng đầu của thế giới là Mỹ, Nhật, Đức… được đánh giá là có văn hoá tin tưởng cao hàng đầu (tuy rằng niềm tin tổng quát, tức generalised trust, tại Hoa Kỳ đã sút giảm đáng kể trong nửa thế kỷ qua, theo nhận xét của một số chuyên gia). [7] Tóm lại, tin tưởng và ngờ vực đều quan trọng và cần thiết như nhau để bảo đảm và phát huy dân chủ, dù thoạt nhìn thì trông có vẽ nghịch lý hay mâu thuẫn.
Nếu dựa vào mười nguyên tắc trên để lượng giá nền dân chủ Việt Nam thì chúng ta có thể thấy rằng: 1) tính hợp pháp hay chính đáng của nhà nước Việt Nam là rất thấp; 2) về tái bầu cử thì tuy có trên thực tế nhưng vẫn chủ yếu là đảng cử dân bầu chứ người dân không được tự do ứng cử; 3) về tam quyền phân lập hay cân bằng kiểm soát thì hầu như biểu kiến vì đảng cầm quyền chi phối cả ba ngành tư pháp, hành pháp và lập pháp, nếu không phải là mọi mặt chính trị và xã hội; 4) nền pháp trị thì vẫn còn rất tuỳ tiện bởi chính những nhà làm luật có tuân thủ hay tôn trọng nó đâu, còn toà án độc lập thì vẫn chủ yếu nghe theo mệnh lệnh của giới chính trị như đã từng thấy rất nhiều qua phiên xử các nhà dân chủ; 5) về tính hiến pháp hoá và phê bình pháp luật thì: khi chưa có một tiến trình đúng đắn thích hợp trong việc thi hành luật (nguyên tắc 6), khi người dân chưa có quyền thực sự (nguyên tắc 7), khi người dân chưa ý thức và chưa thấy những người khác tuân thủ pháp luật (nguyên tắc 8), khi chưa có hệ thống thông tin rộng mở và chưa có nền truyền thông tự do, độc lập (nguyên tắc 9), và khi chưa có một xã hội dân sự đúng nghĩa (nguyên tắc 10), thì hiến pháp hay giá trị pháp luật cũng chủ yếu là phương tiện để các thành phần có quyền lực và tiền bạc diễn giải hay sử dụng mà thôi. Nói cách khác, nền dân chủ tại Việt Nam hôm nay, nếu thử nghiệm trên các điều kiện này, thì khó thể nào đạt tiêu chuẩn đủ cho bất kỳ một nguyên tắc nào.
Một trong những hậu quả nghiêm trọng của sự thất bại chính trị tại Việt Nam, hiện thân bởi nền dân chủ giả hiệu bây giờ, là làm mất niềm tin. Không biết hồi xưa ra sao, chứ chỉ cần nhìn kỹ các hoạt động kinh tế, chính trị, văn hoá hay xã hội của mọi thành phần trong suốt 32 năm qua thì mức độ tin tưởng, hợp tác nhau chủ yếu vẫn là tượng trưng, biểu kiến. Ngược lại, mức độ từ nhẹ như nghi kỵ hay bất hợp tác cho đến nặng như chụp mũ hay đánh phá nhau, ngay cả đến từ khuynh hướng hay mục đích giống nhau, lại rất phổ biến.
Ở trong nước, người dân không thể tin nhau thì cũng không có gì khó hiểu cả bởi nhà nước Việt Nam chủ trương như thế, và áp dụng bao nhiêu thủ đoạn để bảo đảm kết quả là như thế. Từ lúc bắt đầu cầm quyền cho đến nay, họ đã cho ra đời không biết bao nhiêu thứ nghị quyết và nghị định, nào là về tôn giáo, truyền thông, hội họp, đi lại, v.v… hay Internet để chia (rẽ) cho dễ trị. Người dân phải đi qua không biết bao nhiêu thứ thủ tục rườm rà “xin cho”, đủ thấy sự kiểm soát chặt chẽ từng lời nói và hành vi của từng cá nhân trong xã hội đó. Nếu chỉ tụ tập mươi người mà còn không được, còn phải xin phép, dù với mục đích chính trị hay gì đi nữa, thì đủ biết mức độ lo ngại của chế độ về sự kết đoàn, kết hợp và tin tưởng của người dân như thế nào. Ngoài ra, khi tiềm lực của dân tộc đã cạn kiệt qua bao nhiêu cuộc chiến đã xảy ra và khi niềm tin của người dân đã bị tráo trở, lật lọng thì sự phục hồi niềm tin, nhất là trong lãnh vực chính trị và xã hội, đã trở thành yếu tố nhức nhối nhất trong công cuộc xây dựng dân chủ và phục hưng Việt Nam.
Xây dựng niềm tin là cả một quá trình lâu dài, bền bĩ và nhất là phải đồng tâm và thành tâm. Không có cách tắt nào để xây dựng niềm tin, bởi làm không khéo thì sẽ “dục tốc bất đạt”. Ngờ vực là cần thiết để bảo đảm và phát huy dân chủ, nhưng xây dựng dân chủ luôn cần sự tin tưởng của mọi thành phần dân tộc vào mục tiêu chung, vào hiến pháp, vào nền tảng công lý, vào định chế xã hội v.v…
Hơn bao giờ hết, các phong trào dân chủ cần nỗ lực hơn nữa để xây dựng niềm tin và tinh thần hướng thượng cho tương lai Việt Nam. Không tin tưởng nhau thì khó thể nào hợp tác, dù là ngắn hạn, khoan nói đến hợp tác lâu dài. Thiếu sự kết hợp chặt chẽ và lâu dài thì khó thể nào hoàn thành việc trọng đại. Sức mạnh sẽ đến khi nào các phong trào dân chủ tin nhau và hợp tác với nhau bằng những hành động thành tâm và sáng suốt của mình; và trên hết, biến sự ngờ vực thành nỗ lực xây dựng khung sườn chung cho tiến trình dân chủ hoá để người dân bớt hoang mang về thứ “dân chủ giả hiệu”. Nói tóm lại, chỉ khi nào người dân dành sự tin tưởng cho phong trào dân chủ thay vì “bán tin bán nghi” vào chế độ độc tài thì công cuộc xây dựng dân chủ và canh tân Việt Nam hẳn sẽ có nhiều hứa hẹn tích cực.
Melbourne 4/7/2007
--------------------------------------------------------------------------------
[1]Xin đọc tác phẩm Phong trào Duy Tân của Nguyễn Văn Xuân, Lá Bối in lần thứ nhất 1970, Sài Gòn, Việt Nam.
[2]Xin đọc Nhà nước và Cách mạng của V.I. Lenin (The State and Revolution, Selected Works, In Three Volumes, Vol 2, Progress Publishers, Moscow 1970), trang 289-362.
[3]Theo Lênin, giai đoạn thứ ba là cộng sản, là thời điểm cao nhất, tột đỉnh của nhân loại, và lúc này không còn Nhà nước gì nữa. Lenin cho rằng người ta đã rất quen với các điều lệ căn bản trong nếp sống xã hội nên họ không cần các biện pháp cưỡng bức nữa. Năng suất lao động của thời kỳ này đã trở nên quá hiệu quả nên con người chỉ cần tình nguyện “làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu”. Ông hình dung, hay nói đúng hơn, là tưởng tượng ra một xã hội hài hoà, hạnh phúc, đầy đủ vật chất đến độ con người không cần phải lo âu một thứ gì bởi vì luôn luôn có đầy đủ nên không cần lấy hơn những gì mình cần. Ông cũng nhấn mạnh đến những thay đổi cần có trong đầu con người, tức là ý thức cần có để có thể đem lại một xã hội giống cộng sản như thế.
[4]Xin đọc bài của giáo sư Ralph Pettman, ‘World Politics: an overview’, (Unpub.), 2007, trang 13.
[5]Xin đọc Tín: một lý thuyết xã hội học của Piotr Sztompka (Trust: A Socialogical Theory, Cambridge, Cambridge University Press, 1999), trang 139-143.
[6]Ngày 4 tháng 7 năm nay đánh dấu kỷ niệm lần thứ 231 ngày tuyên ngôn độc lập (TNĐL) của Hoa Kỳ. Thomas Jefferson, người soạn thảo bản tuyên ngôn này, hay John Locke, triết gia được xem là có tư tưởng chính trị ảnh hưởng nhất lên các nhà lập quốc, Tuyên ngôn độc lập cũng như Hiến Pháp Hoa Kỳ, đều thuộc trường phái chủ nghĩa phóng khoáng (liberalism). Cốt yếu của tư tưởng chính trị của CNPK thể hiện trong Tuyên ngôn độc lập là: mọi người được sinh ra bình đẳng, được tạo hoá ban cho những quyền bất khả chuyển nhượng, trong số đó có quyền được sống, tự do và mưu cầu hạnh phúc; tuy nhiên, để bảo đảm các quyền này, người dân thành lập nên chính phủ và trao cho chính phủ quyền đại diện để điều hành đất nước; khi nào chính phủ không còn phục vụ cho các mục tiêu trên thì người dân có quyền thay đổi hay huỷ bỏ nó và thành lập chính phủ mới để bảo đảm sự an toàn và hạnh phúc của họ. Đến năm 1789, Hiến Pháp Hoa Kỳ mới được chính thức thông qua, và 2 năm sau đó (1891), Bộ luật dân quyền (Bill of Rights) đã được bổ sung vào hiến pháp thành 10 Tu chánh án đầu tiên.
[7]Hy vọng trong tương lai gần, tôi có thời gian để viết một bài riêng về đề tài Tin hay Tín. Muốn tìm hiểu thêm đề tài này, xin đọc các bài viết của Francis Fukuyama hay Robert D. Putnam. Fukuyama, Francis, ‘Confucianism and Democracy’, Journal of Democracy, Vol. 6, No. 2, April 1995b, pp. 20-33; Fukuyama, Francis, Trust: The Social Virtues and the Creation of Prosperity, New York, Simon & Schuster, 1995c.; Fukuyama, Francis, ‘Social Capital and Development: The Coming Agenda’, SAIS Review, Vol. XXII, No. 1, Winter-Spring, 2002, pp. 23-37; Putnam, Robert D., "The Prosperous Community: Social Capital and Public Life," American Prospect, Vol. 13, 1993, pp. 35-42; Putnam, Robert D., ‘Bowling alone: America’s declining social capital’ Journal of Democracy, Vol. 6, No.1, 1995, 65-78.
Có thể hiểu một cách đơn giản và khái quát rằng dân chủ nghĩa là dân làm chủ. Nhưng nếu chỉ nói chung chung như thế thì dễ quá, bởi các chế độ độc tài chuyên chính cũng dám tự xưng một cách không thẹn thùng là dân chủ gấp ngàn lần chế độ dân chủ tư bản. Cho nên câu hỏi cần đặt ra là: dân làm chủ bằng cách nào, hay làm thế nào để bảo đảm dân làm chủ?
Để dân có thể làm chủ đất nước thì dân phải có quyền, bởi nếu dân không có quyền, làm gì cũng phải xin phép, thì dân là nô lệ chứ chẳng phải làm chủ. Vì dân quyền là điều kiện quan trọng của nền dân chủ nên công cuộc đấu tranh đòi dân quyền của phong trào Duy tân, lãnh đạo bởi các cụ Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp v.v… vào đầu thế kỷ 20, có thể được xem là phong trào đấu tranh cho tự do, dân chủ đầu tiên tại Việt Nam. [1]
Nhưng để dân chủ hoạt động hữu hiệu và chính đáng đòi hỏi nhiều hơn dân quyền. Điểm khác biệt cơ bản trong ý niệm dân chủ của trường phái chuyên chế - cộng sản (điển hình là tư tưởng Mác, Lênin) và trường phái tự do - phóng khoáng (điển hình là tư tưởng Hobbes, Locke) là một bên tin tưởng gần như tuyệt đối vào một giai cấp lãnh đạo chính trị, ít nhất ở giai đoạn đầu của cuộc cách mạng; trong khi đó, bên kia lại luôn ngờ vực lãnh đạo chính trị ở mọi giai đoạn, ngờ vực quyền lực tập trung, và nhìn rõ những giới hạn lẫn tác hại khi người ta nắm quá nhiều quyền lực trong tay.
