Thứ Ba, 3 tháng 7, 2007

10 Dân Biểu Hoa Kỳ gởi thư cho TT. Bush về tình trạng nhân quyền tại Việt Nam

Quốc Hội Hoa Kỳ
Hoa Thịnh Đốn, DC 20515
21 tháng Sáu, 2007

Thưa Ngài Tổng Thống:

Chúng tôi quan ngại sâu xa về tình trạng nhân quyền tại Việt Nam, và chuyến công du Hoa Kỳ sắp tới của chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã làm cho chúng tôi băn khoăn rất nhiều. Chúng tôi tin tưởng rằng chính phủ Việt Nam phải hiểu hệ quả của sự ngược đãi công dân của họ. Trong chiều hướng đó, chúng tôi viết bức thư hôm nay để yêu cầu ngài ghi Việt Nam lại vào danh sách “các nước cần đặc biệt quan tâm” (CPC) theo đạo luật Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế 1998. Hành động này là một thông điệp ngoại giao thích đáng rằng mối quan hệ Mỹ-Việt đang bị tổn thương bởi những hành động bắt bớ, hạn chế, vi phạm nhân quyền và hạn chế tự do tôn giáo của những nhà vận động cho dân chủ như linh mục Nguyễn Văn Lý, Nguyễn Văn Đài, Võ Văn Thanh Liêm, Trần Văn Hòa, Thích Huyền Quang và Thích Quãng Độ.

Trong vài tháng vừa qua, như ngài đã lưu ý trong bài diễn văn tại Prague, Việt nam đã bắt bớ hàng chục nhà “bất đồng chính kiến về tôn giáo và chính trị”. Thêm vào đó, dựa theo Ủy ban quốc tế về tự do tôn giáo (NSCIRF), trong năm vừa qua đã có nhiều vụ giam cầm ngắn hạn, sách nhiễu, và các giới hạn trong cộng đồng tôn giáo tại Việt Nam, nhắm vào dân tộc thiểu số theo đạo Tin Lành, dân tộc Khmer theo đạo Phật, Hòa Hảo, và nhiều vị lãnh đạo của Giáo Hội Phật Giáo Thống Nhất Việt Nam. Chính phủ Việt Nam cố gắng kiểm soát sự phát triển và hoạt động của các tôn giáo và bắt bớ các vị lãnh đạo tôn giáo bị tình nghi là thách thức hệ thống độc quyền chính trị của đảng cộng sản.

Chúng tôi cho rằng việc bắt bớ và giam cầm gần đây đối với linh mục Nguyễn Văn Lý, Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân là những vụ vi phạm quan trọng để có thể tái đặt Việt Nam vào danh sách những “quốc gia cần đặc biệt quan tâm” (CPC). Linh mục Ly và Nguyễn Văn Đài đã bị kết án về tội “tuyên truyền chống nhà nước” và “sưu tầm những tài liệu đàn áp tôn giáo của Việt Nam” để phát tán đến “những thế lực thù địch hải ngoại”, trong đó có National endowment for Democracy. Các nhà lãnh đạo tôn giáo và những nhà hoạt động có liên quan đến lãnh vực tôn giáo đã trở thành những tiếng nói hàng đầu trong các nhà bất đồng chính kiến tại Việt Nam. Những người này đã thành lập các tổ chức về tự do ngôn luận, dân chủ và nhân quyền để bảo đảm một sự thăng tiến về tự do tôn giáo lâu dài. Họ tin rằng sự cải tổ về hệ thống pháp luật và chính trị là điều cần thiết để bảo vệ tối đa nhân quyền của công dân Việt Nam trước sự chuyên quyền, độc đoán quyền lực của chính quyền Việt Nam.

Chúng tôi tin tưởng rằng đưa Việt Nam vào danh sách CPC sẽ cho Việt Nam thấy rằng quan hệ Việt- Mỹ không chỉ là mậu dịch. Thêm vào đó, chúng tôi tin rằng nếu ghi Việt Nam vào danh sách CPC thì bộ Ngoại Giao sẽ có nhiều sự lựa chọn để áp dụng đối với Việt Nam trong khi nhiều vụ đàn áp tôn giáo và chính trị đang diễn ra.

Trân trọng,

- Zoe Lofgren, Dân biểu quốc hội
- Frank R. Wolf, Dân biểu quốc hội
- Loretta Sanchez, Dân biểu quốc hội
- Joseph R. Pitts, Dân biểu quốc hội
- Robert B. Aderholt, Dân biểu quốc hội
- Dan Burton, Dân biểu quốc hội
- Luis V. Gutierrez, Dân biểu quốc hội
- Thaddeus G. McCotter, Dân biểu quốc hội
- Janice D. Schakowsky, Dân biểu quốc hội
- Christopher H. Smith, Dân biểu quốc hội.


Tâm thư của LMDCNQVN viết sau chuyến Mỹ du của Nguyễn Minh Triết

LIÊN MINH DÂN CHỦ NHÂN QUYỀN VIỆT NAM
Alliance for Democracy and Human Rights for Viet Nam
vplmdcnqvn@gmail.com

Tâm thư
của Liên Minh Dân Chủ Nhân Quyền Việt Nam
( viết sau chuyến Mỹ du của Nguyễn Minh Triết )

Kính gởi Mọi Người Yêu Chuộng Tự Do trên khắp Thế giới,
đặc biệt các nhà Lãnh Ðạo Hành Pháp và Lập Pháp Hoa Kỳ;
Kính gửi Đồng Bào Việt Nam Trong và Ngoài Nước.


Tổng Thống và chính giới Hoa Kỳ đã đặc biệt quan tâm
đến cuộc đấu tranh cho dân chủ tại quê nhà

Thật là một sự an ủi, khích lệ lớn lao cho nhân dân Việt Nam nói chung và Liên Minh Dân Chủ Nhân Quyền Việt Nam chúng tôi nói riêng khi được biết thái độ và thông điệp không thể nhầm lẫn mà thế giới tự do đã gởi đến phái đoàn của ông Nguyễn Minh Triết và cả chế độ độc tài cộng sản Việt Nam nhân chuyến viếng thăm Hoa Kỳ của phái đoàn này từ ngày 16 đến 23/6/2007 vừa qua:

- Sự tiếp đón lạnh nhạt của cả Hành Pháp và Lập Pháp Hoa Kỳ đã bày tỏ rõ ràng sự bất bình về những vi phạm nhân quyền trầm trọng và những thất hứa liên tục của chế độ cộng sản Việt Nam;

- Việc thẳng thắn đặt vấn đề nhân quyền với ông Triết đã làm nổi bật nét lạc hậu thảm thương và đầy nhẫn tâm của chế độ cộng sản Việt Nam đối với dân tộc Việt Nam ở đầu thế kỷ 21;

- Việc các nhà lãnh đạo Hoa Kỳ đón tiếp các tổ chức đấu tranh cho dân chủ Việt Nam trước và sau cuộc Mỹ du của ông Triết đã nói rõ ước vọng của thế giới về một tương lai khác cho nhân dân Việt Nam.

