Thứ Ba, 3 tháng 7, 2007

Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi

Dẫn đề

“Sin thì sincos cossin, cos thi coscos sinsin dấu trừ”. Đó là câu vè để nhớ một công thức toán lượng giác mà ta tiếp thu được trong đời trung học. Những kiến thức về khoa học tự nhiên và nhân văn khiến con người mở mang hiểu biết cũng là căn bản cho những sự học vấn cao hơn ở bậc đại học, với mục đích sau cùng là để phục vụ thực tế của đời sống. Song, rốt cuộc trong đời sống hàng ngày của chúng ta, không mấy ai gặp lại hay cần dùng cái hiểu biết “sin, cos” của môn hình học lượng giác này.

Những điều mà các em học sinh va chạm trong đời sống hàng ngày sau khi tốt nghiệp trung học ngoài việc thi vào đại học là đi tìm việc làm, là tình yêu đôi lứa và nói chung là sự tiếp xúc với thế giới bên ngoài. Trong một cuộc phỏng vấn xin việc làm, trong những lần tạo ấn tượng với người bạn khác phái, thậm chí trong những cuộc tiếp xúc hàng ngày với người quen hay kẻ lạ, các em cần thuyết phục đối tượng. Nhưng kiến thức làm sao để thuyết phục đối tượng không được dạy trong trung học. Các em sẽ phải đương đầu với những lo lắng trong thi cử, thất chí trong cuộc sống kiếm cơm, đau khổ trong những cuộc tình dang dở, đối phó với những thăng trầm của cuộc sống. Làm sao để có đủ ý chí vượt qua các thử thách? Làm sao để bớt lo lắng? Làm sao để sự thất vọng không làm ta nhụt chí? Trước sự thất tình ta phải nghĩ sao, làm gì?

Những vấn nạn này không những chỉ xuất hiện ở tuổi đôi mươi, mà nếu không may, còn theo đuổi con người suốt một kiếp. Sa ngã trong nghiện ngập, thất bại trong kế mưu sinh, bị bạn bè phản bội, người thân lừa dối, con cái ngỗ nghịch không nên người là những nỗi khổ và khó khăn của đời người. Làm sao để tránh, làm sao để vượt qua?

Trong 100 em học sinh, có lẽ chỉ có một vài em sẽ cần kiến thức “sin, cos” của hình học lượng giác sau này, chỉ có vài em cần áp dụng kiến thức công thức vật lý F=ma nhưng em nào cũng được học. Trong khi đó, trên 90% các em sẽ trở thành những người cha, người mẹ, cần phải hướng dẫn con cái, nhưng không có bài học nào dạy làm sao để hiểu, đối xử và dạy dỗ trẻ em. Những công thức hóa học, những định lý toán học, những câu ca dao lục bát tuy không thể thiếu trong chương trình trung học, song trên bình diện đời sống cá nhân, có những điều rất ư là quan trọng, lại thường xảy ra, mà các em cần được trang bị để ra đời đã không được giảng dạy đúng mức.

Đó là nói trên bình diện của mỗi cá nhân. Trên tầm nhìn quốc gia, dân tộc ta lại thấy những điểm khác, có thể bổ túc thêm cho chương trình giáo dục của Việt Nam.

Ai đã từng tiếp xúc qua với học sinh của các nước tiên tiến như Hoa Kỳ, Úc, Pháp, hay đã từng biết sinh hoạt của người Tây Phương thì có lẽ cũng thấy được sự dạn dĩ, tự nhiên của họ. Những đứa trẻ trong nền giáo dục của các nước tiên tiến lớn lên với một sự tự tin. Ngoài sự tác động từ đời sống bên ngoài, sự giáo dục của nhà trường đóng vai trò vô cùng quan trọng. Sự giáo dục này không chỉ nằm trong kiến thức được truyền thụ mà tùy thuộc rất nhiều vào phương pháp giáo dục.

Những tiền đề trên cho ta ấn tượng là có rất nhiều điều cần được bổ túc, cải cách, trong hệ thống giáo dục của Việt Nam, từ nội dung chương trình đến phương pháp, song bài viết này chỉ chú trọng về phương diện nội dung chương trình giáo dục.

Kiến thức về khoa học có thể giúp cho một người có bằng cấp kỹ sư. Song trong đời sống của một kỹ sư thì có gia đình, bạn bè, cấp trên, thuộc hạ, bạn đồng nghiệp, cộng đồng, dân tộc… chứ không chỉ có công việc tính toán khoa học. Cái hành trang kiến thức của trung học chỉ đóng góp được một phần rất nhỏ trong cả cuộc đời người kỹ sư. Và nếu chẳng may sau khi ra khỏi trung học đương sự không trở thành kỹ sư mà làm ca sĩ, thì tất cả những kiến thức toán, vật lý cũng không còn công dụng gì nữa. Song một ca sĩ thì cũng như một kỹ sư, ai cũng phải đối diện với thực tế đời sống, trong đó cảm nhận của bản thân và quan hệ giữa người và người là điều quan trọng và thực tế nhất.

Như vậy, xin được tạm gọi cái kiến thức mà chúng ta cần trang bị thêm một cách chu đáo cho các em tốt nghiệp bậc trung học là môn “con người và đời sống”. Nếu gọi những kiến thức khoa học và nhân văn là để làm tăng IQ (intelligence quotient) của học sinh, thì môn “con người và đời sống” là phần nào để làm tăng “EQ” (Emotional Quotient) của học sinh, chuẩn bị cho các em ra đời thành công. Sự thành công không chỉ đặt căn bản trên vật chất mà còn có ý nghĩa tinh thần. Người cảm thấy hạnh phúc là người thành công.

Việc soạn thảo chương trình của môn “Con Người và Đời Sống” phải là công trình của nhiều người, nhiều chuyên gia. Chương trình này là tổng hợp của nhiều kiến thức về tâm lý, sinh lý, triết lý… bao gồm công dân, đức dục được sàng lọc và gói ghém lại để thích hợp với trình độ và nhu cầu của người tiếp thu. Khuôn khổ một bài viết của một người sẽ không thể nào trình bày hết.

Song, muốn hoàn thiện hóa một cơ chế, một sự việc điều tiên quyết là chúng ta cần hiểu rõ cơ chế hay sự việc ấy. Muốn hoàn thiện hóa cá nhân chúng ta và quan hệ giữa người với người, chúng ta phải hiểu rõ về con người. Đóng góp dưới đây là một vài kiến thức mà người viết cho là căn bản cho môn “Con Người và Đời Sống”. Bài viết này được gởi đến các em học sinh của những năm cuối cùng của trung học, vì người đọc cần một số kiến thức khoa học căn bản để có thể tiếp thu một cách dễ dàng.


Viết cho các bạn trẻ…

Các bạn trẻ thân mến,

Sự kiện ngày 11 tháng 9 năm 2001 ở Hoa Kỳ đã làm chấn động hoàn cầu. Hàng chục người đã tham gia vào công tác cảm tử, cướp các phi cơ dân sự, lao vào các mục tiêu quân sự lẫn dân sự của Mỹ. Có người xem đó là hành động khủng bố, hèn hạ, vô nhân, cũng có người xem đó là những hành động tử vì đạo vô cùng anh hùng, cao thượng. Còn những cảm tử quân kia thì nghĩ gì? Không nhiều thì ít, chắc chắn phải có một số cảm tử quân tin vào đấng thượng đế của họ và một thiên đàng sau cõi chết. Nhưng cũng có những người trên thế giới không tin như vậy.

Đời sống của nhân loại quả thật là muôn màu muôn vẻ, một lãnh tụ chính trị được nhiều người suy tôn, nhưng cũng bị nhiều người khác khinh dễ, và lại cũng có người dửng dưng. Trước một biến cố, thậm chí một bài thơ hay một bản nhạc, qua nhãn (và nhĩ) quan của con người nó bỗng trở thành hay, dở, tốt, xấu khác nhau, nghĩa là được cảm nhận một cách khác nhau.

Tại sao như vậy? Cá nhân chúng ta thuộc loại nào? Tại sao ta lại nghĩ như vầy, mà người khác lại nghĩ như thế kia? Các cảm tử quân rốt cuộc có lên thiên đàng không? Trước quá nhiều gút mắc chúng ta hãy chọn những gút chính mà tháo gỡ. Cái gút đầu tiên cần được tháo gỡ là “Tại sao người ta lại có những niềm tin, suy nghĩ khác nhau?”.



Memes- ký và niềm tin

Chắc các bạn trẻ đều có nghe qua chuyện Tarzan hay những mẩu chuyện em bé được chó sói nuôi trong rừng. Những người này, chưa từng tiếp xúc với loài người, không nói được tiếng người, chỉ biết sủa và tru. Một con người chưa bao giờ nghe qua tôn giáo A nào đó thì không thể nào biết có tôn giáo đó để mà đặt niềm tin vào. Một người chưa từng bao giờ nghe qua tên nhân vậy B thì cũng không thể nào tôn sùng, yêu kính hay ghét bỏ nhân vật B. Nhưng cuối cùng, khi họ lớn lên thì người này tin thế này, người kia nghĩ thế kia. Để tìm hiểu xem tại sao như vậy ta hãy theo dõi họ ngay từ thuở lọt lòng.

Các bạn trẻ thân mến,

Ngay từ thuở lọt lòng, không có một đứa trẻ nào có một niềm tin nào cả. Điều nó biết chỉ là những cảm giác sinh lý như đói no, nóng lạnh, sáng tối, đau đớn hay thoải mái. Để dễ hiểu cho những lập luận sau này, chúng ta hãy tạm xem bộ não của đứa nhỏ như một cái máy điện não vi tính mới mua về, trong đó chỉ có những chương trình thật căn bản để sinh tồn mà thôi.

Rồi thì nó nhìn thấy nụ cười của bà mẹ. Nó tiếp thu nụ cười vào não như một máy vi tính tải vào một chương trình nhỏ. Rồi một hôm nó húp một chút nước đường, cái vị ngọt của nước đường làm nó thoải mái, và đó cũng là một chương trình nhỏ giữ lại trong bộ não non nớt trinh trắng đó. Lớn lên một chút, một hôm nó nghe người ta kể chuyện ma, câu chuyện ma được tiếp thu vào ký ức của nó như một “program” được “load” vào “computer”.

Nụ cười của bà mẹ, vị ngọt của đường, câu chuyện ma, những cái mà ta tạm gọi là chương trình (program) bên trên được các nhà khoa học gọi là những “memes”, tạm dịch là “ký” (như ký hiệu).

Meme có thể nhỏ như một nụ cười, nhưng cũng có thể lớn như một lý thuyết tôn giáo hay chính trị. Không ai tự nhiên sinh ra mà tin vào lý thuyết này, sự kiện nọ. Tất cả đều dựa trên những memes trong đầu, và những memes này được đưa vào não qua ngũ quan của ta. Một cách nôm na, memes hay ký là những kinh lịch của cuộc sống.

Hãy giả sử khi vừa ra đời, các cảm tử quân trong vụ 11 tháng 9 bị bắt cóc. Một số được nuôi dưỡng trong nhà dòng ở La Mã, một số được gởi qua Tây Tạng ở cùng các vị Lạt Ma, một số đưa sang VN cho những gia đình nông dân nuôi dưỡng, tất cả đều không có phương tiện liên lạc truyền thông như TV, radio, để biết về Hồi giáo, thì khi lớn lên có được mấy người tin vào đấng Allah và thuyết Hồi Giáo? Có lẽ chúng ta cùng tin rằng không có người nào có niềm tin như họ đã có khi tham gia công tác cảm tử. Và có lẽ không một ai tham gia công tác cảm tử này. Nếu chưa nghe qua thánh Allah, chưa bao giờ biết qua trên đời có kinh Koran thì người ta không thể tự nhiên mà có niềm tin vào lý thuyết của đạo Hồi. Đó là điều chắc chắn. Trước khi người Tây Phương sang Việt Nam, vì chưa nghe đến đạo Kitô nên không có người Việt Nam nào theo đạo Chúa và thờ Chúa Giê-su cả. Do đó, niềm tin trong ta được thành lập trên những điều ta được nghe qua, thấy qua, dạy dỗ, và đó là những memes, những ký chứ không phải tự nhiên mà có.