Đối với khuynh hướng “cộng sản”, điển hình qua tác phẩm Nhà nước và Cách mạng của Lênin, [2] thì dân chủ kiểu tư bản là dân chủ cho thiểu số, cho giai cấp tư sản, trong khi đó người dân không được tham dự vào các hoạt động quan trọng của xã hội. Cả Mác lẫn Lênin đều cho rằng khi nhà nước tàn lụi, nghĩa là không còn chính phủ nữa (tức vô chính phủ), thì đó là chế độ cộng sản ở mức cao nhất, và lúc đó mới là nền dân chủ đích thực. Trong tác phẩm này, Lênin vạch ra ba giai đoạn cho cuộc cách mạng vô sản (trong khi Mác không vạch ra ba giai đoạn rõ rệt như Lênin): thứ nhất là hình thành chuyên chính vô sản; thứ hai là hình thành xã hội chủ nghĩa, tức giai đoạn chuyển tiếp giữa tư bản sang cộng sản; và thứ ba là giai đoạn cộng sản, tức thời điểm mà không còn chính phủ (hay nhà nước) nữa. [3] Trên thực tế thì chuyên chính vô sản tại tất cả các nước theo đường lối này không bao giờ chịu bỏ quyền lực của mình, chỉ giỏi hô hào chứ không thật sự tiến bao nhiêu lên xã hội chủ nghĩa hay cộng sản chủ nghĩa như Mác và Lênin tưởng tượng. Còn nhà nước thì không tan biến mà còn phình ra và chiếm lĩnh mọi mặt xã hội kiểu độc tài toàn trị. Sự sai lầm lớn lao này là do các nhà Mác-xít đã quanh quẩn trong khung sườn suy nghĩ của duy vật biện chứng mà xem nhẹ bao nhiêu yếu tố quan trọng khác về bản chất con người, trong đó quyền lực là một yếu tố cơ bản tác động hay chỉ đạo hành động con người trong chính trị. Thêm vào đó, đối với cộng sản, quan điểm cho rằng còn tư hữu các phương tiện sản xuất là còn bóc lột thì lại được xem như là chân lý tuyệt đối, do đó để được tự do và không còn bóc lột thì phải tiêu diệt giai cấp tư sản bằng mọi giá. Với những suy nghĩ như thế, xã hội do những người tự xưng là cộng sản biến thành trong suốt thế kỷ 20 đã mang đầy những đặc tính cách mạng bạo lực và cực kỳ phản động.
Điều quan trọng cần suy nghĩ rốt ráo khác là rằng chế độ cộng sản và các nhà Mác-xít, từ trong bản chất, nghĩa là từ trong tư tưởng của họ, không thật sự tin tưởng vào nhân quyền hay dân chủ gì cả. Họ xem việc cân bằng quyền lực, “bàn tay vô hình” (tức kinh tế thị trường, ý niệm xuất phát từ Adam Smith), nhân quyền, dân chủ toàn cầu v.v… chẳng qua là màn hoả mù hay bình phong che dấu bản chất bóc lột của chế độ tư bản mà các hệ thống tân đế quốc hay tân thực dân hôm nay đại diện. [4]
Đối với khuynh hướng “tư bản”, người ta không còn ngây thơ gì với quyền lực cả, bởi lịch sử đã cho họ những bài học đáng nhớ đời rồi. Đam mê quyền lực, tham nhũng, bè phái, thủ cựu, thủ đoạn, ích kỷ v.v… là các đặc tính con người nơi đâu cũng có, sắc dân nào cũng có, đặc biệt trong hoạt động chính trị. Thêm vào đó, tin hay không tin vào một chính thể chẳng qua là hai mặt của cùng một vấn đề chính trị. Một mặt, người ta biết rằng nếu không tin vào thể chế chính trị nào thì khó thể làm cho nó hoạt động hữu hiệu và tồn tại. Mặt khác, người ta cũng biết rằng nếu quá tin vào một thể chế chính trị mà không có biện pháp hay cơ chế (mechanism) gì để bảo đảm, đo lường hay phối kiểm hành động của thành phần lãnh đạo thì trước sau gì nó cũng chỉ đưa đến sự suy vong mà thôi. Nói cách khác, trong chính trị, tin tưởng là cần thiết, nhưng chưa đủ, bởi không phải chỉ có một loại người làm chính trị tốt mà còn có các thành phần xấu hay tính toán. Ngoài ra, chính trị không chỉ là về vấn đề kinh tế mà chính trị liên hệ trực tiếp và toàn diện đến mọi mặt đời sống. Cho nên, đối với ngay cả hạng người tốt làm chính trị thì chắc gì họ có thể thi hành những điều cam kết bởi vì họ cũng phải lệ thuộc ở bao nhiêu người khác vào sự liên hệ và đan kết chằng chịt nhau. Nhìn bản chất như thế, người ta cũng không ngây thơ tin rằng dân chủ sẽ là lời giải cho mọi vấn đề, là thần dược cho các bệnh nan y trong chính trị. Do đó, những nhà tiên phong xây dựng chính thể dân chủ hiện đại đã đặt nền tảng cơ bản của dân chủ vào sự ngờ vực mọi quyền lực. Tuy nhiên, không phải vì thế mà người ta trở nên bi quan hay ngờ vực mọi thứ, nhưng họ chỉ không tin vào cái gì tuyệt đối, và họ muốn khẳng định thực tế rằng thà bắt đầu với cái tương đối làm nền tảng để vươn tới kết quả tốt nhất có thể được. Nói tóm lại, để xây dựng một nền dân chủ bền vững, nguyên tắc dân chủ được xây dựng chính từ sự ngờ vực đã được định chế hoá (institutionalised distrust), nghĩa là các định chế phải được xây dựng từ sự ngờ vực mà phát triển. Nói theo kiểu Việt Nam, tinh thần dân chủ là “thà mất lòng trước, được lòng sau”, để mà còn có thể “ăn chắc, mặt bền”, còn hơn là “mất cả chì lẫn chài”. Nói cách khác nữa, thà đến với nhau bằng sự ngờ vực cho đến khi nào các ngờ vực được giải toả, lúc đó sự tin tưởng sẽ đến và có giá trị hơn. Tóm lại, niềm tin vào tính chính đáng của dân chủ, một yếu tố quan yếu của nguyên tắc dân chủ, là việc định chế hoá sự ngờ vực vào kiến trúc của nền dân chủ.
Giáo sư Piotr Sztompka [5] liệt kê 10 nguyên tắc dân chủ dựa trên sự ngờ vực được định chế hoá này. Nguyên tắc thứ nhất của dân chủ đòi hỏi tính hợp pháp và chính đáng của mọi quyền lực, điều đó cho thấy chính nghĩa là nguyên tố quan trọng hàng đầu của dân chủ. Do đó, chỉ khi nào quyền lực được chứng minh là xuất phát từ ý nguyện của người dân, hơn nữa, khi nào những vị dân cử này đáp ứng được nguyện vọng của dân chúng, thì chính quyền đó mới có chính nghĩa. Nhưng ngay cả như thế, sự ngờ vực chưa hẳn biến đi bởi chính trị luôn có ẩn số, không phải lúc nào cũng minh bạch, phân định rõ ràng.
Nguyên tắc thứ hai là về tái bầu cử và thời hạn của nhiệm kỳ. Vấn đề “cha truyền con nối” hay bất hạn định nhiệm kỳ như thời xưa nay không còn ai chấp nhận nữa (riêng đối với 9 thẩm phán tối cao của Hoa Kỳ thì nhiệm kỳ là bất hạn định). Nguyên tắc này cho thấy nền dân chủ ngờ vực những người đang cầm quyền không có tinh thần sẵn sàng tự nguyện từ bỏ quyền lực của mình. Thêm vào đó, vấn đề được tín nhiệm hay tái tín nhiệm phải được đánh giá trên khả năng và viễn kiến của người tranh cử, hay thành quả và trách nhiệm đạt được mỗi kỳ của người đương nhiệm. Mỗi kỳ bầu cử là một thử thách mới, cần sáng kiến mới, cần tư tưởng chỉ đạo đường dài và thực tiễn trong lúc xã hội ít nhiều thay đổi với thời gian; hơn nữa, bầu cử là phương thức tuyển chọn người tài, và chỉ có sự cạnh tranh tự do, minh bạch và bình đẳng mới bảo đảm được phần nào các sự chọn lựa thích đáng.
Nguyên tắc thứ ba là tam quyền phân lập, kiểm soát và cân bằng, và sự giới hạn quyền hành của mỗi định chế (như có đề cập trong bài “Ý niệm tự do”). Điều này cho thấy sự ngờ vực đối với các định chế thể hiện rõ, thí dụ, cả ba ngành tư pháp, hành pháp và lập pháp tại Hoa Kỳ luôn chủ trương mở rộng quyền hành của mình, tất nhiên ở trong vòng hiến pháp. Do đó, nếu không có sự kiểm soát và cân bằng của các ngành khác thì sự độc quyền hay lạm quyền là điều tất yếu xảy ra.
Nguyên tắc thứ tư là nền pháp trị (the rule of law) và các toà án độc lập. Nghĩa rằng mọi người, từ công dân bình thường đến lãnh đạo chính trị hàng đầu (mọi thành viên của ba ngành tư pháp, hành pháp và lập pháp), đều được đối xử giống nhau trước pháp luật. Điều này cho thấy dân chủ ngờ vực các thái độ tuỳ tiện, lạm dụng, thiên vị hay những hành động lầm đường lạc lối, cho nên dân chủ yêu cầu mọi công dân và mọi định chế phải tuân thủ khung sườn luật pháp chung. Nhưng để bảo đảm rằng luật pháp đứng trên mọi cá nhân và định chế, nhiều biện pháp phòng vệ khác nhau được bắt buộc thi hành với mục tiêu bảo đảm sự độc lập, tính khách quan, và không thiên vị của toà án và pháp luật. Tất cả các biện pháp phòng hờ này cốt yếu là để tạo niềm tin rộng rãi của dân chúng vào tính minh bạch và công bằng của pháp luật.
Nguyên tắc thứ năm là tính hiến pháp hoá (constitutionalism) và sự xét lại hay phê bình pháp luật (judicial review) khi thích hợp. Điều này cho thấy sự ngờ vực đối với các cơ quan lập pháp. Thí dụ, họ có thể bẻ cong pháp luật để hỗ trợ quyền lợi cụ thể nào đó hay thay đổi pháp luật vì cơ hội chủ nghĩa. Vì thế, phải có các điều luật căn bản để ngăn ngừa sự thay đổi pháp luật một cách tuỳ tiện hay dễ dãi. Ngoài ra, các định chế bảo vệ và hỗ trợ hiến pháp, thí dụ các toà án tối cao hay toà án hiến pháp, mới có thẩm quyền để diễn giải hay bắt tuân theo mệnh lệnh pháp luật, đặc biệt khi có những tranh chấp liên hệ trực tiếp đến vấn đề hợp hiến hay không.
Nguyên tắc thứ sáu là tiến trình đúng đắn, thích hợp (due process). Hậu quả của một quyết định chính trị có đúng đắn hay không phần lớn đến từ việc thực hiện đúng đắn tiến trình minh bạch và dân chủ được quy định trong nguyên tắc hay thủ tục được công nhận. Không phải ai cũng tuân thủ các thủ tục hay nguyên tắc này, ngay cả trong các thể chế được xem là rất dân chủ. Do đó, người ta ngờ vực cả các cơ quan thi hành luật và phân xử luôn cả các định chế này. Các toà án cũng không nằm ngoài nghi vấn về tính thiên vị hay cẩu thả của họ. Vì thế, người ta có quyền kháng án đối với các định chế, và thỉnh thoảng có thể kháng án nhiều lần, cho đến khi quyết định trở thành có giá trị và bắt buộc.
Nguyên tắc thứ bảy là sự tôn trọng và bảo đảm dân quyền. Như đã nói trên, nếu người dân không có quyền thì chẳng thể gọi nền dân chủ đó là đích thực. Người ta ngờ vực thiện chí của giới chức có thẩm quyền trong việc đáp ứng nhu cầu và quyền lợi của công dân. Hơn nữa, công dân có thể bị sách nhiễu bởi giới có quyền lực. Chính vì thế nên người ta đòi hỏi các biện pháp có thể đo lường trách nhiệm của giới thẩm quyền, đòi hỏi các nhu cầu của họ được thoả mãn, và bảo vệ họ để khỏi bị giới chính trị lạm dụng. Để làm việc này thì người dân phải có quyền, và quyền của họ phải được bảo vệ tối đa trong hiến pháp. Do đó, bảo đảm các quyền dân sự trong hiến pháp, mở rộng nhu cầu để người dân có thể kiện tụng cả các định chế công cộng, thành lập các văn phòng để các nhân viên thanh tra độc lập kiểm soát việc làm của nhân viên nhà nước… Đối với một số quốc gia, người ta có thể trực tiếp kiện tụng tính hợp pháp của chính quyền. Dân quyền, trong ý nghĩa này, là để bảo vệ và khuyến khích người dân trực tiếp sử dụng quyền công dân của mình để khi nhà nước không thi hành những gì họ cam kết thì họ sẽ bị người dân thay thế. Bản tuyên ngôn độc lập Hoa Kỳ cách đây 231 năm (4/7/1776) và bộ luật dân quyền (Bill of Rights) thể hiện trong 10 Tu chính án đầu tiên của Hiếp pháp Hoa Kỳ đã thể hiện rõ suy nghĩ và tinh thần của các nhà lập pháp Hoa Kỳ thời đó. [6]
Nguyên tắc thứ tám là vấn đề áp dụng thi hành luật. Điều này, ngược lại các nguyên tắc đã nêu trên, ngờ vực công dân nghiêm chỉnh thi hành hay tuân thủ luật. Do đó, phải có các biện pháp kiểm tra xem công dân có thi hành trách nhiệm của mình hay không, và nếu cần thì phải áp dụng các biện pháp mang tính bắt buộc. Những ai không tôn trọng luật pháp đối với nhà nước hay với những công dân khác sẽ phải chịu các cơ quan như cảnh sát, công tố viên, người thu thuế v.v… áp lực tuân hành.