Liên Minh Dân Chủ Nhân Quyền Việt Nam chân thành tri ân sự quan tâm và ủng hộ của chính phủ Hoa Kỳ đối với công cuộc đấu tranh đòi tự do và dân chủ của dân tộc chúng tôi.

Cuộc đấu tranh của người Việt hải ngoại
phản đối chế độ độc tài dịp Nguyễn Minh Triết qua Hoa Kỳ

Liên Minh Dân Chủ Nhân Quyền Việt Nam cũng xin nhiệt liệt tán dương tinh thần yêu nước và đấu tranh bền bỉ của người Việt hải ngoại cho mục tiêu tự do dân chủ trên quê hương. Chúng tôi rất cảm động khi thấy tinh thần này biểu lộ qua những cuộc biểu tình đông đảo và đầy khí thế đối với phái đoàn Nguyễn Minh Triết tại Hoa Kỳ trong suốt chuyến Mỹ du của họ vừa qua; và qua đủ mọi cách hiệp thông với cuộc tranh đấu này của đồng bào người Việt khắp nơi trên thế giới như biểu tình, diễn hành, thắp nến cầu nguyện cho tự do dân chủ…

Chúng tôi đặc biệt cảm kích trước những biểu ngữ nói thay cho đồng bào trong nước đang bị bịt miệng, mà tiêu biểu nhất là bức hình cho Cha Lý trước toà án chế độ. Quả thật, đồng bào hải ngoại đang đấu tranh không cho chính mình, mà hoàn toàn cho đất nước và dân tộc. Với những hình thức đấu tranh như thế, đồng bào hải ngoại đã trở thành những chiến sĩ hoà bình, biến hậu phương nơi mình đang sinh sống thành tiền tuyến, vạch trần bộ mặt thật của chế độ độc tài cộng sản Việt Nam trước thế giới.

Qua những cuộc biểu tình này, đồng bào trong nước, đặc biệt các nhà đấu tranh dân chủ, không còn cảm thấy cô đơn mà luôn được sự hậu thuẫn mạnh mẽ của đồng bào ruột thịt hải ngoại. Qua những cuộc biểu tình này, người Việt hải ngoại đã khích lệ đồng bào trong nước cách hữu hiệu nhất, giúp chúng tôi vượt thắng chính mình để mạnh dạn đấu tranh.

Liên Minh Dân Chủ Nhân Quyền Việt Nam xin đồng bào hải ngoại hãy tiếp tục truyền thống đấu tranh như thế.

Cả thế giới kinh nghiệm sâu sắc về tính dối trá của cộng sản
nhờ cuộc công du qua Hoa Kỳ của Nguyễn Minh Triết

Ngoài ra phải nói rằng chính nhờ Nguyễn Minh Triết sang tận Hoa Kỳ và bị chất vấn về nhân quyền mà người Mỹ và thế giới mới kinh nghiệm cụ thể hơn sự giả dối trắng trợn và vô liêm sỉ của cộng sản. Sau vụ Lm Nguyễn Văn Lý bị xét xử và bị bịt miệng ngay trong tòa án, thế giới đã thấy rõ tình trạng đàn áp nhân quyền tại Việt Nam. Thế mà khi bị chất vấn về tình trạng này, Nguyễn Minh Triết vẫn thản nhiên chối phăng.

Người Mỹ đã được chứng kiến tận mắt sự nhục nhã mà ông Nguyễn Minh Triết phải lãnh đủ như bị người Việt hải ngoại phản đối mãnh liệt, phải chui vào cửa hậu mỗi khi muốn vào các cơ quan của Hoa Kỳ, bị tiếp đón một cách lạnh nhạt, sơ sài, không như những vị nguyên thủ quốc gia khác. Thế nhưng các tờ báo và các phương tiện truyền thông công cụ trong nước thì tuyên truyền với những hình ảnh gán ghép giả tạo rằng ông đã được chính giới và doanh giới Hoa Kỳ cũng như đồng bào hải ngoại tiếp đón rất nồng nhiệt…

Ngoài ra, 600 tờ báo của Cộng sản Việt Nam, không một tờ nào đăng những tin quan trọng mà hầu như nước nào trên thế giới cũng có báo đăng như:

- Tổng Thống Bush mời 4 nhà dân chủ đại diện cho các tổ chức đấu tranh hải ngoại đến Tòa Bạch Ốc để bàn chuyện về vấn đề dân chủ Việt Nam; Hoa Kỳ nghênh đón Nguyễn Minh Triết một cách sơ sài, không như những vị nguyên thủ quốc gia khác; Khi tiếp ông Triết, Tổng thống Bush “nói rất rõ” về vấn đề nhân quyền; Các dân biểu Hoa Kỳ cũng đặt nặng vấn đề nhân quyền, tình trạng đàn áp dân chủ tại Việt Nam với ông tại phòng Chủ tịch Hạ viện; Không có một thông cáo chung giữa hai nguyên thủ quốc gia như thông lệ ngoại giao bình thường; Nguyễn Minh Triết đi đâu cũng bị đông đảo đồng bào Việt Nam hải ngoại biểu tình phản đối, đả đảo, đến cơ quan nào của Hoa Kỳ cũng phải lén lút đi vào cửa hậu. V.v…

- Nhiều bình luận gia ngoại quốc cho rằng cuộc Mỹ du của Nguyễn Minh Triết đã bị thất bại nặng nề về ngoại giao và chính trị. Nhưng báo chí trong nước lại ca tụng chuyến đi của ông là rất thành công. Họ trưng ra những “sự kiện” mà người ngoài nước có thể kiểm chứng và biết ngay là bịa đặt. Chẳng hạn: Báo cộng sản Việt Nam loan tin là có 1000 “Việt Kiều” tới nghe Nguyễn Minh Triết nói chuyện vào đêm 22 tháng 6 tại Dana Point, California (*). Nhiều tờ báo về sau đã giảm xuống thành 800, 600. Trong khi ấy, khách sạn mà phái đoàn Nguyễn Minh Triết chỉ có thể chiêu đãi được tối đa là 660 người. Mặt khác, tổng số bàn tiệc hôm đó chỉ có 27 bàn, nếu đủ người ngồi thì chỉ khoảng 270 người. Nguyên phái đoàn cộng sản và du học sinh đã chiếm 225 chỗ. Nếu người Việt hải ngoại chiếm hết những chỗ còn lại thì cũng chỉ 45 người là cùng (**).