Memes là những ký hiệu được giữ lại trong tiềm thức của ta. Chúng là căn bản cho sự suy nghĩ của ta. Người ta nghĩ khác nhau, cảm nhận khác nhau về cùng một sự kiện 11 tháng 9, cũng vì có những memes khác nhau.

Như vậy, việc đầu tiên chúng ta đồng ý là suy nghĩ của mình chỉ có thể dựa trên những memes mà mình đã kinh qua. Người Việt, có những memes về văn hóa giống nhau nên có suy nghĩ tương tự nhau. Nhưng người Việt ở trong nước suy nghĩ khác người Việt ở hải ngoại, người có memes của chủ nghĩa này, kẻ có memes của lý thuyết kia, vì họ có kinh lịch đời sống khác nhau.

Nếu mỗi người chúng ta chỉ có một bộ memes thì chỉ có memes chịu trách nhiệm cho mỗi suy nghĩ, cảm nhận và hành động của ta, nhưng trong một con người thường khi có rất nhiều memes và người ấy phải chọn lựa. Thí dụ như cô A có hai anh chàng đang theo đuổi, mỗi chàng đã để lại môt bộ ký (set of memes) trong ký ức của cô. Vấn đề của cô là phải quyết định xem chọn anh nào, hoặc không chọn ai cả, hay... bắt cá hai tay. Một người Việt lớn lên thường đã nghe qua và biết qua nhiều lý thuyết tôn giáo lẫn phi tôn giáo, tức là có nhiều memes khác nhau, vậy thì họ sẽ chọn tin theo lý thuyết nào?

Các bạn trẻ thân mến,

Khi các memes mâu thuẫn nhau, tranh chấp với nhau trong đầu thì cũng chính là lúc ta đang suy nghĩ và cuộc tranh đấu giữa các memes càng ác liệt, càng khó phân thắng bại thì ta càng cảm thấy bối rối, phân vân. Và đó là vấn đề mà chúng ta phải đụng độ hàng ngày.

Vậy thì cái gì có quyền quyết định, cái gì có quyền chọn lựa? Thông thường, câu trả lời là “TA” chọn lựa, “TA” quyết định.

Các bạn trẻ thân mến,

Muốn hiểu về con người và đời sống thì cái đầu tiên, và quan trọng nhất mà ta cần hiểu biết là cái TA. Nó thực sự bí ẩn hơn cách hiểu thông thường.

Thông thường, khi nói “TA”, hay “TÔI”, thì người ta chỉ vào ngực, hoặc vỗ vào ngực và có lẽ người ta muốn chỉ trái tim. Song mọi người đều biết trái tim không phải là trung tâm của sự chọn lựa, quyết định, và điều này được dẫn chứng bởi những ca đau tim và những người được thay tim. Có khi xưng tôi thì người ta chỉ vào mặt, nhưng dĩ nhiên mặt mũi không phải là nơi quyết định, và điều này cũng được dẫn chứng qua những ca giải phẫu thẩm mỹ.

Vậy thì cái “TA” có phải nằm trong não bộ chăng, bởi vì khi bị thương tổn não bộ người ta mất trí, chọn lựa và quyết định trở nên bậy bạ? Đặc biệt, các người mà não bộ bị đánh thuốc mê, hay thậm chí chỉ cần say rượu đến bất tỉnh (tức là bị phân tử rượu tác động lên não), thì họ cũng không quyết định gì được cả.

Từ trước đến nay, người ta thường phân tích hoạt động sinh lý của não, và phân tích đời sống tinh thần, tâm lý, của con người một cách tách biệt. Nhưng kỳ thật, thưa các bạn, cái thí dụ đánh thuốc mê bên trên đã cho thấy rõ đời sống tinh thần, suy nghĩ, cảm giác của ta có liên quan mật thiết đến não bộ và những phân tử thuốc mê vật chất. Sự liên quan giữa tinh thần, tâm lý, suy nghĩ và não bộ có thể được ví như mối liên quan giữa các chương trình, hay phần mềm (software), và phần cứng (hardware) của máy vi tính. Phần mềm là các memes, còn não bộ của ta là phần cứng. Cái “TA” quyết định mọi thứ cũng núp trong cái phần cứng và phần mềm này.

Các bạn trẻ thân mến,

Tình yêu nam nữ, tình yêu gia đình, tổ quốc, đồng loại, sự phân biệt thiện ác, đúng sai, niềm vui, nỗi buồn, sự đau khổ, hy vọng, tức giân, hờn ghen, tủi nhục, vinh quang, đến tất cả những ký ức, và cuối cùng là quyết định của các bạn, của tất cả chúng ta đều diễn ra trong bộ não. Hôm nay chúng ta bỏ ra vài phút, truy cho tới cùng cái TA, hiểu nó cho tường tận. Cái kết quả của vài phút suy nghiệm này sẽ đưa ta đến một khám phá đáng ngạc nhiên, tương tự như lúc mọi người đang tin là trái đất là mặt phẳng, bỗng một hôm phát hiện ra nó hình cầu.

Trong vài dòng tới, các bạn trẻ sẽ có cơ hội vận dụng những kiến thức khoa học căn bản nhất để suy ra một chân lý mà trường trung học chưa bao giờ giảng dạy qua, ngay cả ở đại học cũng vậy. Các bạn sẽ hiểu được cái “TA” mà có lẽ bạn chưa từng nghe nói tới kể cả trong tôn giáo hay ngoài xã hội. Nó lạ lùng kỳ diệu mà cũng rất ư đơn giản và khoa học.


Ta

Một hôm, một nhân công làm đường rầy xe lửa, trong khi đang đặt thuốc nổ phá núi đã bị tai nạn, cây xà beng cắm vào đầu ông xuyên qua não bộ. Bộ óc bị mất một phần nhưng ông ta không chết. Sau thời gian dưỡng bệnh, ông ta trở lại làm việc. Tuy sức khỏe bình thường, tính tình của ông ta đã đổi khác. Từ một người nhút nhát ông trở nên rất bạo dạn. Không những chỉ khác ở tính tình mà sau khi bị mất một phần não ông còn khác xưa ở những điểm kỳ lạ. Sau khi lành bệnh, ông ta dùng lưỡi để khám phá ra vật lạ thay vì dùng mắt hay tay như trước đây dù ông ta vẫn thấy đường và có xúc giác bình thường. Ông ta lại có thể động tình với bất cứ ai nam cũng như nữ, luôn cả với thú vật mà trước đó thì ông là một người đàn ông bình thường, không phải như vậy.

Qua hiện tượng này cùng với nhiều hiện tượng bị bệnh hay giải phẫu não bộ, người ta nhận thấy rằng cá tính, suy nghĩ, cảm giác, thái độ của con người sẽ khác đi nếu như não bộ bị hư hao, thương tổn và người ta biết rằng có những trung khu với những chức năng riêng, như cảm giác, suy nghĩ vân vân.

Các bạn trẻ thân mến,

Nếu có cái ta cao hơn bộ não, nghĩa là có thẩm quyền trên bộ não thì sao ông nhân viên hỏa xa kia lại thay đổi ý thích về tình dục và có thái độ kỳ dị như vậy?

Để thí nghiệm, người ta đã cắt mất phần não tương ứng của những con khỉ tương tự như trường hợp của nhân viên hỏa xa nói trên. Kết quả là những con khỉ trở nên rất dễ dạy, không sợ hãi như trước. Chúng cũng khám phá đồ vật bằng miệng và lưỡi và cũng làm tình với cả cái lẫn đực, lẫn những con vật khác.

Các bạn trẻ không cần lo lắng là chúng ta sẽ phải kinh qua một bài học về sinh lý não. Ở đây chúng ta chỉ muốn chứng minh rằng từ cảm giác của ngũ quan, sinh lý đến các cảm giác tâm lý như vui buồn, sợ, tức, đến cả suy nghĩ và quyết định của ta cũng nằm trong não bộ và liên quan đến sự vận hành của não bộ.

Bộ não là tập hợp của các tế bào, mà sự vận hành trong đó là những phản ứng hóa học. Nếu các tế bào ấy không hoạt động, tức là các phản ứng hóa học không xảy ra, thì ta không có cảm giác, suy nghĩ hay quyết định, thậm chí không biết ta hiện hữu. Ứng với mỗi sự suy nghĩ hay quyết định của ta phải là một luồng thần kinh, tức là một chuỗi phản ứng sinh hóa xảy ra trong não bộ. Hiện tượng sinh hóa khác nhau thì ứng với những suy nghĩ quyết định và cảm giác khác nhau. Các hóa chất gây mê, kích thích, lượng đường trong máu, thuốc trị bệnh trầm cảm và các loại bệnh thần kinh khác là những minh chứng cho vai trò của hóa chất trên suy nghĩ và cảm giác của ta. Các chuỗi phản ứng hóa học trong não bộ, tức là hoạt động thần kinh trung ương là bất khả phân với suy nghĩ và quyết định của ta, tức là TA.

Đến đây thì có một câu hỏi lớn nhất mà chúng ta phải trả lời. Trả lời xong câu hỏi này thì ta hiểu được cái TA kỳ diệu và có được chiếc chìa khóa để mở tất cả những hệ luận triết lý sau này. Câu hỏi đó là:

(1) sự quyết định, suy nghĩ của ta khiến cho những hóa chất trong tế bào vận hành và phản ứng (theo ý ta), hay

(2) những chuỗi phản ứng hóa học ấy chỉ diễn ra theo định luật của tự nhiên - tức là những định luật lý, hóa, mà chúng ta đã được học qua - và chính những phản ứng hóa học này đã phát sinh ra cái mà ta goi là suy nghĩ ý muốn và quyết định của ta?

Câu hỏi này có tính cách quyết định, bởi vì nếu ta cho rằng là ý chí của ta điều khiển sự hoạt động của não bộ, thì quả là trên đời này có một cái TA làm chủ não bộ này và ta phải đi tìm cho ra nó. Còn bằng cho rằng chính cái ý chí ấy cũng chỉ là một sản phẩm của sự vận hành của những hạt hóa chất li ti trong một khối não trăng trắng bầy nhầy, thì không còn cái TA nữa, mà chỉ còn một bộ máy sinh hóa chạy tự động, và trong quá trình hoạt động này nó sản sinh ra một dạng hiện hữu khác, mà ta gọi là suy nghĩ, cảm giác.

Các bạn trẻ thân mến,

Qua các kiến thức sơ đẳng về vật lý, như điện tích âm hút điện tích dương, và những kiến thức sơ đẳng về hoá học, các bạn đều biết rằng vật chất, hóa chất chỉ hoạt động, phản ứng tuân theo luật thiên nhiên chứ không hề tuân theo một ý chí nào. Vậy, việc bảo rằng ý chí của ta khống chế các hoạt động hóa học trong não là không đúng.

Nhưng rõ ràng là các hoạt động của não bộ ứng với cảm giác và suy nghĩ của ta. Vậy thì cách giải thích duy nhất là cảm giác của ta, suy nghĩ của ta, là thành phẩm, hay được gọi là sản phẩm phụ, của các hoạt động vật chất trong não bộ.