Nguyên tắc thứ chín là nhu cầu thông tin rộng mở. Cho đến nay, lịch sử nhân loại đã dạy một bài học vô cùng quan trọng rằng chúng ta, dù rất muốn đi chăng nữa, cũng không thể dễ dàng tin tưởng sự thành thật của mọi người và mọi định chế cho đến khi nào có đủ bằng chứng là thế. Do đó, chỉ có tranh luận công khai và minh bạch để quan điểm của mọi phiá được trình bày chi tiết và rõ ràng thì mới có thể tìm ra sự thật tương đối. Hơn nữa, không có nhà nước nào muốn để cho giới truyền thông có hoàn toàn quyền tự do hành nghề nên thường đưa ra các biện pháp kiểm duyệt hay giới hạn quyền lực của truyền thông. Tuy nhiên, cho đến nay, người ta đều thấy nhu cầu chống lại các chế độ kiểm duyệt, tuyên truyền, giáo điều, các chủ trương giới hạn quyền tự do thông tin ngôn luận, hay sự lường gạt thẳng thừng xảy ra trong giới quyền lực và với cả công dân. Thêm vào đó, người ta cũng thấy rằng việc bảo vệ và đề cao lòng khoan dung, tranh luận công khai, và sự tôn trọng đối với các cơ quan truyền thông đa dạng và độc lập là vô cùng cần thiết để bảo đảm nguyên tắc hành xử căn bản của nền dân chủ. Đó cũng là nhu cầu đi tìm sự thật, đi tìm sự thoả thuận và đồng thuận. Chính ngành “đệ tứ quyền” này, và tính cách độc lập của nó, mới bảo đảm được phần nào giá trị kiểm soát hiệu quả đối với sự lạm quyền, tính thiên vị hay phân biệt đối xử của mọi người và mọi định chế.
Nguyên tắc thứ mười là tính chính trị cộng đồng. Dân chủ mở rộng cơ hội cho khối quần chúng tham gia các hoạt động chính trị qua các tổ chức tự nguyện, dân sự và chính trị địa phương. Đây được xem là biện pháp để cân bằng lại các nhà nước hành chánh hay chủ yếu phục vụ chính mình và các guồng máy của mình. Do đó, các nhóm dân sự góp phần làm nở rộ nền dân chủ thường là các tổ chức bảo vệ người tiêu thụ, các công đoàn, nghiệp đoàn, các nhóm quyền lợi (interest groups), các nhóm vận động chính trị (lobbying groups) v.v.... Các tổ chức dân sự, dù chẳng ai giao phó, nhưng tự nhận lãnh trách nhiệm kiểm soát, quan sát, hay áp lực lên chính quyền bởi vì họ ngờ vực nhà nước và guồng máy của nó. Trong một số trường hợp, người ta ngờ vực rằng chính quyền mãi lo phục vụ cho các nhóm giòng chính, các nhóm cử tri ảnh hưởng lên lá phiếu quyết định nhưng lại quên đi thành phần dân chúng “thấp cổ bé miệng”, các thành phần cần được quan tâm hỗ trợ hay thành phần bị đẩy ra vòng biên (marginalised groups).
Nói tóm lại, theo Sztompka, người ta sẵn sàng tin tưởng vào định chế và người khác nếu các tổ chức xã hội đang hoạt động có thể bảo đảm họ khỏi bị sức mẻ hay khủng hoảng niềm tin. Tin thường đi đôi với rủi ro mà hậu quả nhiều khi không thể ngờ được. Do đó, khi càng nghi ngờ sự khả tín và khả thi của các định chế (nhà nước hay các cơ quan công quyền…) để tìm ra các biện pháp hiệu quả và thực tiễn chống lại sự độc quyền hay lạm quyền của những cá nhân hay định chế thì nền dân chủ xây dựng được sẽ bền vững hơn và dễ tạo ra văn hoá tin tưởng nhau (culture of trust). Một xã hội mà người dân tin tưởng nhau và tin tưởng các định chế là một xã hội lý tưởng bởi vì tin là yếu tố quan trọng đối với hiệu năng của lãnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội dân sự v.v… Tin là một giá trị có tiềm lực rất cao, được xem là một trong những yếu tố quan trọng nhất của vốn xã hội (social capital). Ba quốc gia có nền kinh tế hàng đầu của thế giới là Mỹ, Nhật, Đức… được đánh giá là có văn hoá tin tưởng cao hàng đầu (tuy rằng niềm tin tổng quát, tức generalised trust, tại Hoa Kỳ đã sút giảm đáng kể trong nửa thế kỷ qua, theo nhận xét của một số chuyên gia). [7] Tóm lại, tin tưởng và ngờ vực đều quan trọng và cần thiết như nhau để bảo đảm và phát huy dân chủ, dù thoạt nhìn thì trông có vẽ nghịch lý hay mâu thuẫn.
Nếu dựa vào mười nguyên tắc trên để lượng giá nền dân chủ Việt Nam thì chúng ta có thể thấy rằng: 1) tính hợp pháp hay chính đáng của nhà nước Việt Nam là rất thấp; 2) về tái bầu cử thì tuy có trên thực tế nhưng vẫn chủ yếu là đảng cử dân bầu chứ người dân không được tự do ứng cử; 3) về tam quyền phân lập hay cân bằng kiểm soát thì hầu như biểu kiến vì đảng cầm quyền chi phối cả ba ngành tư pháp, hành pháp và lập pháp, nếu không phải là mọi mặt chính trị và xã hội; 4) nền pháp trị thì vẫn còn rất tuỳ tiện bởi chính những nhà làm luật có tuân thủ hay tôn trọng nó đâu, còn toà án độc lập thì vẫn chủ yếu nghe theo mệnh lệnh của giới chính trị như đã từng thấy rất nhiều qua phiên xử các nhà dân chủ; 5) về tính hiến pháp hoá và phê bình pháp luật thì: khi chưa có một tiến trình đúng đắn thích hợp trong việc thi hành luật (nguyên tắc 6), khi người dân chưa có quyền thực sự (nguyên tắc 7), khi người dân chưa ý thức và chưa thấy những người khác tuân thủ pháp luật (nguyên tắc 8), khi chưa có hệ thống thông tin rộng mở và chưa có nền truyền thông tự do, độc lập (nguyên tắc 9), và khi chưa có một xã hội dân sự đúng nghĩa (nguyên tắc 10), thì hiến pháp hay giá trị pháp luật cũng chủ yếu là phương tiện để các thành phần có quyền lực và tiền bạc diễn giải hay sử dụng mà thôi. Nói cách khác, nền dân chủ tại Việt Nam hôm nay, nếu thử nghiệm trên các điều kiện này, thì khó thể nào đạt tiêu chuẩn đủ cho bất kỳ một nguyên tắc nào.
Một trong những hậu quả nghiêm trọng của sự thất bại chính trị tại Việt Nam, hiện thân bởi nền dân chủ giả hiệu bây giờ, là làm mất niềm tin. Không biết hồi xưa ra sao, chứ chỉ cần nhìn kỹ các hoạt động kinh tế, chính trị, văn hoá hay xã hội của mọi thành phần trong suốt 32 năm qua thì mức độ tin tưởng, hợp tác nhau chủ yếu vẫn là tượng trưng, biểu kiến. Ngược lại, mức độ từ nhẹ như nghi kỵ hay bất hợp tác cho đến nặng như chụp mũ hay đánh phá nhau, ngay cả đến từ khuynh hướng hay mục đích giống nhau, lại rất phổ biến.
Ở trong nước, người dân không thể tin nhau thì cũng không có gì khó hiểu cả bởi nhà nước Việt Nam chủ trương như thế, và áp dụng bao nhiêu thủ đoạn để bảo đảm kết quả là như thế. Từ lúc bắt đầu cầm quyền cho đến nay, họ đã cho ra đời không biết bao nhiêu thứ nghị quyết và nghị định, nào là về tôn giáo, truyền thông, hội họp, đi lại, v.v… hay Internet để chia (rẽ) cho dễ trị. Người dân phải đi qua không biết bao nhiêu thứ thủ tục rườm rà “xin cho”, đủ thấy sự kiểm soát chặt chẽ từng lời nói và hành vi của từng cá nhân trong xã hội đó. Nếu chỉ tụ tập mươi người mà còn không được, còn phải xin phép, dù với mục đích chính trị hay gì đi nữa, thì đủ biết mức độ lo ngại của chế độ về sự kết đoàn, kết hợp và tin tưởng của người dân như thế nào. Ngoài ra, khi tiềm lực của dân tộc đã cạn kiệt qua bao nhiêu cuộc chiến đã xảy ra và khi niềm tin của người dân đã bị tráo trở, lật lọng thì sự phục hồi niềm tin, nhất là trong lãnh vực chính trị và xã hội, đã trở thành yếu tố nhức nhối nhất trong công cuộc xây dựng dân chủ và phục hưng Việt Nam.
Xây dựng niềm tin là cả một quá trình lâu dài, bền bĩ và nhất là phải đồng tâm và thành tâm. Không có cách tắt nào để xây dựng niềm tin, bởi làm không khéo thì sẽ “dục tốc bất đạt”. Ngờ vực là cần thiết để bảo đảm và phát huy dân chủ, nhưng xây dựng dân chủ luôn cần sự tin tưởng của mọi thành phần dân tộc vào mục tiêu chung, vào hiến pháp, vào nền tảng công lý, vào định chế xã hội v.v…
Hơn bao giờ hết, các phong trào dân chủ cần nỗ lực hơn nữa để xây dựng niềm tin và tinh thần hướng thượng cho tương lai Việt Nam. Không tin tưởng nhau thì khó thể nào hợp tác, dù là ngắn hạn, khoan nói đến hợp tác lâu dài. Thiếu sự kết hợp chặt chẽ và lâu dài thì khó thể nào hoàn thành việc trọng đại. Sức mạnh sẽ đến khi nào các phong trào dân chủ tin nhau và hợp tác với nhau bằng những hành động thành tâm và sáng suốt của mình; và trên hết, biến sự ngờ vực thành nỗ lực xây dựng khung sườn chung cho tiến trình dân chủ hoá để người dân bớt hoang mang về thứ “dân chủ giả hiệu”. Nói tóm lại, chỉ khi nào người dân dành sự tin tưởng cho phong trào dân chủ thay vì “bán tin bán nghi” vào chế độ độc tài thì công cuộc xây dựng dân chủ và canh tân Việt Nam hẳn sẽ có nhiều hứa hẹn tích cực.
Melbourne 4/7/2007
--------------------------------------------------------------------------------
[1]Xin đọc tác phẩm Phong trào Duy Tân của Nguyễn Văn Xuân, Lá Bối in lần thứ nhất 1970, Sài Gòn, Việt Nam.
[2]Xin đọc Nhà nước và Cách mạng của V.I. Lenin (The State and Revolution, Selected Works, In Three Volumes, Vol 2, Progress Publishers, Moscow 1970), trang 289-362.
[3]Theo Lênin, giai đoạn thứ ba là cộng sản, là thời điểm cao nhất, tột đỉnh của nhân loại, và lúc này không còn Nhà nước gì nữa. Lenin cho rằng người ta đã rất quen với các điều lệ căn bản trong nếp sống xã hội nên họ không cần các biện pháp cưỡng bức nữa. Năng suất lao động của thời kỳ này đã trở nên quá hiệu quả nên con người chỉ cần tình nguyện “làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu”. Ông hình dung, hay nói đúng hơn, là tưởng tượng ra một xã hội hài hoà, hạnh phúc, đầy đủ vật chất đến độ con người không cần phải lo âu một thứ gì bởi vì luôn luôn có đầy đủ nên không cần lấy hơn những gì mình cần. Ông cũng nhấn mạnh đến những thay đổi cần có trong đầu con người, tức là ý thức cần có để có thể đem lại một xã hội giống cộng sản như thế.
[4]Xin đọc bài của giáo sư Ralph Pettman, ‘World Politics: an overview’, (Unpub.), 2007, trang 13.
[5]Xin đọc Tín: một lý thuyết xã hội học của Piotr Sztompka (Trust: A Socialogical Theory, Cambridge, Cambridge University Press, 1999), trang 139-143.