Những điều ấy cho thấy báo chí của cộng sản chỉ đưa những tin dối trá để lường gạt người dân trong nước vốn bị bưng bít thông tin.

Bài diễn văn của Nguyễn Minh Triết trong bữa tiệc ấy rất mùi mẫn, đầy giọng đạo đức giả. Chẳng hạn có những câu như:

- “Chúng ta là người Việt Nam, dù quá khứ thế nào đi nữa, bây giờ hãy yêu thương nhau, đoàn kết với nhau vì chúng ta cùng một mẹ hiền Việt Nam, cùng hướng về Việt Nam”; hay

- “Trong gia đình, bạn bè có lúc còn đánh nhau. Bây giờ, chúng ta hãy cùng gác lại tất cả, hãy cùng đoàn kết, góp phần xây dựng một Việt Nam hùng cường, vững mạnh, sánh vai cùng bạn bè năm châu”.

- “Sống trên đời để làm gì? Các bạn có đặt câu hỏi đó không? Sống trên đời không phải để thù hận mà chính là để yêu thương nhau”

Người ta không thể tưởng tượng được kẻ nói những câu này lại là người lãnh đạo bộ máy vừa mới đàn áp và kết án hàng 5,6 đến 8 năm tù các nhà đấu tranh dân chủ trong nước chỉ vì họ lên tiếng ôn hòa đòi tôn trọng nhân quyền và tự do dân chủ. Thực tế là ông đã “yêu thương” nhân dân của ông theo kiểu ai không cùng ý kiến với ông là ông khủng bố, bách hại, thủ tiêu họ. Nghe những câu trên người ta dễ liên tưởng đến giọng ngọt ngào của con chó sói nói với cô bé quàng khăn đỏ trước khi ăn thịt cô bé trong chuyện cổ tích trẻ con.

Ông còn giả bộ muốn đón nhận và đối thoại với những người bất đồng với mình, với đoàn biểu tình đông đảo mà ông nói là “một số ít” với những câu như:

- “Nếu ai đó còn có ngần ngại, còn có bất đồng, chúng ta hãy nói với các bạn ấy rằng mẹ hiền Việt Nam lúc nào cũng dang rộng cánh tay đón nhận tất cả những người con của mình về với Tổ quốc. Không có lý do gì, sự bất đồng gì ngăn cản sự đoàn kết, thống nhất quốc gia trong sự nghiệp phát triển, xây dựng đất nước của chúng ta”

- “Trên đường đến đây hôm nay, tôi thấy một số ít bà con người Việt tụ tập, phản đối. Nói thật, tôi muốn xuống bắt tay họ, tôi muốn mời họ dự cuộc gặp hôm nay, để chúng ta cùng nói với nhau những lời chân thành, thẳng thắn”.

Thật là giả dối: ông không hề muốn bắt tay hay nói chuyện chân thành với các nhà dân chủ trong nước là những người luôn luôn muốn đối thoại với ông; trái lại chỉ tìm cách đe dọa, sách nhiễu, bỏ tù hoặc sẵn sàng giết chết họ. Còn ở Mỹ thì ông giở giọng mong nói chuyện chân thành với những người đang biểu tình phản đối ông! Ngay cả lời ông nói muốn bắt tay và nói chuyện với những người Việt hải ngoại cũng chỉ là những lời đãi bôi. Nếu thực tình ông muốn vậy, tại sao ông không làm như hai Tổng Thống Bill Clinton và Georges Bush khi đến Việt Nam đã xuống đường bắt tay, tiếp xúc với dân chúng và được dân chúng hoan hô nhiệt liệt?

Trong bài diễn văn tại Dana Point, Nguyễn Minh Triết vẫn tiếp tục áp dụng chủ trương “đánh lận con đen” cố hữu của người cộng sản, đó là đồng hóa tổ quốc, đất nước, quê hương, dân tộc với đảng và nhà nước cộng sản. Mục đích là để dẫn dụ cách ấu trĩ người Việt ở hải ngoại về thăm và làm việc tại quê hương hầu làm lợi cho đảng cộng sản và bộ máy cai trị của đảng…

Những đề nghị của Liên Minh Dân Chủ Nhân Quyền Việt Nam

a) Với người Việt trong và ngoài nước

Trước xu hướng thuận lợi cho phong trào dân chủ Việt Nam hiện nay, Liên Minh Dân Chủ Nhân Quyền Việt Nam xin đề nghị:

- Phát triển kinh tế phải đi đôi với thay đổi chính trị

Các nước trong thế giới tự do, khi giao thiệp thương mãi hoặc khi viện trợ cho Việt Nam, nên đòi buộc cộng sản Việt Nam phải gắn liền việc phát triển kinh tế với việc tôn trọng nhân quyền và việc thực thi dân chủ. Việc phát triển kinh tế không thể tiến xa được nếu không có sự tiến bộ chính trị. Cũng như để đi tới, người ta không thể chỉ bước có một chân.

- Liên kết chặt chẽ hơn giữa các lực lượng dân chủ Việt Nam

Các lực lượng dân chủ trong và ngoài nước cần liên kết với nhau chặt chẽ hơn nữa để tận dụng thời cơ thuận lợi hiện tại cho nỗ lực gỡ bỏ chế độ độc tài và xây dựng lại đất nước. Hãy cùng bàn thảo để tìm ra phương thức liên kết tốt nhất.

- Liên kết với các lực lượng đấu tranh dân chủ trên thế giới

Các lực lượng đấu tranh trong và ngoài nước cũng cần liên kết với các lực lượng đấu tranh dân chủ ở các nước khác, để có tiếng nói mạnh hơn trước thế giới, để cùng lên tiếng bênh vực, bảo vệ và nâng đỡ nhau khi bất kỳ một tập thể nào bị nhà nước độc tài của họ đàn áp.

- Người Việt hải ngoại hãy mạnh dạn về Việt Nam

Chấp thuận cho người Việt hải ngoại về quê không cần visa, có hai quốc tịch một lượt, có thể mua nhà mua đất ở Việt Nam… Cộng sản Việt Nam nhắm cái lợi của họ hơn của đồng bào. Thiết tưởng chúng ta nên lợi dụng điều này cho mục đích tranh đấu. Ðồng bào Việt Nam Hải Ngoại có thể đóng góp trực tiếp cho công cuộc đấu tranh tại quê nhà bằng cách:

* Mang sứ điệp dân chủ về. Mỗi người về Việt Nam phải là một sứ giả của dân chủ. Nghĩa là đi đến đâu, gặp bất kỳ ai tại Việt Nam, ta nên tìm cách nói về sự ưu việt và sự cần thiết của tự do dân chủ, nâng cao ý thức về dân chủ, nhân quyền và dân quyền của người dân lên.