Khi có một ánh đèn xanh chiếu vào mắt, một chuỗi hoạt động thần kinh sẽ diễn ra trong trung khu thị giác của não bộ ta, và thế là ta có được cái cảm giác “thấy” màu xanh. Khi miếng chanh kích thích tế bào vị giác ở lưỡi, luồng thần kinh được đưa vào khu vị giác của não bộ và một cảm giác “chua” xuất hiện. Tương tự như vậy, những luồng thần kinh, tức là những phản ứng hóa học, xảy ra ở những trung khu khác sẽ tạo ra những cảm giác tâm lý như vui buồn, và cả cái cảm giác mà ta vẫn mệnh danh là suy nghĩ, hay quyết định.

Các bạn trẻ thân mến,

Đến đây ta gặp phải một vấn đề khó hiểu, đó là cái “phẩm chất” của cảm giác vui buồn, của vị chua, của màu xanh hay của suy nghĩ hoàn toàn khác với những chuỗi phản ứng hóa học mà ta vừa mô tả. Đó là hai dạng hiện hữu hoàn toàn khác nhau. Thật khó mà tưởng tượng ra sự tương quan giữa những phản ứng hóa học trong não và quyết định chọn ai, bỏ ai, hay cảm giác ghen tức, thất tình trong một cuộc tình tay ba.

Để dễ hiểu, xin tạm lấy một vài ví dụ.

Chúng ta đều biết hễ có dòng điện chạy qua bóng đèn thì tim đèn mới bật sáng. Giữa ánh sáng, tức hiện tượng phát quang, và chuyện các điện tử chạy trong dây điện và tim đèn thoạt xem thì thấy khác nhau, như kỳ thực từ một mà ra. Dòng điện đã tạo nên hiện tượng phát quang. Tương tự, cảm giác của ta có thể được ví như ánh sáng và luồng thần kinh thì được ví như những luồng điện trong dây đèn. Có rất nhiều thí dụ về cơ chế tương tự như trên. Khi cái dĩa CD quay thì có tiếng nhạc phát ra từ cặp loa. Tuy lời ca tiếng hát xem chừng như khác hẳn việc cái dĩa CD đang quay nhưng kỳ thực tất cả những âm thanh phát ra đều hoàn toàn tùy thuộc vào các tín hiệu trên dĩa CD. Trong trường hợp này, cảm giác và suy nghĩ của ta có thể ví như âm thanh bản nhạc, còn các memes là những tín hiệu trên CD, não bộ thì được ví như cái máy CD.

Ô hay, nhưng như vậy thì trớ trêu lắm. Như vậy thì con người nào khác chi cái máy!

Thực vậy các bạn trẻ ạ, nếu có bạn nào đọc đến đây mà không đồng ý với bài viết, thì đó là vì các memes được chứa trong não bộ của các bạn không hạp với cái meme mà bạn đang tiếp nhận qua những dòng chữ này. Hầu hết chúng ta đều cho là con người khác với cái máy, nguyên nhân chính là vì con người có quyền tự quyết.

Các bạn trẻ ạ, chơi cờ là điển hình của sự suy nghĩ và quyết định, và công việc suy nghĩ cùng quyết định này được computer chơi rất tài tình, tài tình bằng hay hơn cả con người. Điều duy nhất khác biệt giữa ta và cái computer, là khi suy nghĩ đế đánh cờ thì ta biết ta đang chơi cờ và suy nghĩ, rồi khi thắng, khi bại ta cảm thấy vui hay buồn. Computer thì không hề biết nó đang làm công việc suy nghĩ, cũng không biết vui buồn. Nếu cái computer có cảm giác như con người thì nó cũng ngỡ rằng nó có quyền tự quyết trên mỗi nước cờ, nó chẳng biết rằng suy nghĩ của nó đã bị chương trình hóa và những suy tính của nó đều là tự động. Nó cũng sẽ bị lầm như chúng ta đang bị lầm là TA có quyền tự quyết (freewill).

Quyền tự quyết của ta vẫn có, trên một phương diện nào đó, vì không có ai có thể nhảy vào não để làm thay đổi tư tưởng của ta, nhưng trên cái nhìn rộng hơn thì chính ta cũng không làm sao thay đổi nó được. Việc nó thay đổi hay không là tùy thuộc vào một quá trình tự động, vận hành theo luật của tự nhiên (hay nếu muốn, có thể nói là theo “thiên ý”).

Cấu trúc kỳ diệu nhất vũ trụ


Chắc một số bạn trẻ cũng có nghe qua nhạc phẩm Cát Bụi của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn với câu bất hủ “hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi”. Thật thi vị nhưng cũng thật chính xác. Các hạt bụi oxygen, carbon, điện tử, vân vân… ráp lại thành thân ta, não ta, và kỳ diệu thay, trong sự tương tác của hạt bụi trần gian này phát sinh ra những tâm hồn vui buồn, lãng mạn, phát sinh ra cả những dòng nhạc và lời của Trịnh Công Sơn.

Theo các khoa học gia, cấu trúc tinh vi, kỳ diệu, nhất của vũ trụ là bộ não. Nó tinh vi và kỳ diệu không chỉ vì khả năng suy nghĩ của nó, vì nó suy nghĩ còn kém máy vi tính, nhưng là vì sự vận hành của nó. Khi các mạch điện não trong óc hoạt động, bộ não phát sinh ra được một dạng hiện hữu, khác hẳn với những dạng đang tồn tại mà ta biết đến, đó là cái giác và thức.

Khi các mạch điện trong não của ta hoạt động thì nó phát sinh ra cảm giác sinh lý như đói, no, nóng lạnh, vị giác, xúc giác, thị giác, và những cảm giác tâm lý như sợ, tức, vui, buồn, yêu, ghét, thương, hận. Xin tạm gọi chung những cảm giác trên là giác. Chua và đắng cùng là vị giác, nhưng khác nhau về “phẩm”. Cảm giác thấy màu xanh, hay đỏ, cũng khác nhau về “phẩm”, tuy cùng là thị giác. Vui buồn, tức sợ, suy nghĩ cũng vậy, là những cảm giác, và chúng khác nhau về phẩm.

Sự “biết”, hay “cảm nhận” được các suy nghĩ, quyết định, cảm giác vui buồn được gọi là thức, hay ý thức, tiếng Anh gọi là consciousness.

Như vậy, TA là một bộ máy sinh học nhưng có cảm giác. Điều ta cần biết là mọi suy nghĩ, âm mưu, tham vọng, tình thương, lòng nhân từ của ta đều không phải do ta muốn mà ra, và ngay cả cái ý muốn của ta cũng không phải do ta muốn mà có, mà tất cả chỉ là thành quả của những sự vận hành vô tri, vô giác của những hạt bụi vật chất li ti.

(Nếu bạn trẻ nào có những suy nghĩ liên quan đến linh hồn để phản bác những lập luận trên, xin đọc thêm phụ lục 1 bên dưới)

Các bạn trẻ thân mến,

Có lẽ các bạn chưa nghe một môn học nào, một bài học nào kết luận rằng con người là một cái máy có cảm giác. Song đó là sự thật. Sở dĩ bao lâu nay ta không nghe người ta nói đến là vì thứ nhất, các hiểu biết về não khoa, phân tâm học chỉ mới phát triển gần đây, thứ nhì, các khoa học gia thường chỉ chú trọng vào sự phân tích khoa học mà không áp dụng những hiểu biết vào triết lý, thứ ba, các khoa học gia và triết gia đã nói đến vấn đề này trong 10 năm nay, nhưng những kiến thức này chưa được phổ quát đến học sinh trung học, và cuối cùng, những kiến thức này đi ngược lại một số các lý thuyết tôn giáo nên sự phổ biến bị dè dặt hơn.

(Neuronal Correlates of Consciousness, sự liên quan giữa ý thức và hoạt động thần kinh, là đề tài mà Francis Ckick, người khám phá ra phân tử DNA của di truyền học, được trao giải Nobel năm 1962, nghiên cứu. Các bạn có thể đọc thêm qua những quyển sách trong trang Neuronal Correlates of Consciousness).

Những phân tích về não học bên trên có thể được tìm đọc trong quyển “An Anatomy of Thought” của Giáo Sư Ian Glynn, Cambridge University. Định nghĩa con người là một cái máy tự động có ý thức, human beings are conscious automata, cũng được ghi lại trong quyển sách này, và đó là ý kiến chung của nhiều triết gia.

Những kiến thức về Memes có thể được tìm đọc trong “The Meme Machine” của Dr Susan Blackmore. )

Các bạn thân mến,

Như vậy là các bạn đã có một khái niệm khá mới nhưng khoa học về cái ta. Cái ta mà ta thường tưởng là chủ của cơ thể này, quyết định mọi việc thực ra chỉ như là cái bóng bên lề, mà cái thực thể chính là sự vận hành của những phân tử vô tri trong não bộ. Các phân tử vô tri vận hành thế nào, thì cái bóng ghi lại hoạt động y như vậy. Nhưng cái bóng thì chẳng thể nào quyết định được hoạt động của thực thể. Đến đây thì ta đã hiểu được con người.


Con người

Cổ nhân có nói nhân chi sơ tính bản thiện. Theo ngành phân tâm học, tâm lý học thì câu trên không đúng. Con người khi vừa chào đời không hề biết thiện hay ác mà chỉ biết đến bản thân. Nhân chi sơ tính bổn ích kỷ thì mới đúng hơn.

Một đứa trẻ sơ sinh không hề nghĩ cho nỗi đau của mẹ nó, nó chỉ biết khóc khi đói sữa. Một em bé 6 tháng không hề biết chia xẻ thức ăn cùng cha mẹ dù họ đang đói. Nó không hề biết thiện hay có hành động thiện. Nhưng các em bé cũng không hề muốn hại ai, do đó cũng chẳng ác. Tính thiện ác chỉ có sau khi lớn lên nhưng mầm mống của ích kỷ thì sẵn có, chẳng cần ai dạy nó vì nó thuộc về bản năng để cá thể đó sinh tồn. Nó đã được quy định sẵn trong hệ di truyền, giống như khi mua một cái máy computer mới về thì luôn luôn nó có sẵn chương trình của windows.

Vì con người là cái máy, nó cũng phải hoạt động theo một số nguyên tắc hay nguyên lý chung.

Nguyên lý chung là con người luôn luôn hướng về một cảm giác tốt đẹp hơn hay trong nhiều trường hợp phải nói là hướng về một cảm giác ít xấu hơn. Mục tiêu chung của con người là những cảm giác tốt đẹp, tức hạnh phúc, và động cơ chung là những cảm giác xấu, như sự đói rét khiến người ta cố gắng, sự đau khổ, tức giận là động cơ của sự vùng dậy. Cảm giác là tất cả.

Nhưng dù có toan tính, dù có thương yêu, dù cảm thấy vinh nhục thăng trầm, dù luôn luôn nghĩ rằng ta làm chủ bản thân này, sự thật, tất cả chỉ là kết tinh của những hoạt động sinh hóa vô tri. Ta hiện hữu vì ta biết ta hiện hữu, song ta không thể nào suy nghĩ, quyết định và toan tính khác hơn những gì mà định luật tự nhiên bắt buộc. Nhưng biết được con người là một bộ máy, hiểu được những điều ta suy nghĩ, cảm nhận chỉ là sản phẩm của những hoạt động vô tri thì có ích gì? Có ý nghĩa gì?