[6]Ngày 4 tháng 7 năm nay đánh dấu kỷ niệm lần thứ 231 ngày tuyên ngôn độc lập (TNĐL) của Hoa Kỳ. Thomas Jefferson, người soạn thảo bản tuyên ngôn này, hay John Locke, triết gia được xem là có tư tưởng chính trị ảnh hưởng nhất lên các nhà lập quốc, Tuyên ngôn độc lập cũng như Hiến Pháp Hoa Kỳ, đều thuộc trường phái chủ nghĩa phóng khoáng (liberalism). Cốt yếu của tư tưởng chính trị của CNPK thể hiện trong Tuyên ngôn độc lập là: mọi người được sinh ra bình đẳng, được tạo hoá ban cho những quyền bất khả chuyển nhượng, trong số đó có quyền được sống, tự do và mưu cầu hạnh phúc; tuy nhiên, để bảo đảm các quyền này, người dân thành lập nên chính phủ và trao cho chính phủ quyền đại diện để điều hành đất nước; khi nào chính phủ không còn phục vụ cho các mục tiêu trên thì người dân có quyền thay đổi hay huỷ bỏ nó và thành lập chính phủ mới để bảo đảm sự an toàn và hạnh phúc của họ. Đến năm 1789, Hiến Pháp Hoa Kỳ mới được chính thức thông qua, và 2 năm sau đó (1891), Bộ luật dân quyền (Bill of Rights) đã được bổ sung vào hiến pháp thành 10 Tu chánh án đầu tiên.
[7]Hy vọng trong tương lai gần, tôi có thời gian để viết một bài riêng về đề tài Tin hay Tín. Muốn tìm hiểu thêm đề tài này, xin đọc các bài viết của Francis Fukuyama hay Robert D. Putnam. Fukuyama, Francis, ‘Confucianism and Democracy’, Journal of Democracy, Vol. 6, No. 2, April 1995b, pp. 20-33; Fukuyama, Francis, Trust: The Social Virtues and the Creation of Prosperity, New York, Simon & Schuster, 1995c.; Fukuyama, Francis, ‘Social Capital and Development: The Coming Agenda’, SAIS Review, Vol. XXII, No. 1, Winter-Spring, 2002, pp. 23-37; Putnam, Robert D., "The Prosperous Community: Social Capital and Public Life," American Prospect, Vol. 13, 1993, pp. 35-42; Putnam, Robert D., ‘Bowling alone: America’s declining social capital’ Journal of Democracy, Vol. 6, No.1, 1995, 65-78.
Một cuộc Cải Cách Ruộng Đất mới
Phan Văn Song
Việt Nam ngày nay: Đảng cộng sản thực thi một cuộc cải cách ruộng đất mới: Đuổi nhà, cướp đất của nhân dân
Nhắc đến miền Nam, Nguyễn khắc Toàn viết: "... Mô hình chế độ chính trị Nhà Nước Việt Nam Cộng Hòa trước đây, khi ở miền Bắc tôi đã được tuyên truyền rằng, đó là một loại hình thức chủ nghĩa thực dân kiểu mới do đế quốc Mỹ dựng lên và làm bàn đạp để tiến công miền Bắc và phe xã hội chủ nghĩa (XHCN) do Liên Xô và Trung Quốc là những nước đứng đầu. Và các cơ quan tuyên truyền của miền Bắc còn nói về kinh tế của miền Nam Việt Nam là thị trường để tiêu thụ hàng hóa tư bản ế thừa của các nước phương Tây. Ðây cũng là nơi Mỹ và các đế quốc nước ngoài vơ vét tài nguyên bóc lột sức lao động rẻ mạt của nhân dân về văn hóa, xã hội, giáo dục... thì mảnh đất màu mỡ ở miền Nam Việt Nam là nơi để gieo mầm nô dịch của đế quốc, ngoại bang nảy nở phát triển. Trên báo, đài phát thanh, sách vở giao khoa dạy trong các trường học ở miền Bắc đầy dẫy những tuyên truyền về một nhà tù lớn, một trại tập trung khổng lồ. Ở nông thôn thì nông dân bị kềm kẹp trong ấp chiến lược với lớp lớp hàng hàng rào dây thép gai bao quanh, với nhiều chòi có lính với súng đạn tối tân canh gác đêm ngày...”.
Hơn mười ngày nay, hàng loạt người từ các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long cũng như một số tỉnh miền Trung ồ ạt kéo về Sài Gòn đòi gặp các vị trách nhiệm Văn Phòng Quốc hội II để khiếu nại bị lừa gạt trong những vụ việc bồi thường đất đai.
Từ nhiều năm nay, các cơ quan giải tỏa đất đai cho quy hoạch xây cất, mở mang thành phố, mở mang xí nghiệp theo nhu cầu kỹ nghệ hóa đất nước và do xây dựng nhà cửa cho ngoại nhơn đầu tư vào Việt Nam (VN) cư ngụ, đất đai ở những vùng ngoại biên các thành phố lên giá vùn vụt. Một miếng ruộng nho nhỏ đã biến thành mỏ vàng. Người nông dân có đất đai ở trong vòng quy hoạch được đề nghị bồi thường một - đương nhiên món tiền bồi thường này không thỏa đáng, vì còn dưới xa giá trị đích thực về công sức khai thác, về lợi tức thu hoạch của sở hữu chủ - nhưng liền đó, mảnh vườn, miếng đất mà người nông dân “khổ chủ” nghĩ rằng chánh quyền sẽ xây cất theo nhu cầu phát triển đất nước, thì … được bán lại cho Tây, cho Tàu với giá cao gấp trăm, gấp ngàn lần giá bồi thường. Nông dân thấy mình bị đảng viên có chức có quyền địa phương lừa đảo trắng trợn, nên ức lòng đi kiện. Thế là đã xãy ra hàng hàng lớp lớp dân oan kéo nhau đi Hà nội khiếu kiện, rồi bao nhiêu cảnh thương tâm xảy ra cho những người dân bị đuổi nhà cướp đất phải ăn dầm nằm vạ tháng này qua năm khác ở Vuờn Hoa Mai Xuân Thưởng, và ngày nay, tình trạng này đang tiếp diễn ở Sài Gòn.
Cải cách ruộng đất mới theo định hướng XHCN
Hồi năm 1952 đến 1956, Đảng cộng sản VN (ĐCSVN) phát động chiến dịch Cải cách ruộng đất để đánh địa chủ cường hào, lấy đất đai của địa chủ đem chia cho bần cố nông.
Sau đợt “sửa sai” năm 1957, Đảng “hợp tác xã hóa” đất đai để tước quyền làm chủ của bần cố nông.
Sau 1975, đảng cộng sản vào Nam, định làm lại cuộc Cải cách ruộng đất nhưng không thực hiện được vì chánh sách “hợp tác xã hóa” thất bại. Đảng cộng sản chỉ đánh được tư sản, tiểu thương, tiểu chủ, tước quyền tư hữu để đem tài sản cướp đoạt được của nhân dân về cho đảng sở hữu, mà thực tế là làm giàu cho đảng viên. Ngày nay, nhờ đầu tư ngoại quốc vào, nhà cầm quyền tìm mọi cách vừa thu mua rẻ đất đai (mà họ che đậy dưới cái vỏ “giải toả, đề bù”) của nông dân, vừa trắng trợn cướp đoạt, bán lại cho tư bản để làm giàu cho đảng viên.
Lần này người dân thật sự trở thành bần cố nông trắng tay. Đảng cộng sản vốn là “Đảng Lao động” nên lột sạch sành sanh nông dân, tiểu chủ, và đảng cộng sản trở thành địa chủ, tư sản, tư bản, cả mại bản.
Nếu xem đây là cuộc Cải cách ruộng đất, thì lần này Đảng sẽ biến nông dân trở thành công nhân rẻ tiền phục vụ cho tư bản ngoại quốc, vì Việt Nam, thành viên thứ 150 của WTO, đang cần một “giai cấp” công nhân rẻ tiền và dễ sai khiến.
Chuyền giai cấp nông dân thành giai cấp công nhân
Phát triển Việt Nam ngày nay, theo chiêu thức “Kinh tế thị trường”, tức là tạo những công nhân cho một công nghệ gia công lắp ráp, công nhân may mặc, dán hồ đế giày thể thao… một công nghệ không cần chất xám, thiếu kỹ thuật, thiếu sáng tạo, thiếu khoa học mũi nhọn. Và nguy hiểm hơn, với chiêu thức “Kinh tế thị trường” thòng thêm cái đuôi “Định hướng xã hội chủ nghĩa”, tức là làm kinh tế một cách bừa bãi, tùy tiện, độc đoán, như mua của nông dân với giá rẻ, bán với giá đắt cho ngoại quốc, chiêu thức này sẽ lột sạch sành sanh nhân dân. Tất cả những kẻ “ăn trên ngồi trước” đều là cán bộ đảng viên cộng sản, miệng lúc nào cũng nói xoen xoét “làm cho Việt Nam”, nhưng không bao giờ họ thật sự “làm cho người Việt Nam, cho dân Việt Nam”. Nếu là cấp lãnh đạo lương thiện, có chút liêm sĩ, khi nói bồi thường theo giá thị trường, thì phải giải quyết đúng đắn là trả bù khoản tiền sai biệt cho những chủ nhơn đất đai bị quy hoạch khi giá được bán lên cao.
Công nhân phục vụ giai cấp thống trị trung gian và bảo vệ giới tư bản nước ngoài
Đảng cộng sản Việt Nam trên thực tế đang cai quản đất nước Việt Nam, rất cần có một giai cấp công nhân rẻ tiền để phục vụ các nhà đầu tư ngoại quốc. Điển hình là ông Nguyễn Minh Triết, người Chủ tịch vô trách nhiệm, rất thờ ơ về điều kiện lao động của công nhânViệt Nam. Suốt thời gian rao hàng ở Hoa Kỳ, ông đã trả lời bao nhiêu phỏng vấn và ký kết trong nhiều hợp đồng thương mại, nhưng chưa bao giờ nghe ông ta tuyên bố một câu về tình trạng làm việc cũng như đìều kiện lao động của công nhân Việt Nam mà ông đang sử dụng quyền đại diện.
Trước khi ông Nguyễn Minh Triết sang Mỹ, là người đứng đầu nhà nước, chắc chắn ông có theo dõi, biết rất rõ là từ đầu năm 2006 và cả đầu năm 2007, ở Việt Nam, đặc biệt ở ngoại ô Sài Gòn cũng như ở tỉnh Bình Dương - quê hương chôn nhau cắt rún của ông - đã liên tục diễn ra bao nhiêu cuộc biểu tình. Những người biểu tình này chỉ đòi hỏi quyền lợi chánh đáng, quyền lợi đương nhiên được hưởng, của bất cứ công nhân một nước bình thường nào có đầy đủ chủ quyền.
Ông Nguyễn Minh Triết ký kết và “hồ hởi” mang về Việt Nam… những lời hứa sẽ đầu tư 11 tỷ của các doanh nhơn Mỹ. Chúng tôi thử hỏi ông hứa cung ứng những gì cho doanh nhân Mỹ để họ hăm hở mang vốn vào Việt Nam ? : - Óc sáng tạo của người Việt Nam? - Kỹ thuật và tay nghề người Việt Nam? - Việt Nam có nhiều nhà khoa học lãnh giải Nobel hoặc nhiều bằng sáng chế?
Tất cả đều không phải, vậy ông hứa những gì ? Phải chăng ông đã hãnh diện hứa chắc chắn như đinh đóng cột, là công nhân Việt Nam rất cần cù, ngoan ngoãn, dễ sai, dễ bảo mà lương thì rẻ nhất thế giới, vì luôn luôn có một bộ máy công an đắc lực, một công đoàn “hữu hiệu”, nên công nhơn không thể đình công hay thắc mắc gì hết?!.
Một nghiệp đoàn công nhân, sản phẩm của Đảng cầm quyền, là một thứ quái thai đối với các nước văn minh trên thế giới ngày nay. Loại quái thai này chỉ sanh tồn ở những nước cộng sản. Ở Pháp, nghiệp đoàn CGT trực thuộc Đảng Cộng sản Pháp đấy, nhưng Đảng Cộng sản Pháp có lúc nào được dân cho cầm quyền đâu?
Nên nhớ, chức năng của một nghiệp đoàn công nhân là bảo vệ người công nhân, ấy thế mà ở Việt Nam ngày nay, Công đoàn Lao động trực thuộc Mặt Trận Tổ Quốc - một ngoại vi của Đảng cộng sản Việt Nam - Đảng cầm quyền. Thử hỏi công đoàn này làm sao bảo vệ công nhân lao động được hữu hiệu? Khi công nhân được nhận vào làm việc, ai là người ký hợp đồng với giới chủ nhân tư bản nước ngoài? Bằng chứng là ngày hôm nay, ở Việt Nam, những người tham gia các nghiệp đoàn tự do và độc lập (ngoài công đoàn của Đảng Cộng sản) đều bị giam cầm, bị truy nã hay phải lưu vong.
“Luật” của Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam kết tội thành lập một nghiệp đoàn công nhơn đoàn độc lập thành tội gián điệp phản quốc, có thể bị xử tử hình, trong lúc Hiến Pháp Việt Nam cho phép người dân được tổ chức hội đoàn.