* Tìm cách đến thăm các nhà đấu tranh dân chủ trong nước, những dân oan bị mất đất đai nhà cửa cách bất công, các nạn nhân bị Trung Quốc bắn chết ở Thanh hóa vì sự nhượng biển của nhà cầm quyền Việt Nam… Đừng sợ công an làm phiền. Nếu ai về cũng đều làm những việc trên thì công an không thể ngăn cản hàng ngàn người như thế được.

Bức tường Bá-Linh sở dĩ sụp đổ ngày 9-11-1989 là do đông đảo người dân Đông và Tây Đức thường xuyên qua lại với nhau, mang sứ điệp dân chủ đến cho nhau, phá vỡ sự bưng bít thông tin của cộng sản…

b) Với nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam

- Hãy từ bỏ tham vọng nắm mãi độc quyền cai trị đất nước

Bộ Chính Trị Cộng sản Việt Nam hãy sáng suốt từ bỏ tham vọng nắm mãi mãi độc quyền cai trị đất nước. Đã đến lúc người dân Việt và thế giới tự do không để cho sự phi lý ấy tồn tại mãi. Kẻ nào không chiều theo xu thế của lịch sử, kẻ ấy sẽ bị bánh xe lịch sử nghiền nát. Xu thế của thời đại là xu thế dân chủ. Các chế độ độc tài cộng sản trên thế giới hầu hết đã chuyển thành chế độ dân chủ, khởi đầu là các nước cộng sản ở Đông Âu. Việt Nam cũng sẽ phải như thế thôi.

- Hãy tự chuyển đổi sang thể chế tự do dân chủ và đa đảng

Cách tốt nhất để người cộng sản có thể chuyển từ có tội thành có công, mà cũng là cách sáng suốt nhất để được an toàn, đó là sẵn sàng tự mình chuyển đổi từ thể chế độc tài độc đảng sang thể chế dân chủ đa đảng, tôn trọng nhân quyền và dân quyền. Như vậy sẽ tránh cho mình khỏi tội ác gây đổ máu khi người dân quyết tâm đứng dậy để thay đổi chế độ. Nếu lúc đó mới chịu thay đổi thì đã quá muộn rồi.

- Đối thoại xây dựng với các nhà dân chủ

Để thực hiện sự tự thay đổi ấy, Bộ Chính trị hãy đối thoại với các nhà dân chủ để cùng tìm ra con đường tốt nhất cho đất nước. Với quyết định này, họ sẽ được toàn dân ủng hộ. Trường hợp Mikhail Gorbachev, Boris Yeltsin…là những trường hợp điển hình: họ trở thành những người có công với đất nước và được toàn dân ghi ơn, vì nhờ họ mà việc chuyển đổi chế độ đã tiết kiệm được biết bao xương máu, công sức của nhân dân.

- Ngưng tất cả mọi cuộc đàn áp các nhà dân chủ, dân oan, công nhân…

Để tiến hành đối thoại, việc đầu tiên là phải trả tự do cho các nhà tranh đấu dân chủ hiện đang bị giam giữ, ngưng đàn áp các nhà đấu tranh dân chủ đang bị quản thúc, theo dõi, đồng thời thỏa mãn các đòi hỏi chính đáng của người lao động, giải quyết đền bù công bằng cho người dân bị mất đất đai nhà cửa cách bất công…

Kinh nghiệm cho thấy việc đàn áp các nhà dân chủ và dân chúng không đem lại kết quả tốt đẹp gì cho đảng và nhà nước Cộng sản. Trái lại nó chỉ làm cho toàn dân, nhất là giới trí thức, sinh viên nhìn ra bộ mặt giả trá, phi nhân, tàn ác của chế độ mà thôi. Đã tới lúc người dân không còn sợ sự khủng bố vốn đã quá đáng đối với dân tộc rồi… Nếu đảng và nhà nước cộng sản cứ tiếp tục gây tội ác, tiếp tục đàn áp người dân, chắc chắn họ sẽ phải chung số phận với Nicolae Ceausescu, Erich Honecker, Saddam Hussein…


Việt Nam, ngày 02 tháng 7 năm 2007.

Ban Điều hành:

1 – Kỹ sư Đỗ Nam Hải, Sài Gòn
2 − Giáo sư Nguyễn Chính Kết, Sài Gòn
3 − Cựu Sĩ quan Trần Anh Kim, Thái Bình
4 − Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, Hoa Kỳ.


___________________________________
(*) Xem http://www.vietnamnet.vn/chinhtri/chuyenthammy/2007/06/709761
(**) Xem http://s152542055.onlinehome.us/xoops4/modules/news/

Trái tim Aline

Thả người bất đồng chính kiến: trò lừa bịp

DCVOnline – Phỏng vấn Nguyễn Quốc Quân

Một số người Việt hải ngoại tham gia vận động cho dân chủ và nhân quyền Việt Nam và hai tổ chức quốc tế vừa gặp gỡ Hội đồng An ninh Quốc gia Hoa Kỳ hôm 27/06/2007 với mục đích chủ yếu là để nghe Hội đồng An ninh Quốc Gia trình bày lại về nội dung trao đổi giữa tổng thống G.W. Bush và chủ tịch nước Việt Nam Nguyễn Minh Triết hôm 22/6.

Thả 3 người không cùng chính kiến trước khi Chủ tịch Triết sang gặp Tổng thống Bush chung cuộc chỉ là một trò lừa bịp. Ai lừa, ai bị lừa? Mời bạn đọc theo dõi bài phỏng vấn một người đã vào nghe “off the record debriefing” của Hội đồng An ninh Quốc gia Hoa Kỳ.

Ông Nguyễn Quốc Quân, một người được mời tham dự cuộc họp đã cho Đàn Chim Việt biết rằng phía chính quyền Mỹ yêu cầu những tin tức về cuộc gặp của chủ tịch Triết và tổng thống Bush là “off the records debriefing” nên ông không thể trích dẫn lời nói của các viên chức chính phủ trong cuộc họp này.

Tuy nhiên ông Quân cho biết sẵn sàng bày tỏ các hiểu biết và một số thông tin dưới dạng phát biểu ý kiến cá nhân của ông.

Trước câu hỏi là mặc dù được phía chính phủ Mỹ yêu cầu, ông có nên giữ bí mật những thông tin này đối với những người Việt Nam có quan tâm hay không, ông Quân khẳng định “không phải là họ yêu cầu mình giữ bí mật” và nói rõ những người dự họp có thể phát biểu ý kiến riêng, “nhưng mà quý vị đừng có nhân danh chúng tôi (chính quyền Mỹ - DCV)”.