Thấu triệt, tha thứ và chấp nhận

Các bạn trẻ thân mến,

Nhiều người, đặc biệt là người Do Thái rất căm ghét Hitler vì ông ta đã cố ý giết hại hàng triệu người Do Thái, gây đau khổ cho biết bao sinh linh. Các bạo chúa đều bị căm ghét như vậy. Nhưng nếu hiểu rằng chính ý muốn diệt chủng Do Thái của Hitler cũng chỉ là một quá trình của các phản ứng hóa học vô tri mà ngay cả chính Hitler cũng không hề làm chủ thì ta không thể nào căm hận, hay chẳng cần căm hận. Cái meme trong đầu của Hitler, chủ thuyết phát xít Đức quốc xã, kỳ thị chủng tộc có thể xem như một con virus. Tự bản thân con virus không sống được bên ngoài nhưng có khả năng sống trong các bộ não và nhân lên từ bộ não này sang bộ não khác. Trường hợp một máy vi tính nào đó bị virus thì ta bắt virus ra, nếu bắt ra không được thì cùng lắm là tắt điện, dẹp máy vi tính đó chứ chẳng hơi đâu mà ta hận thù nó.

Hiểu được con người là cái máy, hiểu được cái ý thức của một người là sản phẩm tất nhiên của những quá trình vô tri thì ta không còn tức, giận, oán, hờn, trách móc mà chỉ còn hiểu. Nếu phải triệt tiêu một virus, một meme hay một con người thì ta cũng chỉ làm vì để bảo vệ hạnh phúc cho những con người khác chứ không vì thù, vì hận, vì tức giận.

Hiểu được rằng sự phản bội, gian dối, yếm trá của con người cũng chỉ là hậu quả tất yếu của những quá trình tự nhiên, vô tri, thì ta không còn căm ghét họ. Trên mặt tình cảm đó là một sự tha thứ, trên phương diện lý trí đó là sự chấp nhận sau khi thấu triệt căn nguyên.

Nhưng, các bạn trẻ thân mến, nhiều khi chính chúng ta cũng mang lòng căm hận, cũng rắp tâm, toan tính và thực hiện việc trả thù. Và, các bạn trẻ thân mến, đôi lúc chính chúng ta cũng tham lam mưu lợi cho mình hay vì nhỏ mọn mà hãm hại người. Nếu công nhận rằng chính bản thân ta cũng giống như Hitler và mọi người khác, nghĩa là ta cũng chỉ là những cái máy tự động, và những toan tính xấu xa kia cũng chỉ là kết quả tự nhiên không thể khác hơn được, thì ta cũng sẽ tha thứ cho chúng ta. Trớ trêu hơn nữa, nếu ta vẫn không tha thứ cho chúng ta thì sự dằn vặt này cũng chỉ là một kết quả tự nhiên và tất nhiên thôi. Sự dằn vặt trong tâm trí ta là cuộc chiến giữa các memes, không có cách gì tránh nó nhưng hiểu nó là sự tất nhiên, là kết quả đương nhiên của những quá trình vô tri thì ta dễ dàng chấp nhận nó, ít phiền muộn vì nó.

Các bạn trẻ thân mến,

Có nhiều người e rằng khi nhận ra con người chỉ là cái máy thì nhiều giá trị đạo đức và tinh thần sẽ bị mai một. Có người e rằng là khi hoàn toàn vô thần, duy vật con người dễ trở nên vật chất, xấu xa, tàn bạo. Các bạn thân mến, sự xấu xa và tàn bạo có ở mọi xã hội, từ vô thần đến hữu thần. Lương tâm và đạo đức của con người cũng hiện diện cả trong những người vô thần lẫn hữu thần. Cùng là người Đức, Đức quốc xã tin vào tôn giáo, còn Đông Đức thì theo chủ nghĩa vô thần, nhưng không hẳn Đức Quốc Xã đã nhân từ và đạo đức hơn Đông Đức. Một tay anh chị Mafia có thể là một tín đồ của đạo giáo, cũng có thể là một kẻ vô thần. Một tín đồ tôn giáo cũng có thể là tên khủng bố, gây nhà tan cửa nát. Trong số hải tặc Thái Lan hãm hiếp phụ nữ thuyền nhân Việt Nam ắt cũng có tên từng đi chùa lạy Phật, cũng tin vào cõi siêu hình. Cuối cùng, khi tiếp xúc với một người, đánh giá họ tốt hay xấu, thiện hay ác hình như ít có ai trong chúng ta dựa vào niềm tin tôn giáo của họ. Lý thuyết tôn giáo giúp con người hướng thiện nhưng không hẳn con người phải bất thiện khi không có niềm tin tôn giáo.

Chỉ cần hiểu con người là cái máy tự động thì ta sẵn sàng tha thứ và chấp nhận cho mọi người cũng như cho bản thân ta. Ta không tha thứ vì mong rằng lòng vị tha đưa ta đến thiên đàng hay vì lòng vị tha là cao thượng, mà chỉ đơn thuần vì một chữ hiểu.

Nếu hiểu để rồi tha thứ, thế thì ta có chống lại sự trừng phạt, những bản án tử hình chăng? Cổ nhân có câu “giết một nhà, răn trăm họ”, hình phạt đôi khi là biện pháp duy nhất để thay đổi các memes xấu, hay ít nhất, cũng ngăn chận sự tác hại tiếp tục của những memes này, những con người này. Cho nên tha thứ luôn luôn là tư tưởng của người hiểu biết, nhưng không phải luôn luôn là hành động của người hiểu biết.

Nguyễn Văn Hoàng

Đối thoại giữa những người sống cách nhau một thế kỉ

“… nội hàm của một số cụm từ: nhà nước, nhân dân và dân chủ, đang được sử dụng trong cuộc đối thoại giữa đảng cộng sản và những nhà tranh đấu cho dân chủ rất khác nhau …”

Trong phần “Nhân vật lịch sử Phan Châu Trinh và những bài học cho hôm nay” của bài viết “Tư tưởng và dân trí là nền móng xã hội”, Hà Sĩ Phu có nhận xét: “‘Đảng tiền phong’” ngày nay đã đi chậm sau ông già nhà nho ấy ngót một thế kỷ, mà bây giờ cũng đã chịu nghe đâu?”. Nhận xét này làm liên tưởng tới cuộc đối thoại giữa những nhà tranh đấu cho dân chủ và đảng cộng sản Việt nam. Có phải đó là cuộc đối thoại giữa những người sống cách nhau một thế kỉ?

Đối thoại được với nhau chủ yếu là nhờ có ngôn ngữ. Mà ngôn ngữ lại là tập hợp các từ dùng để tải một nội dung nào đó. Bởi vậy muốn có được câu trả lời cho câu hỏi này có lẽ chúng ta cần tìm hiểu nội hàm của một số từ mà đảng cộng sản và chúng ta, những người tranh đấu cho dân chủ, đang sử dụng và sau đó xét xem những nội hàm này có còn đúng với thực tế hiện nay không.
Có ba cụm từ cần được tìm hiểu nội hàm một cách kĩ lưỡng. Đó là : nhà nước, nhân dân và dân chủ.

Theo những người cộng sản thì “nhà nước” phải có tính giai cấp, tính đảng và tính chuyên chế. Marx đã định nghĩa nhà nước là bạo lực có tổ chức của một giai cấp để trấn áp một giai cấp khác (Tuyên ngôn của đảng cộng sản). Và Lê-nin đã diễn giải nhà nước là một hiện tượng lịch sử, nó chỉ là một tổ chức thống trị của một giai cấp [1] và bất cứ nhà nước nào cũng là một bộ máy để một giai cấp này trấn áp giai cấp khác [2]. Ông viết: “Bất cứ một nhà nước nào cũng đều có nghĩa là dùng bạo lực; nhưng toàn bộ sự khác nhau là ở chỗ dùng bạo lực đối với những người bị bóc lột hay đối với kẻ đi bóc lột, ở chỗ có dùng bạo lực đối với giai cấp những người lao động và những người bị bóc lột không [3]. Ông còn viết thêm: “Nếu quyền lực chính trị trong nước nằm trong tay một giai cấp có quyền lợi phù hợp với quyền lợi của đa số, thì mới có thể thực hiện việc điều khiển công việc quốc gia thực sự theo đúng nguyện vọng của đa số. Nhưng nếu quyền lực chính trị nằm trong tay một giai cấp có quyền lợi khác với quyền lợi của đa số, thì việc điều khiển công việc quốc gia theo nguyện vọng của đa số không khỏi trở thành một sự lừa gạt, hoặc đưa đến chỗ đàn áp đa số ấy”;[4]. Vì đi theo tư tưởng này của Mác và Lê-nin nên những người cộng sản Việt nam đã cho rằng “việc không nhận thấy bản chất giai cấp của nhà nước pháp quyền là một biểu hiện của nhận thức ấu trĩ, mơ hồ, hay cơ hội về chính trị. Không thể có một nhà nước siêu giai cấp. Chúng ta thừa nhận có nhà nước pháp quyền tư sản, thì có nghĩa là, nhà nước pháp quyền ấy, xét về bản chất, là công cụ quyền lực trong tay giai cấp tư sản, và trước hết phục vụ cho lợi ích của giai cấp tư sản...”[5]. Bởi những người cộng sản bao giờ cũng cho rằng nhà nước là có tính giai cấp, tính đảng và tính chuyên chế, cho nên sẽ không có gì là lạ khi những người cộng sản luôn đồng hoá nhà nước với đảng. Có nghĩa là yêu đảng là yêu nước; chống đảng là chống nhà nước, và vì vậy vi phạm pháp luật và phải được đem ra xét xử để bắt bỏ tù.

Với định nghĩa nhà nước như vậy thì cụm từ “nhân dân” mà người cộng sản sử dụng cũng chỉ có nội hàm là nhóm dân chúng có tính giai cấp và tính đảng. Điều 2 của Hiến pháp Việt nam hiện nay đã viết: "Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức". Nói cách khác điều 2 này đã xác định “nhân dân” phải là nhân dân có tính giai cấp và tính đảng. Những người không thuộc khối này thì không phải là nhân dân. Đó là thành phần phải trấn áp.

Dân chủ vì vậy cũng chỉ có nghĩa là dân chủ cho thành phần nhân dân có tính đảng và tính giai cấp. Tất cả những thành phần khác không được phép có dân chủ. Những thành phần này chỉ có nhiệm vụ là phải đồng ý chấp nhận nếu muốn được sống yên ổn. Như vậy dân chủ của những người cộng sản chỉ là một loại dân chủ chật hẹp, bị cắt xén, một loại dân chủ mang tính chuyên chế, chỉ dành cho khối nhân dân có tính giai cấp và tính đảng.

Có một câu hỏi được đặt ra là tại sao những người cộng sản lại có những khái niệm như vậy về các cụm từ nhà nước, nhân dân và dân chủ ? Muốn hiểu có lẽ chúng ta phải đi ngược dòng lịch sử để thấy sự hình thành và phát triển của dân chủ. Dân chủ đã được hình thành từ thời xa xưa ở Hy lạp và sau đó ở La mã. Dân chủ vào thời đó là dân chủ chỉ dành cho giới quý tộc và những người có tiền của. Sự xuất hiện của dân chủ đã giúp những người thuộc khối quý tộc và có tiền của có được quyền tham gia vào việc cai trị đất nước. Rồi một thời gian dài dân chủ đã nhường chỗ cho quân chủ. Vua có toàn quyền quyết định mọi việc. Giai cấp quý tộc và tư sản cũng chỉ là những bày tôi phải phục tùng vua. Đến cuộc cách mạng 1789 ở Pháp thì dân chủ được tái sinh. Những thành phần quý tộc và tư sản đã dành lại được quyền cai trị từ tay vua. Một nhà nước mới xuất hiện và nằm trong tay của khối tư sản.