Trong các cuộc phỏng vấn - phỏng vấn gì mà phải gởi 15 câu hỏi trước - không thấy anh nhà báo nào đặt câu hỏi vể các điều kiện làm việc của công nhân tương lai ở Việt Nam. Tất cả các hợp đồng thương mại được ký kết, hầu hết là hợp đồng đầu tư. Đầu tư kỹ nghệ là mở nhà máy, thế mà không thấy một điều khoản thương thuyết nào về điều kiện của công nhân lao động? Vì mở nhà máy tức nhiên là cần công nhân. Những ai quan tâm về nhân quyền đều thất vọng, không nghe ông Triết cùng phái đoàn hùng hậu và ưu việt của ông nêu những câu hỏi cần thiết như: Phẩm chất về kỹ thuật? Chuyên ngành? Công nghệ nặng? Công nghệ chế biến? Dịch vụ? Chức năng sinh ngữ? Hạ tầng kỹ thuật? Chức năng huấn luyện (hệ thống giáo dục, tiểu học, trung học, đại học, đại học chuyên nghiệp, bản năng hội nhập kỹ thuật …). Lương tối thiểu là bao nhiêu? Số giờ lao động bao nhiêu? Đầu tư chất xám thế nào? Huấn nghiệp và luyện tay nghề ra sao? Ngày nghỉ, thời gian huấn luyện, quỹ hưu trí, quỹ xã hội, ai trách nhiệm, và, bao nhiêu phần trăm của chủ, bao nhiêu phần trăm của nhà nước Việt Nam, bao nhiêu của công nhân...
Bấy nhiêu câu hỏi thường thức mà người đi thương thuyết cho một hợp đồng thương mại thường phải được đặt ra, thế mà ông Triết lẫn phái đoàn ưu việt của ông phớt lờ. Tất cả những thắc mắc đều được ngụy trang dưới một lá chắn mỵ dân do Đảng ra lịnh cho giới truyền thông thuộc phe nhà: “Ông Triết chắc chắn là người tử tế, vì có một giọng nói đầy chất mộc mạc của người Nam bộ”. !
Nếu ông Triết thực sự là dân chịu chơi theo phong cách miền Nam, biết “U-Tê-Cu” (Uống Trà Quạu) biết hiên ngang đứng thẳng, thì trước khi đi Mỹ, ông Triết đã hổng thèm xin phép anh Ba “Tàu”. Đằng này, sau khi qua Bắc Kinh cúc cung triều kiến, ông còn phải tiếp viên Tướng của quân đội Tàu Cộng, rồi… ông mới đi Mỹ. Ông yếu quá! Phong cách này đâu phải của dân chịu chơi Nam bộ! Ông khéo đóng kịch và “chôm” giọng nói chất phác của người dân Nam Bộ để hoàn tất vở kịch mỵ dân và rao hàng. Đúng là “nói dzậy mà hổng phải dzậy”. Thảo nào dân Việt nam bị ông bán dễ dàng, bị ông lần lượt đưa vào tròng để tiếp tục làm đủ trò nô lệ: thợ nô lệ theo thợ, gái nô lệ theo gái, trai nô lệ theo trai, con nít nô lệ theo con nít, nông dân nô lệ theo nông dân, có vườn bán vườn, có đất bán đất, thiếu nữ nhà lành vì nghèo phải “bày hàng” cái vốn của cha mẹ sanh hy vọng kiếm tấm chồng Đại Hàn, Đài Loan,… để giúp đỡ cha mẹ, còn thuộc hạ đảng cầm quyền Ba Đình thì nô lệ đô - la, tập tành tiêu thụ theo giai cấp thượng lưu, nào là xe hai cầu, điện thoại viễn liên, máy hình điện tử… cả bọn tranh nhau tham nhũng để có, để mua, để xài đồ “sịn”, tức tiêu dùng hàng ngoại nhập.
Ông Nguyễn Minh Triết không phải là một nhà lãnh đạo thật lòng yêu nước, yêu quê hương, yêu dân tộc. Ông thiếu cái đạo đức mà tôi gọi là đạo đức cách mạng “cho dân và vì dân”. Ông chẳng bao giờ có được cái đạo đức cách mạng, bởi ông là người của Đảng cộng sản. Mà Đảng cộng sản có bao giờ yêu dân, yêu nước đâu? Đảng cộng sản chỉ yêu Đảng cộng sản và chỉ phục vụ Đảng cộng sản thôi. Bằng chứng, nếu yêu thực sự dân Việt Nam thì làm sao có Cải Cách Ruộng Đất những năm 1953 -1956, đấu tố oan ức mấy trăm ngàn nạn nhân. Làm sao có thảm trạng Tết Mậu Thân 1968 - chà đạp cam kết đình chiến, xua quân đánh chiếm, thảm sát đồng bào trong những ngày thiêng liêng nhứt của dân tộc Việt Nam - với trên 5.000 thường dân bị giết hại, chỉ riêng ở Huế. Nếu có nhân tính thì đâu bày ra cảnh “đuổi người ra biển để cướp vàng” vào những năm 1978/1979, và ngày nay, lại tiếp tục “cướp đất cướp ruộng” để tư hữu hóa Đảng và thuộc hạ?!.
Ông Nguyễn Minh Triết và ĐCSVN nay phải hoàn toàn trách nhiệm về các mặt hàng, về gạo, về thủy sản xuất khẩu bị nhiễm độc. Tất cả chỉ vì lãnh đạo tồi, quản lý dở, giải quyết tùy tiện, bừa bãi, độc tôn, độc đoán. Bởi khăng khăng ngoan cố vì tham quyền cố vị, không chấp nhận chế độ đa đảng. Bởi không có một hay nhiều đảng đối lập với đảng cầm quyền để được kiểm soát và tự kềm chế, nên đảng cộng sản Việt Nam tự tung, tự tác, xem trời bằng vung, tự cho mình là đỉnh cao trí tuệ loài người, cho nên chỉ mới hơn ba mươi năm thống trị đất nước, trong hòa bình trong những điều kiện lý tưởng để xây dựng và phát triển, mà từ nền tảng đạo lý truyền thống ngàn đời của dân tộc đang trên đà hủy diệt, đến quê hương lâm cảnh điêu tàn. Trong đối ngoại thì biên giới bị xói mòn, cắt đất liền, cắt hải phận cúc cung dâng hiến Thiên triều để được che giữ mạng sống cho đảng. Đối nội thì phá rừng bừa bãi, sử dụng vô tội vạ các loại thuốc chống rầy, thuốc chống muỗi, DDT, phân hóa học... làm hư đất, không xử lý chất thải hoá chất từ hàng ngàn xí nghiệp công kỹ nghệ tuôn xả, làm hủy hoại môi sinh, môi trường, gây nên vô vàn dị bịnh. Bệnh AIDS, bệnh sốt xuất huyết vẫn hằng năm hoành hành, cướp đi không biết bao nhiêu sanh mạng trẻ con; tệ nạn xã hội đầy dẫy, con trẻ, đang tuổi đến trường, đi bán thuốc lá, bán vé số để phụ giúp cha mẹ. Tuần qua, các trường công lập Sài Gòn tuyên bố tăng giá học phí, mỗi học sanh nay phải trả 400.000 đồng một tháng, trong lúc Nhà Nước bắt tay thoả hiệp với các hãng tư nhân ngoại quốc chỉ trả cho công nhân 800.000 đồng lương tháng. Lương người cha công nhân chỉ có 800 ngàn (50 US $) mà phải trả học phí cho mỗi đứa con 400 ngàn, chúng tôi không dám nghĩ đến tình trạng của một gia đình công nhân có nhiều con!...
Mới bước vào WTO mà hàng hóa đã bị trả lại vì chứa đầy chất độc, không đúng tiêu chuẩn. Tất cả tiềm lực thương mại chỉ còn vỏn vẹn có mỗi chiêu bài “Công nhân với đồng lương rẻ”, hàm nghĩa là công nhân sẽ sẵn sàng làm nô lệ.
Chế độ miền Nam đã mất từ hơn ba mươi năm, hiện Đảng Cộng sản Hà nội đang thao túng quyền thống trị trên ba miền đất nước, vậy, khi đọc đoạn viết của ông Nguyễn khắc Toàn, thay cho cách ĐCSVN nói về miền Nam trước đây, chúng ta có cảm nghĩ ông Toàn đang tả đúng hình ảnh của Việt Nam ngày nay dưới bàn tay cai trị của ĐCSVN:
“Mô hình chế độ chính trị là một loại hình thức chủ nghĩa thực dân kiểu mới do đế quốc Mỹ dựng lên. Việt Nam là thị trường để tiêu thụ hàng hóa tư bản ế thừa của các nước phương Tây. Ðây cũng là nơi Mỹ và các đế quốc nước ngoài vơ vét tài nguyên bóc lột sức lao động rẻ mạt của nhân dân về văn hóa, xã hội, giáo dục... thì mảnh đất màu mỡ ở Việt Nam là nơi để gieo mầm nô dịch của đế quốc, ngoại bang nảy nở phát triển ”.
Công nhân ngày nay phải đình công để đòi cho kỳ được những điều kiện làm việc đàng hoàng với chủ nhân ngoại quốc. Nông dân ngày nay đang đi kiện Nhà nước, vì đất đai đã bị cướp đoạt ngang ngược. Hôm nay công nhân nô lệ và nông dân bị cướp đất chưa có điều kiện và tổ chức để cùng sát cánh tranh đấu. Công nhân và nông dân còn lập luận riêng rẽ, mỗi thành phần chỉ nhìn thấy và đòi hỏi những quyền lợi riêng cho mình. Đây chỉ mới là những đòi hỏi về công lý và công bằng, còn quan điểm đấu tranh chính trị về Dân chủ và Nhân quyền chưa được đặt ra.
Nhưng hãy coi chừng ngày mai, những người tranh đấu cho dân chủ, sỹ phu, trí thức, thực sự yêu nước có ý thức đấu tranh chính trị sẽ nói chuyện được với giới công nhân đang bị bóc lột sức lao động như người nô lệ, sẽ bắt tay được với dân oan bị ăn cắp, bị cướp đoạt đất đai. Và ngày ấy, ngày ấy… sẽ không xa lắm đâu!
Sẽ có một cuộc đấu tranh chính trị toàn bộ của giai cấp bị trị với giai cấp thống trị. Vì, sau cuộc Cải cách ruộng đất mới này, ở Việt Nam sẽ rõ ràng có hai giai cấp và một cuộc đấu tranh giai cấp phải được diễn ra. Đảng cộng sản lần này đứng vào vai trò của kẻ thống trị, kẻ thù của giai cấp Công-Nông. Và, Đảng cộng sản ngày nay đang vừa ở cả tư thế của các quan thầy Thuộc địa, Thực dân (cướp đất của nông dân) và cũng vừa ở cả vai trò của Đế quốc (bảo vệ tư bản ngoại nhân, bóc lột sức lao động của công nhơn bản xứ).
Vậy, Đảng cộng sản:
- Hãy mau mau đối thoại với nhân dân để sám hối, may ra còn kịp, trước khi bị đào thải.
- Hãy mau mau trả lại đầy đủ quyền công dân cho nhân dân Việt Nam.
- Hãy mau mau trả quyền quản lý đất nước cho nhân dân Việt Nam.
Đừng chần chờ nữa!
Hồi Nhơn Sơn, ngày 7 tháng 7 năm 2007
Việt Nam ngày nay: Đảng cộng sản thực thi một cuộc cải cách ruộng đất mới: Đuổi nhà, cướp đất của nhân dân
Nhắc đến miền Nam, Nguyễn khắc Toàn viết: "... Mô hình chế độ chính trị Nhà Nước Việt Nam Cộng Hòa trước đây, khi ở miền Bắc tôi đã được tuyên truyền rằng, đó là một loại hình thức chủ nghĩa thực dân kiểu mới do đế quốc Mỹ dựng lên và làm bàn đạp để tiến công miền Bắc và phe xã hội chủ nghĩa (XHCN) do Liên Xô và Trung Quốc là những nước đứng đầu. Và các cơ quan tuyên truyền của miền Bắc còn nói về kinh tế của miền Nam Việt Nam là thị trường để tiêu thụ hàng hóa tư bản ế thừa của các nước phương Tây. Ðây cũng là nơi Mỹ và các đế quốc nước ngoài vơ vét tài nguyên bóc lột sức lao động rẻ mạt của nhân dân về văn hóa, xã hội, giáo dục... thì mảnh đất màu mỡ ở miền Nam Việt Nam là nơi để gieo mầm nô dịch của đế quốc, ngoại bang nảy nở phát triển. Trên báo, đài phát thanh, sách vở giao khoa dạy trong các trường học ở miền Bắc đầy dẫy những tuyên truyền về một nhà tù lớn, một trại tập trung khổng lồ. Ở nông thôn thì nông dân bị kềm kẹp trong ấp chiến lược với lớp lớp hàng hàng rào dây thép gai bao quanh, với nhiều chòi có lính với súng đạn tối tân canh gác đêm ngày...”.