“Chúng tôi cũng cố gắng một phần nào chia sẻ được với đồng bào”, ông Quân nói.

Nghe: Audio 1




Những điều nói được

Cũng theo ông Nguyễn Quốc Quân, các viên chức của Hội đồng An ninh Quốc gia cho biết một trong những phần chính tổng thống Bush nêu ra trong buổi gặp gỡ hôm 22/6 với chủ tịch Triết chính là vấn đề nhân quyền.

Tổng thống Bush đã nhắc nhở chính quyền Việt Nam thông qua chủ tịch Triết rằng điều kiện cần phải có để phát triển sâu rộng hơn quan hệ Việt Mỹ chính là yếu tố nhân quyền. Ông Bush cũng công khai bày tỏ quan niệm về một xã hội mà người dân có những quyền tự do căn bản, trong đó có quyền tự do tôn giáo.

Ông Nguyễn Quốc Quân cũng suy đoán rằng có lẽ tổng thống Mỹ cũng đã đưa cho nhà cầm quyền Việt Nam một tín hiệu rõ ràng rằng “đây là một cơ hội, nếu quý vị muốn đưa Việt Nam trở thành một thành viên có uy tín trong cộng đồng quốc tế, nếu quý vị muốn đưa đất nước Việt Nam tiến lên thì đây là một cơ hội rất tốt. Nhưng nếu quý vị muốn tự mình phá huỷ tất cả những cơ hội này đi thì đó là quyền ở quý vị”

Về những quyền căn bản khác như quyền tự do thông tin, tự do lập hội… ông Quân cho biết “đây cũng là trong phạm vi chúng tôi không phát biểu được. Nhưng mà cá nhân tôi, tôi nghĩ hai ông (Bush và Triết – DCV), nhất là ông tổng thống Bush cũng đã nhắc đến tất cả, nhất là quyền tự do ngôn luận, tự do lập hội và tự do phát biểu ý kiến”.


Nghe: Audio 2



Kinh tế và nhân quyền

Trước câu hỏi liệu rằng những quyền lợi về kinh tế trong quan hệ Việt - Mỹ có lấn át vấn đề nhân quyền, dân chủ hay không, ông Nguyễn Quốc Quân cho rằng không những không phải thế mà ngược lại, đầu tư phát triển sẽ giúp nhân dân Việt Nam, nhất là giới trẻ có cơ hội để giao tiếp với thế giới bên ngoài.

“Thứ hai là giúp cho người dân Việt Nam có cơ hội có công ăn việc làm.

Thứ ba là giúp cho nhân dân Việt Nam có một tư thế độc lập về kinh tế đối với chính quyền. Và vì vậy, nhờ đó mà nó sẽ có một tầng lớp trung lưu mới độc lập về tài chánh đối với chính quyền và nó đã có tham vọng về kinh tế thì nó cũng có tham vọng về chính trị.

Nghĩa là nếu đã có thay đổi về kinh tế, về hạ tầng thì nó cũng sẽ đòi hỏi thượng tầng cũng phải thay đổi theo”.

Tuy nhiên, ông Quân cho rằng “phát triển kinh tế chỉ giúp đỡ nhân dân Việt Nam khi nó có đi đôi với nhân quyền”, và muốn thế thì các nhà đầu tư phải giao dịch trực tiếp với nhân dân Việt Nam mà không nên qua đảng cộng sản trong nước.

Cũng theo ông Quân, khi đầu tư càng phát triển bao nhiêu thì nhà cầm quyền càng khó kiểm soát bấy nhiêu về thông tin và điều này sẽ đưa đến thay đổi nhanh chóng.

Nghe: Audio 3



Các tổ chức quốc tế nói gì

Trong lần gặp mặt này có cả đại diện của Amnesty International và Human Right Watch.

Theo ông Quân, Human Right Watch đã nêu lên trường hợp các nhân vật bất đồng chính kiến bị bắt rất nhiều sau khi Hà Nội tổ chức Hội nghị thượng đỉnh APEC.

Tổ chức Amnesty International thì nhận xét có sự đồng nhất ý kiến giữa hành pháp và lập pháp Hoa Kỳ trong vấn đề nhân quyền ở Việt Nam và họ cũng muốn nhìn thấy kết quả cụ thể trong những ngày sắp đến.

Ông Quân cho hay những người có mặt cũng nhấn mạnh rằng ba người được nhà cầm quyền Hà Nội trả tự do “không phải là những người tính vào được”.

Cụ thể là ông Nguyễn Vũ Bình đã được hứa thả từ tháng 11/2007 khi tổng thống Bush sang Việt Nam và đến bây giờ mới thả.

Ông Lê Quốc Quân thì không phải được thả mà thực ra “chúng tôi có được tổ chức đã cấp học bổng cho ông ấy (National Endowment for Democracy, NED, DCV) họ nói rõ với chúng tôi là ông ấy được bailed out”, tức là đóng tiền để được tại ngoại hầu tra, ông Nguyễn Quốc Quân nói.

Ông Phan Văn Bàn đã được trả tự do từ mấy tháng trước và không liên quan gì đến chuyến đi của Nguyễn Minh Triết.

“Tóm lại là trong cái deal này họ vẫn cứ dùng thủ đoạn cù nhầy mà sự thực đếm ra thì không có ai cả”, ông Quân kết luận.

Hệ thống giáo dục song song

Hoàng Xuân Ba

Một hệ thống giáo dục song song là điều cực kỳ cần thiết để tạo tiền đề cho việc đổi mới hoàn toàn nền giáo dục Việt Nam (VN). Ý tưởng của bài viết này được gởi cảm hứng từ tư tưởng xây dựng một hệ thống song song trong tác phẩm kiệt xuất “Quyền lực của không quyền lực” do Havel, nhà bất đồng chính kiến nổi tiếng người Tiệp Khắc (cũ).

Đầu tiên bài viết sẽ mô tả căn bệnh trầm kha nhất của hệ thống giáo dục Việt Nam hiện nay là căn bệnh thành tích. Sau đó bài viết sẽ phân tích nguyên nhân của căn bệnh đó đồng thời sẽ cho độc giả biết căn bệnh đó đang được bộ giáo dục Việt Nam “chạy chữa ra sao”. Phần cuối của bài viết cho thấy “ngưỡng giới hạn” của việc chữa trị căn bệnh thành tích và phần cuối cùng đồng thời cũng là phần quan trọng nhất của bài viết này sẽ cho thấy vì sao việc qua vượt qua “ngưỡng giới hạn” đó sẽ làm thay đổi thể chế chính trị Việt Nam hiện nay.