Để khối tư sản có thể tham gia vào công việc cai trị đất nước thì một nền dân chủ phôi thai được thành hình. Nền dân chủ ấy tiếp tục phát triển và càng ngày càng nằm trong tay khối tư sản. Khối vô sản vào thời điểm của Marx và Engels chưa có được quyền dân chủ thực sự để tham gia vào việc cai trị đất nước. Mọi quyết định của xã hội lúc đó dường như tùy thuộc vào kinh tế và khối tư sản. Từ tình hình thực tiễn của thời điểm đó Marx cho là kinh tế quyết định sự phát triển của xã hội, nhà nước là nhà nước lệ thuộc vào kinh tế và giai cấp. Bởi vậy Marx, Engels và sau đó là Lenin đã đưa ra những khái niệm vế nhà nước, nhân dân và dân chủ như vừa trình bày ở trên. Và những người cộng sản ngày nay vẫn tiếp tực dựa vào những khái niệm được rút ra từ tình hình thực tiễn của cuối thế kỉ 18 đến đầu thế kỉ 20.

Ngày nay thì tình hình thực tiễn của xã hội đã thay đổi khác hẳn với thời điểm của Marx, Engels và Lenin. Nhà nước hôm nay của các nước dân chủ mà Marx, Engels vả Lenin đã dựa vào đó để đề ra những khái niệm về nhà nước, đã chứng tỏ đó là một nhà nước có tính công cộng và tính xã hội. Điều đó có nghĩa là nhà nước phải là của mọi người và phải phục vụ mọi người. Nhà nước ấy không được phép mang tính giai cấp, tính đảng và tính chuyên chế. Nhà nước ấy phải là nhà nước của đối thoại và thuyết phục, một nhà nước trung gian hoà giải. Đảng cấm quyền không phải là nhà nước. Việc chống lại đảng cầm quyền khi đảng cầm quyền làm sai, không phải là chống nhà nước.

Với nội hàm nhà nước như vậy thì cụm từ “nhân dân” có một nội hàm hoàn toàn khác với nội hàm của người cộng sản. Nhân dân là toàn thể mọi người thuộc mọi thành phần phái tính và giai cấp. Không thể chỉ có nhân dân thuộc một giai cấp. Còn các giai cấp khác là thành phần phải trấn áp.

Khi cụm từ nhân dân có nội hàm là tất cả mọi người thì dân chủ là dân chủ cho mọi người. Ai cũng được quyền bình đẳng về cơ hội cầm quyền và quyền quyết định vận mệnh chung của đất nước. Dân chủ của các nhà nước dân chủ hôm nay không phải là dân chủ tư sản như những người cộng sản vẫn tin tưởng. Dân chủ ấy không phải chỉ dành cho những người tư sản mà là cho mọi người, mọi thành phần. Đó là dân chủ đa nguyên. Một thứ dân chủ chấp nhận mọi khác biệt, mọi khuynh hướng. Dân chủ ấy là một nền dân chủ cho mọi người, một nền dân chủ không có kẻ thắng hoặc thua vĩnh viễn. (Xem bài “ Con đường thẳng tiến” Christian Caryl, B.J. Lee và Jonathan Adams, Phạm Hồng Sơn dịch).

Những nhà tranh đấu cho dân chủ của Việt nam hôm nay đã nắm bắt được khái niệm nhà nước, nhân dân và dân chủ của ngày hôm nay. Đó không phải là những khái niệm về nhà nước, nhân dân và dân chủ của những thế kỉ trước. Nhà nước hôm nay là nhà nước có tính cộng cộng và tính xã hội; còn tính giai cấp chỉ là phụ thuộc và giai đoạn. Đó cũng không phải là nhà nước có tính chuyên chế mà phải là nhà nước đối thoại và thuyết phục, một nhà nước trung gian hoà giải. Nhân dân là nhân dân thuộc mọi giai tầng và phái tính. Không có thứ nhân dân có tính giai cấp và tính đảng. Dân chủ là dân chủ của mọi người. Ai cũng được bình đẳng về cơ hội cầm quyền và quyền quyết định việc cai trị đất nước. Không phải là loại dân chủ mang tính chuyên chế. Cũng không phải là dân chủ đề cử, lấy ý kiến để dành riêng cho một giai cấp nào đó. Bởi vậy những nhà tranh đấu cho dân chủ của Việt nam hôm nay là những Nguyễn Trường Tộ mới về dân chủ. Những con người đã thấy được những cái đèn cháy ngược mà các vua Việt nam trước đây nhất quyết cho là nói bậy.

Như vậy nội hàm của một số cụm từ: nhà nước, nhân dân và dân chủ, đang được sử dụng trong cuộc đối thoại giữa đảng cộng sản và những nhà tranh đấu cho dân chủ rất khác nhau. Với những người cộng sản Việt nam thì nội hàm của những cụm từ này là nội hàm của những thế kỉ trước. Còn với những người tranh đấu cho dân chủ thì nội hàm của chúng là nội hàm của ngày hôm nay. Do đó cuộc đối thoại giữa đảng cộng sản Việt nam và những nhà tranh đấu cho dân chủ của Việt nam hôm nay đang là cuộc đối thoại giữa những người sống cách nhau hàng thế kỉ. Một cuộc đối thoại với những nội hàm của từ khác nhau như vậy thì làm sao có thể hiểu nhau! Và nhiều khi, theo như Nguyễn Gia Kiểng. thì chỉ là cuộc cãi cọ giữa những người không cùng ngôn ngữ.

Bởi vậy lời kêu gọi khối người Việt hải ngoại “đối thoại để bỏ những vướng mắc quá khứ còn tồn tại và cùng nhau xây dựng Việt nam vì tất cả chúng ta đều là người Việt nam và cùng yêu nước Việt nam” của ông Nguyễn Minh Triết trong cuộc phỏng vấn ông trước chuyến đi Hoa Kì từ 18/6 đến 23/6/2007 mà đài truyền hình Việt nam đã cho phát hình trong chương trình thời sự 19g tối ngày 14 tháng 6/2007 sẽ có giá trị như thế nào?

Nếu đảng cộng sản thực sự muốn có cuộc đối thoại đi đến cảm thông và hiều nhau thì đảng cộng sản hãy từ bỏ những khái niệm lỗi thời, đã bị thời gian vượt quá, về nhà nước, nhân dân và dân chủ để hội nhập với những khái niệm của thời đại. Vì không hội nhập với những khái niệm thời đại của những từ này nên trong chuyến công du Hoa kì vừa qua, ông Nguyễn Minh Triết mới có những tuyên bố kiểu: "Vấn đề không phải là có cần cải thiện hay không bởi vì Việt Nam có luật pháp riêng và những ai vi phạm pháp luật sẽ bị xử lý." hoặc "Có cách hiểu khác nhau trong vấn đề này."

Bài học nhà Nguyễn không chịu nghe lời Nguyễn Trường Tộ canh tân đất nước để tiếp nhận những kiến thức của thời đại đã làm cho nước Việt nam bị tụt hậu thua các nước trên thế giới, khiến cho chúng ta ngày hôm nay bị tủi hổ với thế giới, không đáng để cho đảng Cộng sản Việt nam quan tâm tới sao? Đảng Cộng sản Việt nam hãy từ bỏ những nội hàm về nhà nước, nhân dân và dân chủ đã lỗi thời của những thế kỉ trước và tiếp thu những nội hàm mới phù hợp với thời đại của những cụm từ này. Chỉ có như vậy thì đất nước Việt nam mới bắt kịp thế giới và trở thành một nước văn minh. Và cuộc đối thoại của mọi người Việt nam mới có thể đi đến cảm thông và những vướng mắc của quá khứ mới có thể được giải quyết.

Phan Bá Việt
© Thông Luận 2007

(1) V.I. Lê-nin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Mát-xcơ-va, 1981, t 32, tr 303
(2) V.I. Lê-nin: Sđd, t 37, tr 122
(3) V.I. Lê-nin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Mát-xcơ-va, 1978, t 43, tr 380
(4) V.I. Lê-nin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Mát-xcơ-va, 1976, t 34, tr 52
(5)Trần Ngọc Liêu: “Quan điểm của V.I. Lê-nin về nhà nước và vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, Tạp chí cộng sản số 11(131) năm 2007.

Khói lá một thời cay mắt ai

“… Qua điếu thuốc lá người ta nhìn thấy được cuộc sống, quan hệ con người, xã hội một cách bức xúc …”

Sao Mai nói hoài không hiểu
Sammít nói ít hiểu nhiều
Ba con năm vừa nằm vừa ký

Tôi chưa kịp về hưu đã phải nhập viện vì vấn đề động mạch vành tim. Tôi không biết rồi người ta sẽ làm gì tôi ở cái nhà thương chuyên về tim đó, có một điều làm tôi hơi suy nghĩ là ông bác sĩ tim mạch bảo lý do chính của bệnh tắc động mạch xơ vữa của tôi là do thuốc lá. Tôi hơi hoang mang nhưng hoàn toàn không ngạc nhiên khi nghe nói vậy.

Trong thâm tâm thật ra tôi lại hơi mừng, vì cách đó ít lâu một người bạn cùng học bên Nhật ngày xưa với tôi, vừa về hưu, đang xây nhà, chưa kịp mời bè bạn đến khánh thành đã âm thầm và nhanh chóng đi về thế giới bên kia: Ung thư phổi. Anh này xưa cũng có hút thuốc lá, dạo sau này không biết thế nào, nhưng thuở trước số lượng thuốc anh hút so với tôi thật chẳng thấm vào đâu. So với ung thư phổi thì cái bệnh của tôi có vẻ còn nhẹ hơn, đó là điều tôi cảm thấy mình như được an ủi ít nhiều.

Tôi không chỉ hút thuốc lá từ thời còn rất trẻ, đủ loại, từ Bastos xanh, Quân tiếp vụ, đến cả những loại thuốc không tên vấn lá đu đủ khét lẹt, cho đến thời đi dạy học có được chút tiền còm mới ngoi lên hạng thuốc lá sợi vàng vàng: «3 đồng 4 điếu Rubi (Queen)», … Ở bên Nhật lúc thì Hope, Peace, cuối cùng đậu lại Hi-light, nhưng có khi dùng cả Ikoi. Ở Pháp, một thời gian rất lâu tôi theo ông Benson & Hedges rồi sau đó là một khoảng dài hút tẩu đến độ một bên răng của tôi mòn hõm xuống. Thôi, tôi xin miễn triển khai thêm về thói hư tật xấu này của chính mình, cũng như về tính tò mò, háo hức tìm hiểu các chất hút hít khác mà tôi đã từng thử nghiệm trong bao căn phòng áp mái mù mịt một thời sinh viên nghèo.