Hơn mười ngày nay, hàng loạt người từ các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long cũng như một số tỉnh miền Trung ồ ạt kéo về Sài Gòn đòi gặp các vị trách nhiệm Văn Phòng Quốc hội II để khiếu nại bị lừa gạt trong những vụ việc bồi thường đất đai.
Từ nhiều năm nay, các cơ quan giải tỏa đất đai cho quy hoạch xây cất, mở mang thành phố, mở mang xí nghiệp theo nhu cầu kỹ nghệ hóa đất nước và do xây dựng nhà cửa cho ngoại nhơn đầu tư vào Việt Nam (VN) cư ngụ, đất đai ở những vùng ngoại biên các thành phố lên giá vùn vụt. Một miếng ruộng nho nhỏ đã biến thành mỏ vàng. Người nông dân có đất đai ở trong vòng quy hoạch được đề nghị bồi thường một - đương nhiên món tiền bồi thường này không thỏa đáng, vì còn dưới xa giá trị đích thực về công sức khai thác, về lợi tức thu hoạch của sở hữu chủ - nhưng liền đó, mảnh vườn, miếng đất mà người nông dân “khổ chủ” nghĩ rằng chánh quyền sẽ xây cất theo nhu cầu phát triển đất nước, thì … được bán lại cho Tây, cho Tàu với giá cao gấp trăm, gấp ngàn lần giá bồi thường. Nông dân thấy mình bị đảng viên có chức có quyền địa phương lừa đảo trắng trợn, nên ức lòng đi kiện. Thế là đã xãy ra hàng hàng lớp lớp dân oan kéo nhau đi Hà nội khiếu kiện, rồi bao nhiêu cảnh thương tâm xảy ra cho những người dân bị đuổi nhà cướp đất phải ăn dầm nằm vạ tháng này qua năm khác ở Vuờn Hoa Mai Xuân Thưởng, và ngày nay, tình trạng này đang tiếp diễn ở Sài Gòn.
Cải cách ruộng đất mới theo định hướng XHCN
Hồi năm 1952 đến 1956, Đảng cộng sản VN (ĐCSVN) phát động chiến dịch Cải cách ruộng đất để đánh địa chủ cường hào, lấy đất đai của địa chủ đem chia cho bần cố nông.
Sau đợt “sửa sai” năm 1957, Đảng “hợp tác xã hóa” đất đai để tước quyền làm chủ của bần cố nông.
Sau 1975, đảng cộng sản vào Nam, định làm lại cuộc Cải cách ruộng đất nhưng không thực hiện được vì chánh sách “hợp tác xã hóa” thất bại. Đảng cộng sản chỉ đánh được tư sản, tiểu thương, tiểu chủ, tước quyền tư hữu để đem tài sản cướp đoạt được của nhân dân về cho đảng sở hữu, mà thực tế là làm giàu cho đảng viên. Ngày nay, nhờ đầu tư ngoại quốc vào, nhà cầm quyền tìm mọi cách vừa thu mua rẻ đất đai (mà họ che đậy dưới cái vỏ “giải toả, đề bù”) của nông dân, vừa trắng trợn cướp đoạt, bán lại cho tư bản để làm giàu cho đảng viên.
Lần này người dân thật sự trở thành bần cố nông trắng tay. Đảng cộng sản vốn là “Đảng Lao động” nên lột sạch sành sanh nông dân, tiểu chủ, và đảng cộng sản trở thành địa chủ, tư sản, tư bản, cả mại bản.
Nếu xem đây là cuộc Cải cách ruộng đất, thì lần này Đảng sẽ biến nông dân trở thành công nhân rẻ tiền phục vụ cho tư bản ngoại quốc, vì Việt Nam, thành viên thứ 150 của WTO, đang cần một “giai cấp” công nhân rẻ tiền và dễ sai khiến.
Chuyền giai cấp nông dân thành giai cấp công nhân
Phát triển Việt Nam ngày nay, theo chiêu thức “Kinh tế thị trường”, tức là tạo những công nhân cho một công nghệ gia công lắp ráp, công nhân may mặc, dán hồ đế giày thể thao… một công nghệ không cần chất xám, thiếu kỹ thuật, thiếu sáng tạo, thiếu khoa học mũi nhọn. Và nguy hiểm hơn, với chiêu thức “Kinh tế thị trường” thòng thêm cái đuôi “Định hướng xã hội chủ nghĩa”, tức là làm kinh tế một cách bừa bãi, tùy tiện, độc đoán, như mua của nông dân với giá rẻ, bán với giá đắt cho ngoại quốc, chiêu thức này sẽ lột sạch sành sanh nhân dân. Tất cả những kẻ “ăn trên ngồi trước” đều là cán bộ đảng viên cộng sản, miệng lúc nào cũng nói xoen xoét “làm cho Việt Nam”, nhưng không bao giờ họ thật sự “làm cho người Việt Nam, cho dân Việt Nam”. Nếu là cấp lãnh đạo lương thiện, có chút liêm sĩ, khi nói bồi thường theo giá thị trường, thì phải giải quyết đúng đắn là trả bù khoản tiền sai biệt cho những chủ nhơn đất đai bị quy hoạch khi giá được bán lên cao.
Công nhân phục vụ giai cấp thống trị trung gian và bảo vệ giới tư bản nước ngoài
Đảng cộng sản Việt Nam trên thực tế đang cai quản đất nước Việt Nam, rất cần có một giai cấp công nhân rẻ tiền để phục vụ các nhà đầu tư ngoại quốc. Điển hình là ông Nguyễn Minh Triết, người Chủ tịch vô trách nhiệm, rất thờ ơ về điều kiện lao động của công nhânViệt Nam. Suốt thời gian rao hàng ở Hoa Kỳ, ông đã trả lời bao nhiêu phỏng vấn và ký kết trong nhiều hợp đồng thương mại, nhưng chưa bao giờ nghe ông ta tuyên bố một câu về tình trạng làm việc cũng như đìều kiện lao động của công nhân Việt Nam mà ông đang sử dụng quyền đại diện.
Trước khi ông Nguyễn Minh Triết sang Mỹ, là người đứng đầu nhà nước, chắc chắn ông có theo dõi, biết rất rõ là từ đầu năm 2006 và cả đầu năm 2007, ở Việt Nam, đặc biệt ở ngoại ô Sài Gòn cũng như ở tỉnh Bình Dương - quê hương chôn nhau cắt rún của ông - đã liên tục diễn ra bao nhiêu cuộc biểu tình. Những người biểu tình này chỉ đòi hỏi quyền lợi chánh đáng, quyền lợi đương nhiên được hưởng, của bất cứ công nhân một nước bình thường nào có đầy đủ chủ quyền.
Ông Nguyễn Minh Triết ký kết và “hồ hởi” mang về Việt Nam… những lời hứa sẽ đầu tư 11 tỷ của các doanh nhơn Mỹ. Chúng tôi thử hỏi ông hứa cung ứng những gì cho doanh nhân Mỹ để họ hăm hở mang vốn vào Việt Nam ? : - Óc sáng tạo của người Việt Nam? - Kỹ thuật và tay nghề người Việt Nam? - Việt Nam có nhiều nhà khoa học lãnh giải Nobel hoặc nhiều bằng sáng chế?
Tất cả đều không phải, vậy ông hứa những gì ? Phải chăng ông đã hãnh diện hứa chắc chắn như đinh đóng cột, là công nhân Việt Nam rất cần cù, ngoan ngoãn, dễ sai, dễ bảo mà lương thì rẻ nhất thế giới, vì luôn luôn có một bộ máy công an đắc lực, một công đoàn “hữu hiệu”, nên công nhơn không thể đình công hay thắc mắc gì hết?!.
Một nghiệp đoàn công nhân, sản phẩm của Đảng cầm quyền, là một thứ quái thai đối với các nước văn minh trên thế giới ngày nay. Loại quái thai này chỉ sanh tồn ở những nước cộng sản. Ở Pháp, nghiệp đoàn CGT trực thuộc Đảng Cộng sản Pháp đấy, nhưng Đảng Cộng sản Pháp có lúc nào được dân cho cầm quyền đâu?
Nên nhớ, chức năng của một nghiệp đoàn công nhân là bảo vệ người công nhân, ấy thế mà ở Việt Nam ngày nay, Công đoàn Lao động trực thuộc Mặt Trận Tổ Quốc - một ngoại vi của Đảng cộng sản Việt Nam - Đảng cầm quyền. Thử hỏi công đoàn này làm sao bảo vệ công nhân lao động được hữu hiệu? Khi công nhân được nhận vào làm việc, ai là người ký hợp đồng với giới chủ nhân tư bản nước ngoài? Bằng chứng là ngày hôm nay, ở Việt Nam, những người tham gia các nghiệp đoàn tự do và độc lập (ngoài công đoàn của Đảng Cộng sản) đều bị giam cầm, bị truy nã hay phải lưu vong.
“Luật” của Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam kết tội thành lập một nghiệp đoàn công nhơn đoàn độc lập thành tội gián điệp phản quốc, có thể bị xử tử hình, trong lúc Hiến Pháp Việt Nam cho phép người dân được tổ chức hội đoàn.
Trong các cuộc phỏng vấn - phỏng vấn gì mà phải gởi 15 câu hỏi trước - không thấy anh nhà báo nào đặt câu hỏi vể các điều kiện làm việc của công nhân tương lai ở Việt Nam. Tất cả các hợp đồng thương mại được ký kết, hầu hết là hợp đồng đầu tư. Đầu tư kỹ nghệ là mở nhà máy, thế mà không thấy một điều khoản thương thuyết nào về điều kiện của công nhân lao động? Vì mở nhà máy tức nhiên là cần công nhân. Những ai quan tâm về nhân quyền đều thất vọng, không nghe ông Triết cùng phái đoàn hùng hậu và ưu việt của ông nêu những câu hỏi cần thiết như: Phẩm chất về kỹ thuật? Chuyên ngành? Công nghệ nặng? Công nghệ chế biến? Dịch vụ? Chức năng sinh ngữ? Hạ tầng kỹ thuật? Chức năng huấn luyện (hệ thống giáo dục, tiểu học, trung học, đại học, đại học chuyên nghiệp, bản năng hội nhập kỹ thuật …). Lương tối thiểu là bao nhiêu? Số giờ lao động bao nhiêu? Đầu tư chất xám thế nào? Huấn nghiệp và luyện tay nghề ra sao? Ngày nghỉ, thời gian huấn luyện, quỹ hưu trí, quỹ xã hội, ai trách nhiệm, và, bao nhiêu phần trăm của chủ, bao nhiêu phần trăm của nhà nước Việt Nam, bao nhiêu của công nhân...
Bấy nhiêu câu hỏi thường thức mà người đi thương thuyết cho một hợp đồng thương mại thường phải được đặt ra, thế mà ông Triết lẫn phái đoàn ưu việt của ông phớt lờ. Tất cả những thắc mắc đều được ngụy trang dưới một lá chắn mỵ dân do Đảng ra lịnh cho giới truyền thông thuộc phe nhà: “Ông Triết chắc chắn là người tử tế, vì có một giọng nói đầy chất mộc mạc của người Nam bộ”. !
Nếu ông Triết thực sự là dân chịu chơi theo phong cách miền Nam, biết “U-Tê-Cu” (Uống Trà Quạu) biết hiên ngang đứng thẳng, thì trước khi đi Mỹ, ông Triết đã hổng thèm xin phép anh Ba “Tàu”. Đằng này, sau khi qua Bắc Kinh cúc cung triều kiến, ông còn phải tiếp viên Tướng của quân đội Tàu Cộng, rồi… ông mới đi Mỹ. Ông yếu quá! Phong cách này đâu phải của dân chịu chơi Nam bộ! Ông khéo đóng kịch và “chôm” giọng nói chất phác của người dân Nam Bộ để hoàn tất vở kịch mỵ dân và rao hàng. Đúng là “nói dzậy mà hổng phải dzậy”. Thảo nào dân Việt nam bị ông bán dễ dàng, bị ông lần lượt đưa vào tròng để tiếp tục làm đủ trò nô lệ: thợ nô lệ theo thợ, gái nô lệ theo gái, trai nô lệ theo trai, con nít nô lệ theo con nít, nông dân nô lệ theo nông dân, có vườn bán vườn, có đất bán đất, thiếu nữ nhà lành vì nghèo phải “bày hàng” cái vốn của cha mẹ sanh hy vọng kiếm tấm chồng Đại Hàn, Đài Loan,… để giúp đỡ cha mẹ, còn thuộc hạ đảng cầm quyền Ba Đình thì nô lệ đô - la, tập tành tiêu thụ theo giai cấp thượng lưu, nào là xe hai cầu, điện thoại viễn liên, máy hình điện tử… cả bọn tranh nhau tham nhũng để có, để mua, để xài đồ “sịn”, tức tiêu dùng hàng ngoại nhập.