Bệnh thành tích: căn bệnh trầm kha của giáo dục Việt Nam

Ngay cả thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng phải thừa nhận rằng bệnh thành tích là một căn bệnh cần phải được chấm dứt. Trong vai trò là Chủ tịch Hội đồng quốc gia giáo dục, ông Dũng nhấn mạnh “phải chấn chỉnh vấn đề dạy thêm, học thêm, chú trọng phát triển giáo dục mầm non. Cải cách giáo dục cần chấm dứt tình trạng nhồi nhét thụ động, bệnh thành tích” (1).

Bệnh thành tích là một căn bệnh đã có từ lâu của nền giáo dục mang tính xã hội chủ nghĩa đậm nét ở Việt Nam. Biểu hiện đặc trưng của nó là những con số trong mơ: tỉ lệ lên lớp luôn đạt 90-100%, tỉ lệ tốt nghiệp luôn ở một mức cao ngất ngưỡng; những bản cáo cáo dầy đặc những con số thành tích ấn tượng.

Bệnh thành tích đã trở thành một căn bệnh phổ biến đến nỗi rất nhiều nhận định của các nhà giáo dục nổi tiếng trong và ngoài nước đều nhận định một cách bi quan rằng muốn cứu vãn nền giáo dục Việt Nam điều đầu tiên là phải chạy chữa “căn bệnh” thành tích.

Không phải ngẫu nhiên mà một trong những nhiệm vụ trọng tâm mà Bộ trưởng Bộ Giáo dục Nguyễn Thiện Nhân đặt ra khi bắt đầu nhiệm kỳ của mình đó chính là: chống bệnh thành tích. Rõ ràng với tư cách là người đứng đầu ngành giáo dục Việt Nam, hơn ai hết ông Nhân hiểu rất rõ về căn bệnh thành tích trầm kha của hệ thống giáo dục Việt Nam. Và với những nỗ lực tưởng chừng như không mệt mỏi trong thời gian vừa qua ông Nhân đã cùng với cả ngành giáo dục Việt Nam đang ra sức chữa chạy căn bệnh trầm kha này? Liệu những nỗ lực đó có giúp chữa chạy “tận gốc” căn bệnh này hay không? Liệu có một "ngưỡng giới hạn" mà ông Nhân và những người tâm huyết cải cách giáo dục không thể vượt qua hay không? Để trả lời câu hỏi trên chúng ta cần tìm ra nguyên nhân của bệnh thành tích.


Nguyên nhân bệnh thành tích

Theo định nghĩa của Đại từ điển Tiếng Việt” do Nguyễn Như Ý chủ biên: “Thành tích là kết quả tốt đẹp do cố gắng mà đạt được”. Với ý nghĩa như trên thì rõ ràng những bản báo cáo thành tích của ngành giáo dục Việt Nam trong những năm vừa qua đã làm thay đổi ý nghĩa đích thực của hai từ “thành tích”. Bởi vì thành tích mà ngành giáo dục Việt Nam đạt được bằng những gian lận trong thi cử qua đó tạo nên những bản báo cáo láo, báo cáo sai sự thật. Năm nào cũng vậy, cứ đến cuối năm thì những bản báo cáo tổng kết năm học với những con số ấn tượng luôn được nêu bật như một trong những thành tích của ngành giáo dục trong sự nghiệp trồng người. Thế nhưng đằng sau nó là không biết bao nhiêu tệ nạn trong giáo dục.

Những con số ấn tượng đó được nhiều người lý giải rằng đó là do sức ép của xã hội, sức ép của phụ huynh học sinh, sức ép của lãnh đạo ngành giáo dục, thậm chí có người còn cho rằng đó là do sức ép của dư luận, của các phương tiện truyền thông.

Thật ra tất cả những sức ép đó đều chỉ là những sức ép từ bên ngoài. Nguyên nhân sâu xa và chủ yếu đó vẫn là sức ép từ bên trong hệ thống giáo dục xã hội chủ nghĩa.

Cũng như trong lĩnh vực kinh tế, hay bất kỳ một lĩnh vực nào khác, hệ thống giáo dục xã hội chủ nghĩa luôn cho rằng hệ thống của mình tốt đẹp hơn hệ thống tư bản chủ nghĩa. Tuy nhiên, việc tốt đẹp đó không đúng như bản chất vốn có của nó. Hơn thế nữa, đánh giá đúng thực chất của hệ thống giáo dục sẽ gây ra sự thiếu niềm tin vào sự tồn tại của hệ thống, tạo nên một sức ép to lớn từ phía người dân vào lý do tồn tại của nó, gây ra sự sụp đổ của hệ thống giáo dục đang có. Điều này dẫn tới sự tồn vong của chế độ.

Do đó, từ trước đến nay, bằng mọi cách, bằng mọi biện pháp các nhà lãnh đạo của Việt Nam vẫn chấp nhận tồn tại của căn bệnh thành tích như là một căn bệnh trầm tra của nền giáo dục Việt Nam đơn giản bởi vì sự tồn tại của nó gắn liền với sự tồn vong của chế độ.


Căn bệnh đang được chạy chữa

Tuy nhiên trước sức ép to lớn của dư luận, của những bậc phụ huynh mong muốn có một nền giáo dục thực chất và hiệu quả, đặc biệt là sức ép của hội nhập trong thời đại toàn cầu hóa những nỗ lực chạy chữa căn bệnh này đang được bắt đầu. Chúng ta thử tưởng tượng xem với một nền giáo dục kém hiệu quả như hiện nay, một cử nhân đại học khi tốt nghiệp ra trường khi đi làm không có được những kỹ năng cơ bản về giao tiếp, quản lý dự án, lập kế hoạch... buộc doanh nghiệp phải đào tạo lại từ đầu thì Việt Nam làm thế nào có thể tham gia vào quá trình toàn cầu hóa, làm thế nào để thành công sau khi gia nhập WTO.

Chậm trễ trong việc chạy chữa căn bệnh thành tích trong giáo dục sẽ để lại nhiều hậu quả khôn lường. Sức ép của dư luận, của hội nhập giống như một quả bong bóng đang phình to ra, nếu không xì hơi kịp thời thì một ngày nào đó sẽ nổ tung và hậu quả lúc đó sẽ khó lòng cứu vãn.