Nói chung cuộc đời và định mệnh của tôi như thế là đã quá dính dáng nếu không nói là bị chi phối nhiều bởi điếu thuốc và các chất được đốt lên để hút vào phổi. Bây giờ nhiều nước đã cấm hút thuốc ở sở làm, ở nơi công cộng, ngay cả những chỗ mà bình thường nhiều người tìm đến để hưởng thụ thú hút sách như các quán cà phê, bar, tiệm ăn uống. Và tôi thì từ đây coi như đã phải vĩnh viễn xa rời các loại khói. Tuy nhiên trong nhà tôi hiện nay ở nhiều tủ, ngăn kéo, giữa các hộp xì gà, thuốc píp tôi còn chất đầy các cây thuốc, đủ loại, vì mỗi lần xuyên biên giới, qua các cửa hiệu Duty Free tôi vẫn chưa mất thói quen cắp nách về một vài cây. Đôi khi có bạn ghiền đến nhà, tôi vẫn lấy ra tặng, mỗi lần như thế, mở cửa tủ nhìn thấy chúng, tôi lại tần ngần, thấy lòng bồi hồi như trẻ con hàng năm cứ vào độ cuối thu khi lá ngoài đường rụng nhiều…

Năm 1975, cái mấu chốt thời gian này không dễ gì quên được, kẻ thì gọi nó là năm «Giải phóng», kẻ thì gọi là «Mất nước», «thất thủ», «ngày đứt phim», "vận nước đã đến rồi", người thì là «một trận lăng nhăng (1)»… Gọi thế nào thì gọi, nhưng có một việc ai cũng nhớ rõ, đó là những năm cực kỳ gian khổ không chỉ đặc biệt cho người miền Nam, nhưng cho tất cả người Việt Nam trên cả nước. Chính quyền Miền Bắc thắng trận, nhưng cả nước đã kiệt quệ, trên cả tinh thần lẫn vật chất. Tiếp sau đó là những sai lầm chiến lược và ý hệ đã đưa kinh tế Việt Nam đến chỗ khốn cùng vì bị các nước đàn anh không những hoàn toàn bỏ rơi mà còn muốn dạy thêm cho những «bài học» nhớ đời. Năm năm sau 75, ngày tôi về lại, tôi được nghe nhiều người đang còn ngêu ngao những câu kiểu:
Từ ngày Giải-Phóng vô đây
Con chuột hết cống, con cầy hết phân
Từ ngày Giải-Phóng vô đây
Ta ăn độn dài-dài, ta ăn độn mì khoai

Gia-tài của mẹ: trả nợ Liên-xô
Gia-tài của mẹ: còn cái chuồng bò…
Gia-tài của mẹ: gạo độn ngô khoai
Gia-tài của mẹ: gạo mốc dài dài…

Ai có qua Phường 15 Yên-Đổ
Thấy xe nó đổ cả một đống khoai mì
Cả khoai lang lại thêm khoai bí
Dân mình xếp hàng đăng-ký..ííí đem dzìa ăn
.....

Khi mới ăn thì mình khen nức-nở
Ăn mấy bữa thì nổi ghẻ tưng-bừng
Ghẻ sau lưng rồi lên mông đít
Ra chợ Bến-Thành mua thuốc đem về thoa

Điệp Khúc:
Tổ-quốc ơi
Ăn khoai mì ngán quá
Từ trận thắng hôm nay
Ta ăn độn dài-dài
Từ trận thắng hôm nay
Ta ăn độn đều chi

(nhái theo giai điệu bài hát Tình đất đỏ miền đông của Trần Long Ẩn)
Ở miền Bắc và miền Trung thì những câu:
Toàn quốc giấy dầu
Ăn cơm thì ăn với rau
Đừng ăn với thịt mà đau dạ dày

Ba nghìn cây số biển xanh
Sao em thiếu muối tra canh hàng ngày ?
Ai lên vũ-trụ thì lên
Còn tôi ở lại ghi tên mua mì
Ai sinh ra cái củ mì
Hỏi : Ðể làm gì ? Ðáp : Ðể mà ăn
Nước nhà mãi-mãi khó-khăn
Dân mình mãi-mãi phải ăn củ mì
Một thằng lên vũ tru,
Dăm thằng đi Mút cu
Trăm thằng ăn lu bù
Triệu thằng đói rụng cu

Trong «những năm khoai mì», «bo bo» đó, không chỉ có cái ăn uống là bị thiếu thốn, mà bức xúc hơn là thiếu cái để hút, hít, nhất là vào giai đoạn cả phần xác lẫn phần hồn bị dầy vò này, đôi giây phút xuất thần, quên lãng để tinh thần theo làn khói thuốc “bay lên cây” lại thật là quan trọng, cần thiết cho cuộc sống hàng ngày. Thế mà oái oăm thay, trong những năm đó sự sản xuất thuốc lá cũng như tất cả các sản phẩm khác của nền kinh tế sống nhờ, ăn bám của Việt Nam không những bị hỗn loạn, kiệt quệ trên mặt lượng mà cả trên mặt phẩm. Thuốc vừa thiếu lại vừa tồi.

Chính trong thời gian này mà sáng tác dân gian chú mục nhiều vào điếu thuốc lá. Qua điếu thuốc lá người ta nhìn thấy được cuộc sống, quan hệ con người, xã hội một cách bức xúc.

Những người hút nhiều, nghiện nặng nhất là ở thôn quê, vẫn phải dùng thuốc rê, thuốc lào, thuốc Cẩm Lệ, hoặc trồng vài cây thuốc lá trong vườn, «tự biên tự diễn». Nếu sang hơn thì thỉnh thoảng mới hút được điếu thuốc lá đen, nhưng vẫn dùng thuốc lào là chính. Cho nên có thành ngữ: «Thuốc lá đá thuốc lào» để chỉ một cái gì đó không chính thức, không chính thống, không trọn vẹn.

Có một thời, thuốc lá nội nhất là ở miền Bắc, khi chưa chạm mặt nhiều với thuốc lá ngoại, thì vẫn còn có thớ, còn rất vênh váo là đằng khác:
Trường Sơn một giải ba hào
Điện Biên lịch sử hai bao một đồng
Thăng Long là đất anh hùng
Mỗi hào một điếu đồng lòng thì mua
Dạo ấy, đa số thuốc lá vẫn chưa có «đầu lọc». Các loại thuốc nội hoá như Điện Biên, Sapa, Trường Sơn, Thăng Long, Hoa Mai, ĐàLạt, … đều không có đầu lọc, giấy dày, thuốc đen, mùi vị vừa khét vừa hôi, nhiều lúc đang hút vẫn có thể tắt ngúm, không hút được nữa vì gặp một cái cục gì rất to giữa điếu thuốc mà không phải là thuốc lá. Ngoài ra nhiều thuốc thường do dân chúng vấn theo kiểu gia công trong gia đình nên không được đều tay.

Thuốc có đầu lọc là thuốc sang, xa xỉ phẩm (Dĩ nhiên sau này cũng có loại đầu lọc kém sang hơn vì là hàng nội và đầu lọc kém chất lượng như thuốc Bông Sen (làm ở Thanh Hoá, Sàigòn) phần lớn là loại thuốc thơm, lá thuốc là loại lá vàng ươm gốc Virginia, lại được pha chế có thêm các chất phụ gia cho có vị ngọt, thơm, êm, dễ cháy, mà nếu gọi một cách dông dài và trịnh trọng như cán bộ trí thức thì nói là «thuốc thơm sợi vàng Virginia có cán». Nói chung để phân biệt với thuốc sản xuất trong nước, bà con vẫn gọi chúng là «thuốc thơm» và đôi khi còn thêm bổ ngữ «có cán» để xác minh thêm phần đầu lọc.

Các thuốc lá ngon thời ấy dĩ nhiên đều là thuốc lá ngoại, không những chỉ là thuốc lá Âu Mỹ mà còn của Nga như Phenica, Steward, Ấn Độ như Hero, Jet, và nhất là của một nước lân bang cách một biển là Thái Lan đại diện bởi Sammít. Tất cả những loại thuốc lá ngoại này đối với người Việt Nam thuở đó đều mang một giá trị ngoại hạng, bởi vì thường giá của nó quá đắt so với đồng lương trung bình của cán bộ. Chỉ một điếu thuốc thơm thôi, nếu đổi ra bằng tiền, bằng vật phẩm, quy ra gạo… có thể thành giá trị của một ngày cho đến nhiều ngày lương, thậm chí cả tháng lương đối với vài thành phần nào đó. Cho nên hay xẩy ra hiện tượng dùng thuốc lá làm một giá trị trao đổi, một loại tiền tệ bán chính thức, một thứ quà cáp, đưa đẩy, thậm chí rất thông thường như một món thù lao, hối lộ vô hại. Hối lộ nhưng mà lại ra điều rất tình nghĩa với nhau để cho người nhận cũng đỡ xấu hổ, ngượng ngùng mà người đút cũng vậy !

Dạo ấy, từ nước ngoài về, từ Intershop ra, một bao thuốc lá ngoại là một món quà rất sáng giá, thường là một bao Ba Số (Năm) chẳng hạn, nhưng cũng có thể là Dunhill, Lucky Srike, Pall Mall, Marlborro, Camel, Cool..., nếu lại là loại International, Extra long hộp cứng thì lại càng xa xỉ và tuyệt vời biết bao. Thật ra cũng chẳng cần phải là những thứ thượng hảo hạng đó. Đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ rõ như hôm qua khuôn mặt gầy gò chìm đắm sau khói thuốc của một người bạn hoạ sĩ cũ, gặp lại sau gần hai mươi năm bên lề đường, mắt lim dim anh gật gù vừa nhả khói vừa cười giữa hàm răng đen, bảo: « - Mẹ kiếp, đúng là đê mê, (bây giờ thì phải gọi là « phê ») cả năm nay tao mới hút được điếu thuốc ngon như thế này, người ta bảo trong thuốc Sammít tụi nó có bỏ ít thuốc phiện, không khéo là đúng đấy mày ạ ! Mà mày biết không, một cái nước mà không làm nổi cho dân một loại thuốc hút cho được được một chút, anh hạ giọng xuống nhìn chung quanh, thì cái nước ấy cũng chẳng ra cái củ c… gì cả!»

Nghề bán thuốc lá dạo hoặc cố định là một nghề tương đối ở trong tầm tay của những gia đình nghèo cho nên nó rất phổ biến, từng nuôi sống rất nhiều phụ nữ và trẻ em thời ấy, mặc dù chỉ nuôi sống một cách rất là «qua ngày». Họ chỉ cần một ít vốn, không đáng kể, thuê đóng một cái hộp kính bé có chia ô vừa kích cỡ bao thuốc, đặt trên một cái mễ hình chữ X, trong đó có vài bao thuốc lá dở, loại phổ thông nhất, đã bóc và một số hộp thuốc lá rỗng để chưng bầy cho ra vẻ, cho xôm tụ là đủ, rồi cứ gần mấy cửa ra vào bên ngoài các công sở lớn nhỏ, cơ quan hành chính, chỗ đông người tụ tập mà ngồi là họ có thể bắt đầu cuộc mậu dịch mà sống qua ngày. Nếu cần phải dời chỗ, đi về, chạy công an thì người ta chỉ cần cắp hộp, xếp mễ là xong.

Tình trạng «đói» trong đó có thuốc lá rồi dần dần cũng giải quyết được với chính sách «đổi mới». Thật ra thì lãnh đạo chính trị trung ương và địa phương ở Việt Nam cũng đều đã thấy ngay đó là một nguồn lợi béo bở, cho nên các chuyện buôn lậu thuốc lá là những «công vụ» bán chính thức đã thường xuyên xẩy ra qua các ngả biên giới (Campuchia, Nga), trên hải phận (ngoài khơi với Thái, Singapore), qua các chuyên cơ, Intershop… trước đó lâu lắm rồi. Nhưng chỉ cho đến khi, sau thời gọi là «đổi mới», họ bắt tay được với các tập đoàn thương mại và tài chính của Sing từ đầu những năm 90 để cùng khai thác thị trường bia, rượu, thuốc lá tại Việt Nam thì mọi việc mới thành to chuyện. (*). Và rồi sau chỉ khoảng 15 năm, không những thuốc lá ngoại dần dần lại được bán tự do đầy đường, giá cả càng ngày càng trở nên phải chăng, mà chất lượng thuốc lá nội địa cũng khá hẳn ra, một số mác cũ như thuốc «con mèo – Cravena» cũng được tái sản xuất y như xưa. Người Việt Nam đang đói thuốc bỗng trở nên lạm phát dư thừa, bội thực thuốc, như thể thuốc bị cấm cửa ở nhiều nơi, gần nhất là Sing, đã vội vàng kéo nhau hết cả tụ tập về nước này.