Ông Nguyễn Minh Triết không phải là một nhà lãnh đạo thật lòng yêu nước, yêu quê hương, yêu dân tộc. Ông thiếu cái đạo đức mà tôi gọi là đạo đức cách mạng “cho dân và vì dân”. Ông chẳng bao giờ có được cái đạo đức cách mạng, bởi ông là người của Đảng cộng sản. Mà Đảng cộng sản có bao giờ yêu dân, yêu nước đâu? Đảng cộng sản chỉ yêu Đảng cộng sản và chỉ phục vụ Đảng cộng sản thôi. Bằng chứng, nếu yêu thực sự dân Việt Nam thì làm sao có Cải Cách Ruộng Đất những năm 1953 -1956, đấu tố oan ức mấy trăm ngàn nạn nhân. Làm sao có thảm trạng Tết Mậu Thân 1968 - chà đạp cam kết đình chiến, xua quân đánh chiếm, thảm sát đồng bào trong những ngày thiêng liêng nhứt của dân tộc Việt Nam - với trên 5.000 thường dân bị giết hại, chỉ riêng ở Huế. Nếu có nhân tính thì đâu bày ra cảnh “đuổi người ra biển để cướp vàng” vào những năm 1978/1979, và ngày nay, lại tiếp tục “cướp đất cướp ruộng” để tư hữu hóa Đảng và thuộc hạ?!.
Ông Nguyễn Minh Triết và ĐCSVN nay phải hoàn toàn trách nhiệm về các mặt hàng, về gạo, về thủy sản xuất khẩu bị nhiễm độc. Tất cả chỉ vì lãnh đạo tồi, quản lý dở, giải quyết tùy tiện, bừa bãi, độc tôn, độc đoán. Bởi khăng khăng ngoan cố vì tham quyền cố vị, không chấp nhận chế độ đa đảng. Bởi không có một hay nhiều đảng đối lập với đảng cầm quyền để được kiểm soát và tự kềm chế, nên đảng cộng sản Việt Nam tự tung, tự tác, xem trời bằng vung, tự cho mình là đỉnh cao trí tuệ loài người, cho nên chỉ mới hơn ba mươi năm thống trị đất nước, trong hòa bình trong những điều kiện lý tưởng để xây dựng và phát triển, mà từ nền tảng đạo lý truyền thống ngàn đời của dân tộc đang trên đà hủy diệt, đến quê hương lâm cảnh điêu tàn. Trong đối ngoại thì biên giới bị xói mòn, cắt đất liền, cắt hải phận cúc cung dâng hiến Thiên triều để được che giữ mạng sống cho đảng. Đối nội thì phá rừng bừa bãi, sử dụng vô tội vạ các loại thuốc chống rầy, thuốc chống muỗi, DDT, phân hóa học... làm hư đất, không xử lý chất thải hoá chất từ hàng ngàn xí nghiệp công kỹ nghệ tuôn xả, làm hủy hoại môi sinh, môi trường, gây nên vô vàn dị bịnh. Bệnh AIDS, bệnh sốt xuất huyết vẫn hằng năm hoành hành, cướp đi không biết bao nhiêu sanh mạng trẻ con; tệ nạn xã hội đầy dẫy, con trẻ, đang tuổi đến trường, đi bán thuốc lá, bán vé số để phụ giúp cha mẹ. Tuần qua, các trường công lập Sài Gòn tuyên bố tăng giá học phí, mỗi học sanh nay phải trả 400.000 đồng một tháng, trong lúc Nhà Nước bắt tay thoả hiệp với các hãng tư nhân ngoại quốc chỉ trả cho công nhân 800.000 đồng lương tháng. Lương người cha công nhân chỉ có 800 ngàn (50 US $) mà phải trả học phí cho mỗi đứa con 400 ngàn, chúng tôi không dám nghĩ đến tình trạng của một gia đình công nhân có nhiều con!...
Mới bước vào WTO mà hàng hóa đã bị trả lại vì chứa đầy chất độc, không đúng tiêu chuẩn. Tất cả tiềm lực thương mại chỉ còn vỏn vẹn có mỗi chiêu bài “Công nhân với đồng lương rẻ”, hàm nghĩa là công nhân sẽ sẵn sàng làm nô lệ.
Chế độ miền Nam đã mất từ hơn ba mươi năm, hiện Đảng Cộng sản Hà nội đang thao túng quyền thống trị trên ba miền đất nước, vậy, khi đọc đoạn viết của ông Nguyễn khắc Toàn, thay cho cách ĐCSVN nói về miền Nam trước đây, chúng ta có cảm nghĩ ông Toàn đang tả đúng hình ảnh của Việt Nam ngày nay dưới bàn tay cai trị của ĐCSVN:
“Mô hình chế độ chính trị là một loại hình thức chủ nghĩa thực dân kiểu mới do đế quốc Mỹ dựng lên. Việt Nam là thị trường để tiêu thụ hàng hóa tư bản ế thừa của các nước phương Tây. Ðây cũng là nơi Mỹ và các đế quốc nước ngoài vơ vét tài nguyên bóc lột sức lao động rẻ mạt của nhân dân về văn hóa, xã hội, giáo dục... thì mảnh đất màu mỡ ở Việt Nam là nơi để gieo mầm nô dịch của đế quốc, ngoại bang nảy nở phát triển ”.
Công nhân ngày nay phải đình công để đòi cho kỳ được những điều kiện làm việc đàng hoàng với chủ nhân ngoại quốc. Nông dân ngày nay đang đi kiện Nhà nước, vì đất đai đã bị cướp đoạt ngang ngược. Hôm nay công nhân nô lệ và nông dân bị cướp đất chưa có điều kiện và tổ chức để cùng sát cánh tranh đấu. Công nhân và nông dân còn lập luận riêng rẽ, mỗi thành phần chỉ nhìn thấy và đòi hỏi những quyền lợi riêng cho mình. Đây chỉ mới là những đòi hỏi về công lý và công bằng, còn quan điểm đấu tranh chính trị về Dân chủ và Nhân quyền chưa được đặt ra.
Nhưng hãy coi chừng ngày mai, những người tranh đấu cho dân chủ, sỹ phu, trí thức, thực sự yêu nước có ý thức đấu tranh chính trị sẽ nói chuyện được với giới công nhân đang bị bóc lột sức lao động như người nô lệ, sẽ bắt tay được với dân oan bị ăn cắp, bị cướp đoạt đất đai. Và ngày ấy, ngày ấy… sẽ không xa lắm đâu!
Sẽ có một cuộc đấu tranh chính trị toàn bộ của giai cấp bị trị với giai cấp thống trị. Vì, sau cuộc Cải cách ruộng đất mới này, ở Việt Nam sẽ rõ ràng có hai giai cấp và một cuộc đấu tranh giai cấp phải được diễn ra. Đảng cộng sản lần này đứng vào vai trò của kẻ thống trị, kẻ thù của giai cấp Công-Nông. Và, Đảng cộng sản ngày nay đang vừa ở cả tư thế của các quan thầy Thuộc địa, Thực dân (cướp đất của nông dân) và cũng vừa ở cả vai trò của Đế quốc (bảo vệ tư bản ngoại nhân, bóc lột sức lao động của công nhơn bản xứ).
Vậy, Đảng cộng sản:
- Hãy mau mau đối thoại với nhân dân để sám hối, may ra còn kịp, trước khi bị đào thải.
- Hãy mau mau trả lại đầy đủ quyền công dân cho nhân dân Việt Nam.
- Hãy mau mau trả quyền quản lý đất nước cho nhân dân Việt Nam.
Đừng chần chờ nữa!
Hồi Nhơn Sơn, ngày 7 tháng 7 năm 2007
Góp ý với bài viết về Giáo dục của Hoàng Xuân Ba
Không có tư tưởng Hồ Chí Minh, không có chủ nghĩa khoa học Maxist Leninist?
Nguồn: panoramaproductions.net
Những năm sau 75, tất cả các trường học tư miến Nam đều bị đưa vào quản lý nhà nước. Các trường học của giáo hội, thậm chí những trường mẫu giáo mầm non cũng chung số phận. Nhà nước quản lý giáo dục là quản lý máy cái sản xuất ra con người mới xã hội chủ nghĩa (XHCN). Máy cái nầy bắt đầu bằng các lớp mầm non và đầu kia là ngỏ ra các trường đại học. Khâu giáo dục là then chốt; dứt khoát không để tư nhân hay đoàn thể làm được.
Kết quả sau 30 năm, những con người mới càng ngày càng tệ; Đảng có khối người sẵn sàng bán linh hồn để bon chen vào hệ thống quyền lực, nhưng thiếu những con người trung thực, dám suy nghĩ độc lập để thực sự có ích cho đất nước. Một trong các nguyên nhân là bệnh thành tích, như tác giả Hoàng Xuân Ba phân tích, tuy nhiên ở đây tôi chú ý đến cách trả lời của bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân để thử thẩm định nỗ lực của ông trong cải cách giáo dục.
Trong lá thư đăng báo Tuổi Trẻ ngày 02/07/2007, ông Nhân cho rằng nguyên nhân gây ra không chỉ ở ngành giáo dục, ở nhà trường, ở thày cô giáo mà còn ở hằng chục triệu phụ huynh là đồng tác giả. Ông dẫn chứng chuyện buôn lậu: Vì có người thích mua hàng rẻ, nên mới có người buôn lậu. Tương tự như thế, vì phụ huynh muốn con em học giỏi, vì xã hội tạo sức ép nên mới có bệnh thành tích (?). Tôi không hiểu có phải ý ông kết luận rằng muốn chống buôn lậu, phải chống người chuộng hàng tốt, rẻ; muốn chống bệnh thành tích, phải cải tạo tâm lý xã hội, điều chỉnh lại ước mơ của các cháu học sinh?
Phụ huynh nào chẳng muốn con em học giỏi, nhưng họ muốn con em mình thực sự được rèn luyện, đạt thành tích có chất lượng, không ai muốn các em mang về một thành tích gian dối, một tấm bằng giả mạo. Lẽ đơn giản chính phụ huynh là người bỏ tiền thật cho con em ăn học và mai đây chúng không thể dùng khả năng giả đánh đố với cuộc sống.
Cách nói của ông Nhân phản ánh một não trạng rất cộng sản: Đảng lãnh đạo không có gì sai. Căn bịnh thành tích là xấu, nhưng không hoàn toàn do cơ chế mà còn do lỗi ở xã hội. Cách nói nầy chứng tỏ ông Nhân không can đảm nhận khuyết điểm; đẩy trái bóng qua chân người khác; không đụng vào cơ chế độc tài ngành ông lãnh đạo. Việc trả lời thư độc giả trên báo Tuổi Trẻ chỉ thực sự "vô tiến khoáng hậu" khi nào ông ta nhận lỗi cơ chế, và đưa ra phương cách sửa chữa cụ thể. Không làm việc nầy, hứa hẹn 10 năm giáo dục Việt Nam sẽ cất cánh chỉ là hưa hẹn suông, nếu không nói là láo.
Bệnh thành tích có mọi nơi, không riêng gì ngành giáo dục. Nó cùng tuổi với cuộc cách mạng vô sản Xô Viết, khi người ta muốn thay thế hiệu quả cạnh tranh bằng thi đua. Để tăng năng suất, lãnh đạo phát động các đợt thi đua; để ấn định mức độ phải làm, người ta đặt ra chỉ tiêu hoàn thành.Thi đua chào mừng các ngày lễ lớn, thi đua lập công dâng Đảng. Trong thời chiến tranh, đến gần ngày 2/9 hay 19/5, mức độ chém giết trên chiến trường càng khốc liệt do những đợt phát động lập công chào mừng ngày độc lập hay mừng ngày sinh nhật bác.
Hệ thống bình chọn 5 năm tiên tiến, chiến sĩ thi đua... kèm tiền thưởng chính là áp lực cấp dưới nói dối hàng loạt. Cá nhân nào báo cáo thật, sẽ ảnh hưởng tất cả những thành viên còn lại. Một người không đạt "tiên tiến", cả đơn vị bị cắt tiền thưởng. Nhiều thày cô giáo có lương tâm không muốn nói dối, nhưng không thể không nghĩ đến món tiền thưởng bù đắp vào đồng lương ít ỏi, hoặc nguy cơ bị cho thôi việc vì làm hại tập thể. Rõ ràng đó là hệ thống phản động và tàn nhẫn nhất mà người cộng sản có thể nghĩ ra, chỉ để đánh bóng cho tài lãnh đạo và hoàn toàn có hại cho xã hội.
Dù được chú ý thế nào, tôi không tin tưởng ông Nhân làm ra phép lạ; nhưng tôi lạc quan vào hệ thống giáo dục song song như tác giả gợi ý. Hệ thống nầy nằm ngoài tầm kiểm soát của Đảng. Học sinh/sinh viên đang cố gắng trau dồi chuyên môn thay vì phấn đấu lập thành tích với Đoàn, với Đảng. Không có tư tưởng Hồ Chí Minh, không có chủ nghĩa khoa học Maxist Leninist. Những con người mới đang được tạo ra, nhưng không phải để xây dựng cái chủ nghĩa không tưởng, bịp bợm mà là để đánh dấu chấm hết vào chuyện dài những giấc mơ của người cộng sản.