Chắc chắn rằng Thủ tướng mới nhận chức Nguyễn Tấn Dũng nhận thức được vấn đề quan trọng này. Do đó, ông đã bổ nhiệm Tiến sĩ Nguyễn Thiện Nhân, một người được đánh giá rất cởi mở và có năng lực trong việc quản lý giáo dục để mong làm “xì hơi” quả bong bóng đang muốn nổ tung của nền giáo dục Việt Nam. Ông Nhân từng được cử đi học Cao học quản lý cộng đồng (quản lý Nhà nước) chuyên ngành Tài chính công tại Trường Đại học Oregon (Mỹ) và học khóa đào tạo về thẩm định dự án đầu tư tại Trường Đại học Harvard (Mỹ) (2). Với sự đào tạo trong một nền giáo dục tư bản chủ nghĩa thì ông Nhân đủ khả năng đánh giá được căn bệnh thành tích và đề ra được những phương thuốc hiệu quả để chữa trị căn bệnh này.

Đầu tiên, khi vừa mới nhận chức ông Nhân đã làm một việc “vô tiền khoáng hậu” trong lịch sử giáo dục Việt Nam đó là trả lời “Thư gửi tân Bộ trưởng Bộ Gíao dục-Đào tạo” (3) của thư một người dân ở Đà Nẵng được đăng trên báo Tuổi Trẻ. Trong lá thư thứ nhất ông Nhân khẳng định: 10 năm tới, giáo dục Việt Nam sẽ khác (4). Ông viết: “Với truyền thống hiếu học, truyền thống tôn sư trọng đạo, với thế và lực mới của đất nước sau 20 năm đổi mới, với quyết tâm chiến lược của Đảng coi phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu, với lòng yêu nghề và quyết tâm tự khẳng định của hơn 1 triệu thầy cô giáo trong cả nước, với sự quyết tâm và chia lửa của hàng triệu người VN là đồng tác giả của sự nghiệp chấn hưng giáo dục, tôi tin là trong 10 năm tới nền giáo dục VN sẽ có những bước phát triển mới, xứng đáng với đòi hỏi của sự nghiệp hiện đại hóa - công nghiệp hóa đất nước, với mong muốn và tin cậy của nhân dân cả nước, với truyền thống văn hiến của dân tộc VN”.

Tuy nhiên, khi đề cập đến căn bệnh thành tích thì ông Nhân lại né tránh không cho rằng đó là do “lỗi của hệ thống” mà do: lý do cơ bản là chúng ta nhận thức và thực hành đánh giá kết quả học tập rèn luyện của học sinh (HS) phổ thông chủ yếu dựa vào tiêu chí là điểm thi các môn.
Dĩ nhiên trên cương vị là một Đảng viên Đảng Cộng sản, một người đứng đầu hệ thống giáo dục Việt Nam, ông Nhân không thể thừa nhận nguyên nhân cơ bản nhất của bệnh thành tích. Dù sao chúng ta cũng phải cảm thông cho ông Nhân về điều này.

Một sự kiện tiếp theo tạo thuận lợi cho việc chống bệnh thành tích trong giáo dục của ông nhân đó là sự kiện thầy giáo Đỗ Việt Khoa (5), một giám thị tố cáo tiêu cực trong thi cử ở tỉnh Hà Tây. Sự kiện này tạo nên một làn sóng dư luận mạnh mẽ ủng hộ việc chống tiêu cực trong giáo dục, tạo tiền đề cho ông Nhân đề ra những biện pháp hữu hiệu để chữa trị căn bệnh thành tích vốn đã rất trầm kha mà các đời bộ trưởng giáo dục trước để lại.

Nếu theo dõi sát sao tình hình giáo dục Việt Nam, chúng ta có thể dễ dàng nhận ra rằng lâu nay rất nhiều chuyên gia nghiên cứu về giáo dục đã đề ra thuốc để chữa trị căn bệnh này. Ví dụ như ở bậc trung học phổ thông là thay thể phương pháp thi tự luận bằng phương pháp trắc nghiệm khách quan, chấp nhận việc một phần lớn các thí sinh không đỗ tú tài, gộp hai kỳ thi tú tài và tuyển sinh đại học thành một; ở bậc đại học là chuyển việc đào tạo theo học phần sang việc đào tạo theo tín chỉ, trao quyền tự chủ cho các trường đại học, thành lập đại học quốc tế có chất lượng cao...

Thuốc đã có, thế nhưng sức ỳ của hệ thống vẫn rất lớn làm cho những lời kêu gọi cải cách, chấn hưng giáo dục đó đi vào quên lãng. Đến khi ông Nhân trở thành bộ trưởng giáo dục thì những cải cách đó mới dần dần được thực hiện.

Và “liều thuốc đắng” để chữa trị căn bệnh thành tích trong giáo dục đã có kết quả ngay từ kỳ thi tú tài 2007. Với “tỉ lệ tốt nghiệp trung học phổ thông (THPT) cả nước là 66,7% (6)”, so với những năm trước là trên 90%, đã bộc lộ rất rõ bệnh thành tích trong giáo dục Việt Nam và “liều thuốc đắng” mà ông Nhân đưa ra đã có tác dụng. Nhìn chung dư luận có phản ứng không quá gay gắt trước một tỉ lệ thí sinh rớt cao như thế. Các phương tiện truyền thông đại chúng ở Việt Nam đánh giá về kỳ thi này là một kỳ thi nghiêm túc khá thuận lợi cho công cuộc cải cách giáo dục của ông Nhân.

Với đà “thừa thắng xông lên”, chắc chắn rằng ông Nhân sẽ tiếp tục thực hiện nhiều chương trình cải cách giáo dục khác nhằm vực dậy một nền giáo dục vốn đã rệu rã của Việt Nam.

Tuy nhiên những cải cách đó sẽ vấp phải một giới hạn trên, một giới hạn do hệ thống chính trị Việt Nam qui định. Là một thành viên trong hệ thống chính trị đó, dù cho nhận thức được lỗi hệ thống đó trong giáo dục thì ông Nhân cũng sẽ không thể nào vượt qua được để đưa giáo dục Việt Nam trở thành một quốc gia có nền giáo dục tiên tiến.


“Ngưỡng giới hạn” của hệ thống

Trong tác phẩm Hệ thống xã hội chủ nghĩa, Kornai János, một học giả hàng đầu về các hệ thống kinh tế đã nêu ra những đặc trưng cơ bản của hệ thống xã hội chủ nghĩa thị trường về mặt hệ tư tưởng và nhất là sự lãnh đạo của Đảng:

- Đảng Cộng sản là lực lượng lãnh đạo có thẩm quyền của xã hội. Sự độc quyền về quyền lực đó là hợp pháp; việc tiếp tục duy trì nó là để phục vụ quyền lợi của nhân dân. Gắn chặt với nó là các nguyên tắc hoạt động nội bộ của Đảng: cấm bè phái, nguyên tắc tập trung dân chủ, và sự cần thiết của kỉ luật Đảng

- Tất cả những điều giáo huấn cơ bản của chủ nghĩa Marx-Leninist và hai nhà cổ điển của nó là Marx và Lenin vẫn còn có giá trị không đổi. Các vấn đề đã nảy sinh không phải là do các nguyên lý của chủ nghĩa Marx-Lenin mà ngược lại là vì sự xa rời những điều giáo huấn của Marx và Lenin.