Cho nên, tình trạng hiện nay theo các giới chức Bộ Y tế ở Hà Nội ước tính thì lượng thuốc lá sản xuất trong nước đang gia tăng với tỉ lệ 10% mỗi năm, từ 2,7 tỉ gói trong năm 2000 lên tới 3,5 tỉ gói trong năm 2002, lên đến 3,8 tỷ bao vào năm 2003 và hơn 4 tỉ gói trong năm 2006, nghĩa là chia bình quân trên đầu người thì mỗi người Việt Nam phải tiêu thụ hơn 1.000 điếu thuốc một năm. Cũng theo các giới chức y tế, hơn 50% đàn ông và khoảng 2% phụ nữ ở Việt Nam hút thuốc, chưa kể cả trẻ em, và các chứng bệnh liên quan tới thuốc lá gây tử vong trực tiếp cho 30 tới 40 ngàn người mỗi năm, ước tính 10% dân số nước ta sẽ chết sớm do các bệnh có liên quan đến thuốc lá, trong đó khoảng 3,7 triệu người sẽ chết ở tuổi trung niên (Báo Tuổi trẻ, 27-05-06)

Hiện nay đối với thuốc lá điếu có đầu lọc, sản xuất chủ yếu bằng nguyên liệu nhập khẩu, xì gà chịu mức thuế 65%, thuốc lá điếu có đầu lọc sản xuất chủ yếu bằng nguyên liệu sản xuất trong nước chịu mức thuế 45%, thuốc lá điếu không đầu lọc 25%. Cơ cấu thuế nhiều mức đã khiến giá thuốc lá rất khác nhau, có loại chỉ khoảng 1.000 đồng/bao và có những loại giá cao (15.000 đồng/bao). Giá cả nhiều loại thuốc lá thấp đã tạo cơ hội cho người có thu nhập thấp (bao gồm cả thanh thiếu niên) có khả năng mua thuốc lá. Theo thống kê của Bộ Y Tế Việt Nam hồi cuối Tháng Mười Hai năm 2005, thuốc lá đã đẩy 1.3 triệu người Việt Nam vào cảnh đói nghèo.

Dĩ nhiên không ai biết được lượng thuốc lá lậu qua các biên giới, nhưng với số lượng chính thức đã lớn như thế, lại vừa có lợi cả hai đầu, đầu lợi nhuận của các công ty sản xuất và đầu thuế của nhà nước trên cái tem dán trên sản phẩm, đó quả là những món tiền khổng lồ quá dễ dàng và tiện lợi. Nếu bỏ tiền tem nhà nước và tiền lãi các cơ quan chủ quản, những đầu nậu buôn lậu các tỉnh phải lãi rất nhiều, cho nên lượng thuốc nhập lậu dĩ nhiên là không phải nhỏ.

Vì doanh thu của cá nhân lẫn chính phủ từ thuốc lá (cũng như các chất độc hại khác như rượu, các loại ma tuý) quá lớn và tăng đều, nhà nước Việt Nam không những không hề nghĩ đến các biện pháp tích cực là giảm tiêu thụ để cứu dân, mà lại còn kêu gọi đầu tư (nước ngoài) thêm vào lĩnh vực này. Ngoài ra cứ đến giáp Tết, buôn lậu các loại thuốc lá cao cấp vẫn gia tăng mạnh, mạnh tỉnh nào thì tỉnh đó đi buôn lậu gần như chính thức, và nhà nước thường là ngoảnh mặt làm lơ. Ngay cả ở những thành phố lớn cũng không là ngoại lệ. Chỉ tính riêng trong tháng 1/2007, lực lượng Quản Lý Thị Trường TP HCM đã phát hiện gần 10.000 gói thuốc cao cấp nhập lậu: 555, Hero, Jet, Marlboro... Đó là chưa kể việc phát hiện hàng loạt vụ vận chuyển thuốc lá lậu khác bằng đường hàng không, đường thủy… (Theo báo điện tử Đảng Cộng Sản Việt Nam)

Mặc dù nguồn gốc cây thuốc lá vốn đến từ châu Mỹ xa xưa, nhưng theo thống kê thì hiện nay người châu Á lại hút thuốc nhiều nhất thế giới, mà ở châu Á thì người Việt Nam lại đứng hàng đầu (2), rồi sau đó đến người Nhật và người Trung Quốc (Nghe nói ở những nơi này, theo điều tra, thì việc hút thuốc lá về mặt tâm lý và văn hoá được xem như một biểu hiện của đàn ông tính, biểu dương được khả năng tình dục mạnh, thật không hiểu vì sao !). Gần đây nghe đài báo Trung Quốc nói họ cũng đang ráo riết tìm cách giảm tiêu thụ thuốc lá, không biết tiến độ như thế nào. Chúng ta mong rằng Việt Nam rồi cũng sẽ bắt chước và có lẽ bắt buộc phải bắt chước Trung Quốc, bởi vì, chẳng khác nào việc cấm pháo, nếu Việt Nam đi chậm hơn thì lượng thuốc lá thừa ở Trung Quốc sẽ tràn ngay sang Việt Nam không có cách nào ngăn cấm được.

Bây giờ xin lại nói tiếp về cái điếu thuốc lá thời bao cấp, một thời kỳ thật kỳ lạ trong đó chế độ phân phối tem phiếu của nhà nước, đưa đến nhiều tình cảnh rất quái dị là cả người không hút thuốc nhiều khi cũng được phát thuốc, lĩnh thuốc lá như thường. Như trường hợp một thanh niên đã kể lại trong loạt bài «Đêm trước đổi mới» ở Tuổi Trẻ online: «Tôi không hút thuốc lá, thuốc lào nên chỉ lấy khăn mặt, thuốc đánh răng, nửa cân đường, hộp sữa. Vỏn vẹn tính ra hết có 5 đồng bạc. Còn 25 đồng, quản lý chẳng biết phân gì? Cuối cùng cũng đành bắt buộc phải lấy thuốc lào, thuốc lá cho hết. Xong đem cho, hoặc mời anh em khác.”

Trong chế độ và xã hội bao cấp đó, khi:
Quan cao ăn cung-cấp
Quan thấp ăn chợ đen
Quan quen ăn cổng hậu
thì dĩ nhiên đã có những quy chế khá đặc biệt và những loại người cũng rất đặc biệt. Những thứ này vào thời đại mới tất yếu phải biến dạng đi nhiều. Những cái đặc biệt ấy có lẽ phải là người trong cuộc mới cảm nhận được tất cả cái quy mô của chúng, trong đó ta phải kể đến mấy loại người xem ra thật tầm thường trên bình diện xã hội nhưng trên thực tế lại vô cùng quan trọng, lợi hại đối với cuộc sống của những ai nằm trong guồng máy XHCN ở thời buổi nhiễu nhương được gọi một cách quái gở là “quá độ” kia.

Trong nhiều chức vụ đó phải kể nghiệp vụ lái xe, nghiệp vụ thủ kho, nghiệp vụ gác cửa… mà người ta hay gọi là Thường Trực, Thường Vụ, Bảo Vệ để tăng thêm vẻ tôn nghiêm của chức vụ. Để sống được, nhiều người bán thuốc lá lẻ trước các cơ quan đã nắm bắt được quy luật này một cách tự nhiên và họ kết hợp rất chặt chẽ, nhuần nhuyễn nếu không nói là bắt buộc phải ăn cánh với các tay thường trực, bảo vệ để mà sống. Một điếu ba số là chiếc cầu nối, có thể trong một ngày đi từ quầy thuốc lá lẻ vào văn phòng thường trực rồi lại ngược ra quầy rồi lại đi vào văn phòng rồi lại trở ra… không biết bao nhiêu lần. Người đi vào có công việc làm giấy tờ gì đó càng nhiều thì chu kỳ quay của điếu thuốc lại càng nhiều và càng nhanh. Thật ra không chỉ có ở khâu gác cổng, trong các văn phòng bên trong, nơi làm giấy tờ, điếu thuốc cũng công khai trở thành thủ tục «đầu tiên» (dạo đó từ này vẫn còn chưa biết nói lái một cách phổ biến và phàm tục như hiện nay).

Đối với lái xe, thủ kho… việc này cũng không phải là ngoại lệ, thuốc lá phải được cung cấp đầy đủ trên tất cả những đoạn đường xe chạy, qua những cánh cửa, những trạm gác, trong đồn bót, công an giao thông, khu vực, văn phòng phường xóm… Điếu thuốc, bao thuốc thơm ở đâu đâu cũng cần cù làm nhiệm vụ của mình để “bôi trơn” cho tất cả các đinh ốc, bánh răng cưa trong cái guồng máy chính quyền đang lừ đừ chuyển động như bất chấp thời gian, trên bình diện cả nước.

Ngày đó cái chức năng xã hội này, sự đồng loã của nó trong cuộc sống dân gian còn mạnh lắm. Vì vậy thuốc lá được xếp hạng theo hiệu lực, công suất mà chúng có thể đem lại cho người dùng chúng vào mọi tác động con người và xã hội như làm quen, tỏ tình, xin xỏ giấy tờ, dịch vụ, biếu xén, đút lót… Trong đó đứng đầu bảng phải kể đến loại thuốc lá Ba số 5 (555), loại thuốc vốn được Mao Trạch Đông rất ưa thích và còn hút cho đến khi chết. Mà hình như cho đến ngày hôm nay nó vẫn là loại được nằm cao nhất trên danh sách các nhãn hiệu thuốc lá ngoại ở Việt Nam. Người ta bảo giá trị sử dụng của nó cao, vì nó thơm, ngon, sang…nhất. Dạo ấy nếu mọi người gọi mì chính (bột ngọt) là «vua bếp» thì thuốc ba số phải là vua khói ở tất cả mọi nơi, cho nên mới sinh ra những câu rỉ tai xưng tụng nó như sau:
Ba số nói bố cũng nghe
Ba số lố nhố cũng xong
Ba con năm vừa nằm vừa ký
Rồi đến vài loại khác cũng có tác dụng kha khá như:
Sammít nói ít hiểu nhiều
Hêrô thôi thì đi dô
Còn đến các loại thuốc nội hoá thì ôi thôi nhiều khi không những không có tác dụng gì mà lại có thể gây ra tác dụng ngược:
Hoa Mai nói hoài không hiểu
Sapa về nhà mà hút
Trường Sơn biết hút đầu nào ?(Vì không có đầu lọc)
Sông Cầu còn lâu mới được !
Một thời nào «miếng trầu đã là đầu câu chuyện». Miếng trầu giờ đã đi qua, đi ra ngoài vùng văn hoá chúng ta, đi vào quên lãng. Các thiếu nữ ngày nay không ai còn nhuộm răng, ăn trầu nữa. Nhưng những ngày huy hoàng của điếu thuốc thì chưa biết đến bao giờ mới chấm dứt. Nó cũng vẫn còn là đầu của bao nhiêu câu chuyện ở nhiều nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Duy có chức năng xã hội, giá trị và tầm quan trọng của nó dường như tất yếu ngày càng giảm thiểu mà khía cạnh có hại của nó càng ngày càng lộ rõ (3).

Thời ấy không phải «nén bạc đâm toạc tờ giấy» mà đôi khi chỉ cần một điếu thuốc thơm. Ôi cái thời còn ngây thơ, trong trắng và vô tội, người ta có thể còn giúp đỡ nhau nhiều khi chỉ bằng một hơi khói thuốc, một chút đê mê say sưa trong cõi đời dâu bể đâu sá kể gì !

Ở thời đại này thì đã khác, ngay cả tấm phong bì vốn hoành hành khắp nơi một thời (**) hình như bây giờ cũng đã bị đào thải để nhường chỗ cho những chiếc cặp da bụng phệ đựng ngoại tệ (phổ biến đến độ có nhiều cái đôi khi bị bỏ quên ở phi trường mà không ai dám nhận) hoặc một hình thức tân kỳ, táo tợn nhưng kín đáo nào sẽ còn làm chúng ta phải ngạc nhiên trong thời đại toàn cầu này.