Một Thời Khói Lửa
Trần KhảiĐã hơn ba thập niên từ ngày Cuộc Chiến Việt Nam kết thúc. Thời gian 32 năm là trung bình nửa đời người, nhưng rất nhiều chiến binh một thời ra trận đó đã không sống đủ tới thời lượng này. Chết trẻ là số phận của rất nhiều thanh niên Việt, những người một thời ra trận, một thời liều thân, một thời gãy súng và một thời nhìn lại. Và bây giờ, may mắn cho những người còn nửa phần sau cuộc đời để hồi tưởng.
An Lộc Ðịa Sử Ghi Chiến Tích, Biệt Cách Dù Vị Quốc Vong Thân
Nguồn: bcdlldb.com
Tôi bắt đầu có chớm suy nghĩ về cuộc chiến vào năm Đệ Ngũ, khi còn ngồi học ở Trường Trung Học Trần Lục, Tân Định, Sài Gòn. Bây giờ hình như trường đổi tên là Trường Đồ Chiểu, hay Trường Nguyễn Đình Chiểu. Lớp Đệ Ngũ là cách gọi ngày xưa, nghe hệt như kiểu Tàu, với đủ thứ cách dùng chữ Hán-Việt thời đó. Bây giờ gọi là Lớp 8, nằm trong hệ trung học 12 năm.
Trong lớp lúc đó, khoảng giữa thập niên 1960s, tuổi thơ hầu hết không biết gì về chiến cuộc. Đó là những cái gì rất xa, ngoài cổng trường. Ngay cả các biến động như chuyện đảo chánh, thì chỉ là chuyện rất thỉnh thoảng mới nghe, mà nghe như chuyện người khác. Hay chuyện biểu tình thì nghe thường hơn, vì có khi bị các anh sinh viên xách động biểu tình; tôi nhớ lúc đó, có những lúc trường bãi khóa, đóng cửa, học trò ra về thì tôi và tên bạn nhóc tì về tham dự các cuộc biểu tình gần Chùa Xá Lợi, nghĩa là đạp xe đạp về gần nhà, gửi xe ở nhà tên bạn nơi đường rầy xe lửa, rồi mới theo biểu tình vì ham vui, vì nhóc tì mà biết gì. Thời đó còn có chuyện sinh viên học sinh tự do biểu tình mà không sợ bị cảnh sát bắt, không sợ bị đuổi học.
Trong lớp Đệ Ngũ có một nhóm mấy bạn thuộc loại to con lớn xác, ưa ngồi chung một băng ghế phía sau. Nhóm khoảng 5 bạn này to con có lẽ vì lớn hơn trung bình lứa của chúng tôi một hay hai tuổi. Các bạn này lại ở chung trong một xóm đạo đường Trương Minh Giảng, sau đổi tên là đường Trương Minh Ký. Nghĩa là nguyên băng, nhóm bạn này là Bắc Kỳ di cư. Không phải nhắc chuyện địa phương là kỳ thị gì, nhưng vì lúc đó người Bắc di cư (tất nhiên là di cư 1954, không phải Bắc Kỳ 1975) thường tìm cách sống gần nhau, đặc biệt nếu theo cùng đạo Công Giáo. Chuyện tự nhiên, vì họ cũng chia sẻ những thói quen như nhau. Sau đó mới có những xóm gần như thuần Bắc Kỳ như xóm Vườn Xoài, Xóm Nhà Thờ Ba Chuông, vân vân… mà những khi tôi đạp xe đạp xuyên qua các xóm này để chạy đường hẽm, lối tắt sang khu Hòa Hưng ở đường Nguyễn Thông và Lê Văn Duyệt (sau có tên Cách Mạng Tháng 8) thì nghe nói chuyện râm ran quanh mình toàn là giọng Bắc. Với một tên học trò như tôi thì thấy giọng Bắc là tự nhiên, vì giọng mình cũng là lai lai rồi - ba tôi Hà Tĩnh, mẹ Nha Trang, sinh tôi ở Sài Gòn. Nhưng khi những giọng Bắc này trở thành ký ức, và bây giờ nhớ lại thì lại trở thành những âm vang khó tìm. Thực sự, giọng Bắc Kỳ 1975 nghe không giống gì như giọng Bắc xưa. Không phải tôi có ý kỳ thị gì chuyện giọng nói 75 hay 54, mà thực sự các giọng khác nhau nhiều lắm.
Một hôm, nhóm bạn ngồi hàng ghế sau của lớp Đệ Ngũ đó biến mất. Người ta không thấy các bạn này nữa. Tôi cũng không nghe thầy cô nào nói về các bạn đó, một cách công khai trong lớp, dù rằng hiện tượng bỗng nhiên biến mất vài tên học trò đâu có phải là chuyện thường. Tôi chỉ nghe tên bạn cùng lớp, nhưng cùng xóm Vườn Xoài với mấy bạn kia, nói rằng các bạn đó đi lính Nhảy Toán, với giấy tờ khai tăng tuổi. Khoảng đó là vài năm sau khi ông Diệm sụp đổ, cuộc chiến căng thẳng hơn, nhưng chưa tới dữ dội bùng nổ như thời 1968 Mậu Thân sau này. Đó là lần đầu tiên tôi nghe chữ Nhảy Toán. Tên bạn nhóc tì đó có lần lại nói chữ khác về nhóm bạn này, đó là lính Nhảy Bắc. Lúc đó tôi mới hiểu sơ sơ về công việc mà các bạn kia lựa chọn. Những tên học trò Đệ Ngũ to con, nói giọng thuần Bắc Kỳ, một hôm lên đường nhảy ra Miền Bắc.
Nhưng chính xác, sau này đọc, tôi mới được đọc danh xưng chính thức như Biệt Cách Dù, hay Biệt Cách Nhảy Dù, hay Nha Kỹ Thuật, Lôi Hổ, và nhiều chữ khác. Những danh xưng chỉ cho các đơn vị khác nhau, nhưng đều là cảm tử quân nhảy vào sau phòng tuyến địch.
Vài năm sau chuyện đó, tôi được nghe kể các bạn ngồi hàng ghế sau đó đã cùng tới nhà vài vị thầy cô để chào từ giã trước khi rời trường để vào lính Nhảy Bắc. Trong những thầy cô trường Trần Lục được các bạn này tới từ giã, tôi nghe có cô Oanh dạy Việt Văn và thầy Giáp dạy Lý Hóa, một cặp vợ chồng cùng dạy trong trường và được học trò ưa chuộng. Cả hai thầy cô cũng là Bắc Kỳ 1954, nhưng cư ngụ ở ngoài các xóm quần cư nói trên.
Từ đó về sau, tôi không nghe tin gì về các bạn đó nữa. Và trí nhớ cũng nhạt dần, với quá nhiều chuyện để lo trong đời. Những bạn đó chỉ là vài giọt trong một đại dương đầy đau khổ của cõi này.
Năm ngoái, tôi lại chợt nhớ tới các bạn lớp Đệ Ngũ này, khi nghe Đài RFA. Bài tường thuật nhan đề “Sự bất công với một đạo quân, 30 năm sau ngày tàn cuộc chiến” loan đi ngày 30/04/2006, do phóng viên Việt Long, kể về một hội nghị do Trung Tâm Việt Nam của đại học Texas Tech tổ chức tại Lubbock, Texas hồi cuối tháng 3-2006 với “các chuyên gia, sử gia và nhân chứng người Mỹ người Việt…”
Trong đó, bản tin viết,
sử gia tiến sĩ James Willbank, nguyên là một sĩ quan cố vấn Mỹ ở mặt trận An Lộc, nói về các đơn vị Việt Nam Cộng hoà chiến đấu ở nơi này.
Ông nói rằng giữa những đổ nát hoang tàn ở chiến trường An Lộc, người chiến sĩ VNCH giữ vững tinh thần chiến đấu cao, thấy được rằng họ giữ một vai trò quan trọng trong công cụôc phòng thủ đất nước của họ. Trận An Lộc là dịp tốt nhất để nhận định về sức chiến đấu của một binh đội trong những tình huống ác liệt nhất của chiến tranh.
Các đơn vị VNCH có những mức độ thiện chiến khác nhau, nhưng nhìn chung đều hoàn thành nhiệm vụ. Ông đặc biệt ca ngợi Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù vô cùng dũng cảm, đã đánh suốt một đêm để tái chiếm hơn nửa thành phố bị địch chiếm giữ, chịu tổn thất cao, nhưng không bỏ sót một tử sĩ nào mà không chôn cất. Lữ đoàn Nhảy dù đặc nhiệm tham chiến ở nơi này tỏ ra thiện chiến ở mức tuyệt đỉnh. Họ gồm toàn những chiến binh từng được huấn luyện kỹ càng, dạn dày chiến trận, dũng cảm xông pha giữa một chiến trường mà đối phương hơn hẳn về hoả lực và quân số…” (hết trích)
Và rồi tuần này, lại có dịp nhớ tới các bạn năm xưa, khi cầm cuốn tuyển tập Đời Chiến Binh của Biệt Cách Dù. Bùi ngùi, thương cảm. Một trí nhớ cũng đầy sương mù rồi.
Tôi không phải sử gia, không phải tiến sĩ, và thời đó cũng chỉ là một cậu bé chưa đủ trí nhớ và bén nhạy để sau này tự nhận làm nhân chứng, chỉ có vài mẩu trí nhớ cho những người bạn Nhảy Bắc đó, một thời ngồi hàng ghế sau của lớp Đệ Ngũ B2 ở Trường Trần Lục.
Không có gì đoán nổi rằng các bạn này còn sống. Bởi vì, sau này đọc, gần như tất cả các chiến binh Nhảy Bắc đều bị CSVN bắt. Và nhiều thập niên trong tù không chắc gì các bạn này trải qua đầy đủ an lành. Không chắc gì các bạn tôi đã về được Xóm Vườn Xoài của thời thơ ấu, nơi tôi và nhiều bạn nhóc tì thường đi xe đạp từ ngõ Trương Minh Ký tồi chạy qua nhiều ngõ ngoằn ngèo ra mép đường xe lửa, đạp qua một chiếc cầu kênh nước đen để qua sau nhà ga Hòa Hưng.
Chắc chắn, tôi tin, nếu các bạn đó may mắn rời các nhà tù phía Bắc để về lại Vườn Xoài, xóm mà tôi cứ nhớ là thuần Bắc Kỳ di cư dù sau này nhiều dân xứ Quảng cũng vào cư ngụ, thì các bạn cũng không thể quên nổi một thời thơ ấu Sài Gòn. Nơi đó, tiếng còi xe lửa từ ga Hòa Hưng vọng về mỗi sáng cũng khác với tiếng còi bây giờ. Tiếng còi ngày xưa là tiếng còi của mình, của những tuổi thơ chồm dậy chờ tới giờ đi học và rồi tới ngày ra trận. Tiếng còi bây giờ là tiếng còi của người ta, của nỗi lo của mình, của những người công an tới tìm xét hộ khẩu và hạch hỏi giấy tạm vắng, tạm trú… Bao giờ ngăn cách này xóa nhòa đi? Đây không phải thuần là chuyện của trí nhớ, mà còn là chuyện của thực tại.
Của người ta? Thực sự, sau 1975, có vài người anh họ của tôi từ Hà Tĩnh vào Nam. Họ cũng may mắn thoát chết, và kể cho cha tôi và tôi về các thăng trầm của những người mà cha tôi còn nhớ tên. Về những người con, người chaú của các bạn thời thơ ấu của cha tôi. Về tên những người trong họ tôi đã chết trên đường theo bộ đội Bắc Việt vượt Trường Sơn vào nam. Và cả các điạ danh rất là xa lạ với tôi. Cũng bùi ngùi.
Bây giờ, tất cả đều là trí nhớ của sương khói. Cha tôi đã mất. Tóc tôi cũng đã bạc. Thời gian trôi mau.
Nếu các bạn một thời Đệ Ngũ của tôi đã chết, xin cầu nguyện cho các bạn về nơi cõi an lành. Nếu các bạn còn trên cõi đời này, xin chúc các bạn an lành. Hình ảnh các bạn nơi băng ghế sau lớp Đệ Ngũ lúc nào cũng in trong trí nhớ của tôi, một tên học trò còn rất ngây thơ trong đời. Và nơi đây cũng xin cho tất cả các chiến binh hai miền, trong đó có những người anh em họ mà tôi không hề biết mặt và là con của những người mà cha tôi từng nhắc tên, được bình an, dù ở cõi trời hay cõi người.
Những gì hôm nay những người còn lại đang làm, rồi sẽ là để hoàn thành ước mơ của các bạn đã biến mất đó. Ước mơ về một nước Việt Nam tự do, dân chủ và phú cường thực sự.
Thư mục:
Đất nước - Con người
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