Hai nhận định trên giúp ta hiểu rõ rằng vì sao sự lãnh đạo độc quyền của Đảng và hệ tư tưởng Marx-Lenin vẫn được lồng ghép vào các môn học ở bậc phổ thông và đại học, nhất là các môn học xã hội.

“Giới hạn trên” của hệ thống chính là ở hai điểm này. Và đó cũng chính là giới hạn trên mà những nỗ lực cải cách giáo dục của bản thân ông Nhân và ngành giáo dục sẽ phải gặp phải trong quá trình đổi mới giáo dục và triệt tiêu căn bệnh thành tích ở Việt Nam.

Thứ nhất, những môn học tư tưởng như triết học chủ nghĩa Marx-Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ nghĩa khoa học xã hội, kinh tế chính trị vẫn sẽ là những môn học mang tính bắt buộc trong chương trình đại học và trong chương trình trung học thì nó sẽ được giảng dạy thông qua môn giáo dục công dân và tư tưởng của nó sẽ được lồng ghép vào các môn như sử, địa...

Thứ hai, việc đổi mới giáo dục sẽ tạo cho học sinh Việt Nam có một thói quen suy nghĩ độc lập, không dựa dẫm vào suy nghĩ của người khác. Chúng ta thử hình dung xem một khi học sinh Việt Nam có được những suy nghĩ không phụ thuộc vào “suy nghĩ” của Đảng thì kết quả tất yếu xảy ra đó là những thanh niên Việt Nam được đào tạo trong nền giáo dục đó sẽ nhận thức một cách rõ ràng hơn về những nhu cầu dân chủ, đa nguyên, đa đảng. Sự thay đổi thể chế, sự sụp đổ của đảng cộng sản Việt Nam chắc chắn sẽ xảy ra.

Có thể nhận định rằng việc thay đổi tận gốc hệ thống giáo dục sẽ không thể thực hiện được bởi vì nó sẽ dẫn đến hậu quả là thay đổi chế độ hiện tại. Vậy làm thế nào để cải cách một cách triệt để hệ thống giáo dục Việt Nam? Câu trả lời đã được Havel gợi hứng từ tác phẩm kiệt xuất: Quyền lực của không quyền lực. Đó là tạo ra một hệ thống giáo dục song song với hệ thống giáo dục hiện tại.


Hệ thống giáo dục song song

Trong tác phẩm Quyền lực của không quyền lực, Havel cho rằng hệ thống hậu toàn trị, hệ thống chính trị ở Việt Nam được xem như một hệ thống hậu toàn trị, được vận hành dựa trên nền tảng của sự giả dối, căn bệnh thành tích trong giáo dục là một biểu hiện sinh động của sự giả dối đó. Chính vì toàn bộ hệ thống được xây dựng trên sự dối trá đó cho nên nó sợ sự thật. Căn bệnh thành tích trầm kha của nền giáo dục Việt Nam cũng chính là nguyên nhân sợ bộc lộ sự thật về những yếu kém của nó.

Havel cho rằng để phá vỡ những móc xích của hệ thống thì không còn cách nào khác hơn đó chính là nỗ lực sống trong sự thật. Những cải cách giáo dục, dù có nửa vời mà ông Nhân đang thực hiện cũng chính là những nỗ lực đó. Tuy nhiên bởi vì ông Nhân chính là một trong những móc xích cực kỳ quan trọng của hệ thống do đó ông cũng không thể nào thoát ra được khỏi hệ thống.

Để có thể thoát ra khỏi hệ thống thì Havel cho rằng cần phải có những người đi tiên phong trong việc xây dựng một đời sống độc lập xã hội bao gồm mọi thứ từ tự giáo dục và nghĩ về thế giới, từ các hoạt động sáng tác tự do và truyền tải nó tới người khác, đến cách phong phú tự do bày tỏ thái độ công dân, bao gồm cả những tổ chức xã hội độc lập hình thành tự phát. Tóm lại, nó là một khu vực mà trong đó sống trong sự thật được chi tiết hóa và vật chất hóa theo cách nhìn thấy được. Trong lĩnh vực giáo dục thì họ chính là các giáo viên, những người dạy cho thanh niên những điều vốn bị “cấm kị” trong các trường công.

Như vậy, làm thế nào để xây dựng được một hệ thống giáo dục song song?

Trên thực tế thì một hệ thống giáo dục song song đang dần được hình thành. Nếu như trước đây khó ai có thể tưởng tượng được rằng các trường trung học quốc tế với một chương trình đào tạo theo đúng tiêu chuẩn quốc tế được hình thành ở Việt Nam thì nay một mạng lưới rộng lớn các trường này đang dần hình thành. Hơn thế nữa nó đang tạo ra một chỗ đứng vững chắc nhờ vào các chương trình giảng dạy tiên tiến, "thoát ly" với những nội dung giảng dạy ở các trường công lập do nhà nước quản lý. Những môn học mang tính "nhồi sọ" kiểu như giáo dục công dân đang được loại ra khỏi chương trình giảng dạy của các trường trên.

Ở bậc đại học, một điểm sáng mà chúng ta có thể nhận thấy được đó là sự thành lập đại học FPT. Với khả năng tài chính hùng hậu của mình, FPT đã "mặc cả" với Bộ Giáo dục và Đào tạo để có thể được tự chủ hoàn toàn trong việc dạy và học. Với quyền tự chủ này FPT có thể từ bỏ chương trình khung của mà bộ bắt buộc tất cả các trường đại học ở VN sử dụng từ trước đến nay để áp dụng một chương trình giảng dạy mới tạo cho sinh viên có được những suy nghĩ độc lập và những kỹ năng cần thiết sau khi ra trường.

Kết luận, một giải pháp khả thi trong việc đổi mới giáo dục Việt Nam đó là xây dựng một hệ thống giáo dục song song, xuất phát từ hệ thống giáo dục cũ, cùng tồn tại với nó nhưng dựa trên những mục tiêu, cách đánh giá, phương pháp hoàn toàn khác hẳn với hệ thống cũ. Một ngày nào đó không xa, hệ thống mới sẽ hoàn toàn lấn áp hệ thống cũ và khi đó hệ thống cũ sẽ bị loại bỏ.

-------------------------------------

(1): vietnamnet.vn.
(2): sonoivu.hochiminhcity.
(3): tuoitre.com.
(4): tuoitre.com.
(5): tuoitre.com.
(6): tuoitre.com.