Cái quãng thời gian từ thời bao cấp đến giờ đã là hơn 30 năm, thế mà chỉ thấy nó thoảng qua như mầu xanh lam của khói thuốc bay vào khoảng không rồi tan biến đi đâu, còn lại chăng vài kỷ niệm trong ký ức thật mơ hồ như chưa bao giờ có thật: Phòng trà, hộp đêm, tiệm nhẩy gôgô ngột ngạt mùi thuốc lá dưới ánh đèn mầu nhấp nháy, quay cuồng, trong nhạc thác loạn, đôi bóng người, dăm mái tóc, cái tuổi trẻ ấy có thật ư ? Sao chúng cũng cứ xa dần, xa dần đi như đốm lửa trên đôi môi hồng giờ đã tàn phai. Có gì làm đôi mắt cay cay như là khói thuốc ?
Nguyễn Hồi Thủ
25/03/06-02/07


(1) Trời làm một trận lăng nhăng
Ông hoá ra thằng, thằng hoá ra ông
(2)Thật là quái dị khi chữ thuốc (trong Hút thuốc chẳng hạn) lại cũng có cùng nghĩa với thuốc là thứ dùng để chữa bệnh cho con người (Uống thuốc), nghiệm ra thì chẳng thấy có hiện tượng này ở trong bất cứ thứ tiếng nước ngoài nào mà tôi biết cả !
(3) Ở Việt Nam trên bao thuốc nhà sản xuất chỉ đề một dòng chữ be bé, chung chung bên cạnh một mép bao: «Hút thuốc có hại cho sức khoẻ», như thể sức khoẻ và người hút chẳng dính líu gì với nhau, trong khi ở Pháp này thì câu «FUMER TUE» (THUỐC LÁ GIẾT NGƯỜI/HÚT THUỐC LÀ CHẾT) được viết to, đậm, nằm ngay trên mặt bao thuốc. Ngoài những bệnh hiểm nghèo, người ta còn khám phá ra thuốc lá còn làm giảm khả năng thụ thai vv..

(*) Đón xem bài : Bia ôm và con hổ Tiger
(**) Đón xem bài: Phong bì và tham nhũng


Phụ đính : Đọc báo
Thuốc lá & thị trường Châu Á trong đó có Việt Nam
Ở nhiều nước Châu Á, hút thuốc là rất hợp thời, đang mốt. Những người hút thuốc Châu Á có vẻ như dễ bị tác động bởi những chiến dịch quảng cáo phù phiếm. Hút thuốc lá nhãn hiệu Mỹ hoặc Châu Âu được coi như “sành điệu”. Theo một bài đăng trên tờ Thời báo Nữu Ước (Shenon, 1994), “Ở Việt Nam không có món quà nào sang hơn thuốc lá Ba số của Anh. Ở Trung Quốc, thuốc lá được ưa chuộng là Marlboro. Đối với tầng lớp quí tộc ở Thái Lan, thuốc lá được ưa chuộng là Dunhill.” Tỷ lệ hút thuốc lá ở đàn ông Châu Á cực kì cao, ví dụ như ở Nhật Bản và Trung Quốc: 60%, ở Việt Nam: tỷ lệ trở nên khổng lồ 73% (Pollack, 1997).

Trong khi một số chính phủ Châu Á theo gương các nước Tây phương, cấm quảng cáo thuốc lá trên phát thanh và truyền hình thì các công ty thuốc lá lại tìm cách chuyển lời chào mời của họ đến mọi người qua các sự kiện thể thao, hoặc qua trang phục có chưng các biểu tượng thuốc lá. Ở Nhật Bản, ngành công nghiệp thuốc lá - gồm một công ty thuốc lá độc quyền nội địa và 4 công ty thuốc lá đa quốc gia - tự nguyện phát triển những tiêu chuẩn quảng cáo mới, chặt chẽ, áp dụng từ ngày 1 tháng 4, 1998. Những tiêu chuẩn này đặt ra để hạn chế hút thuốc ở giới thanh niên. Ở Singapore luật pháp chặt chẽ, các luật chống hút thuốc như luật cấm bán thuốc lá cho người vị thành niên qui định các hình phạt rất nặng. Các luật kiểu như vậy cho thấy thái độ chống thuốc lá của Phương Tây đã lan sang một số nước Châu Á.

Trung Quốc là một thị trường đặc biệt quyến rũ đối với các công ty đa quốc gia với 1.2 tỷ nhân khẩu và nền kinh tế đang tăng trưởng mạnh. Số người hút thuốc ở Trung Quốc nhiều hơn dân số nước Mỹ (theo Shenon, 1994). Các nhóm khách hàng khác mà công ty thuốc lá nhằm vào là phụ nữ Châu Á và thanh niên. Trong khi ở Châu Á đàn ông trưởng thành hút thuốc là phổ biến, quảng cáo thuốc lá lại đặc biệt hướng vào phụ nữ và thanh niên để thay đổi khuynh hướng nói trên. Ngày càng nhiều phụ nữ Châu Á coi hút thuốc lá là biểu hiện sự nổi dậy của họ (theo Pollack, 1997). Ở Việt Nam, tỷ lệ phụ nữ hút thuốc lá lên đến 34%, mặc dù tỷ lệ này ở Châu Á trung bình chỉ là 10% hoặc ít hơn.

Các công ty thuốc lá đa quốc gia cho rằng họ không cố gắng làm những người không hút ở Châu Á tập tành hút. Thay vào đó, họ chỉ thuyết phục những người Châu Á đã có thói quen hút thuốc thay đổi loại thuốc họ đang hút. Tuy nhiên, thực tế cho thấy điều ngược lại. Ở Hồng Kông, rất ít phụ nữ hút thuốc. Do vậy, nếu các công ty thuốc lá không quan tâm đến việc tạo thị trường mới thì Hồng Công sẽ không thể là thị trường hứa hẹn đối với thương hiệu thuốc lá dành cho phụ nữ.

Sự thật là vài năm trước đây công ty Philip Moris đã đưa ra thương hiệu Virginia Slims chủ yếu nhắm vào phụ nữ ở Hồng Kông (theo Shannon, 1994).

Đặc biệt là dưới thời ông Bush làm tổng thống, chính phủ Mỹ đã gây sức ép để đạt được những hiệp định cho phép tự do buôn bán thuốc lá, để đảm bảo rằng các nước Châu Á sẽ mở cửa thị trường cho các công ty thuốc lá có trụ sở ở Mỹ. Báo cáo thường niên 1993 của công ty thuốc lá R. J. Reynolds cho biết : “ Hiện nay công ty Reynolds chiếm 90% thị phần thị trường thuốc lá thế giới, một thập kỉ trước đây mới chỉ 40%”. Rõ ràng các nỗ lực đàm phán thương mại đã thúc đẩy ngành công nghiệp thuốc lá Mỹ phát triển.

Ảnh hưởng về mặt sức khoẻ

Các bác sĩ và các nhà khoa học quan tâm về việc hút nhiều thuốc hơn sẽ ảnh hưởng đến sức khoẻ của người dân Châu Á. Một nhà khoa học dự đoán “Vì tiêu thụ thuốc lá ở Châu Á tăng, tỷ lệ tử vong hàng năm trên thế giới do các bệnh liên quan đến hút thuốc sẽ tăng gấp ba lần hoặc hơn trong hai hay ba thập kỉ tới, từ 3 triệu người một năm đến 10 triệu người một năm, một phần năm trong số đó là người Trung Quốc. Theo tính toán của nhà khoa học này thì 50 triệu trẻ em Trung Quốc hôm nay sẽ chết vì những bệnh liên quan đến hút thuốc lá”. (theo Shenon, 1994).

Bộ Y Tế Nhật Bản kèm theo tập Những Trang Trắng năm 1997 của họ một phần nói về hút thuốc lá và ung thư phổi, có nhắc đến các nguy cơ của hút thuốc thụ động. Đây là lần đầu tiên báo cáo hàng năm của Bộ Y Tế có phần nói về hút thuốc (Các khuynh hướng ở Nhật Bản, 1998). Trong những năm trước đây, Bộ Y Tế đã cố gắng kèm một phần nói về thuốc lá trong báo cáo của mình nhưng bị Bộ Tài Chính bác bỏ, một bộ mạnh hơn và là đại diện cho quyền lợi của công nghiệp thuốc lá (lưu ý rằng chính phủ Nhật Bản sở hữu phần lớn cổ phần trong ngành công nghiệp thuốc lá Nhật Bản). (theo Pollack, 1997).

Thứ trưởng Bộ Tài chính Trương Chí Trung cho biết, tại Việt Nam, thuế tiêu thụ đặc biệt nói chung và thuế tiêu thụ đặc biệt đối với rượu, bia, thuốc lá và ôtô nói riêng đóng một vai trò quan trọng về mặt nguồn thu ngân sách Nhà nước. Trong những năm qua, số thu từ sắc thuế này thường chiếm khoảng 24% trong tổng số thu từ thuế gián thu, riêng các mặt hàng rượu, bia, thuốc lá và xăng dầu chiếm tới 19,7%. (http://www.rdviet.info/thong-tin/modules.php?name=News&file=article&sid=3255)

Hiện nay, tại Việt Nam đã có một số doanh nghiệp nước ngoài tham gia sản xuất thuốc lá bao gồm British American Tobacco (BAT), Philips Morris và Japan Tobacco (JT). Các doanh nghiệp này đang liên doanh, liên kết với Tổng công ty thuốc lá Việt Nam để sản xuất các loại thuốc lá mang nhãn hiệu 555, Marlboro, Dunhill, Mild Seven…Tuy nhiên các doanh nghiệp này đều chỉ được phép liên doanh, liên kết với các đối tác trong nước.

Theo giới thạo tin, lợi nhuận các doanh nghiệp này thu được thì không hề nhỏ. Các nhãn thuốc lá trên đã được tiêu thụ với mức hơn 1 tỷ bao trong tổng số hơn 3 tỷ bao thuốc lá tiêu thụ tại Việt Nam trong năm 2006, chiếm khoảng 31% thị phần về số lượng bao, nhưng chiếm một tỷ lệ cao hơn nhiều nếu tính về doanh thu vì phần lớn trong số này là các loại thuốc lá trung và cao cấp. Dễ hiểu là tại sao các doanh nghiệp nước ngoài vẫn muốn xí được phần thị trường Việt Nam và câu chuyện thuốc lá cũng đã được đưa lên bàn đàm phán WTO.

Vào năm 2006, hai nhãn thuốc lá mới là Pall Mall và Viceroy đã được BAT kết hợp với Tổng Công ty thuốc lá Việt Nam đưa ra thị trường sau khi được Chính phủ đồng ý. Tuy nhiên, sự kiện này cũng đã gây ít nhiều dị nghị và thắc mắc đối với các doanh nghiệp nước ngoài còn lại. Nhưng trên thực tế, doanh nghiệp này đã phải chấp nhận một số điều kiện cụ thể.

Theo cam kết gia nhập WTO, từ năm 2007 Việt Nam sẽ phải cho phép nhập khẩu thuốc lá điếu và chẳng bao lâu nữa trên thị trường sẽ xuất hiện thêm một loạt các nhãn hiệu mới.

Nhưng theo quan điểm của Bộ Công nghiệp, việc cho phép các nhãn thuốc lá mới được sản xuất tại Việt Nam như trường hợp các nhãn Pall Mall và Viceroy nói trên vẫn có lợi hơn trên các khía cạnh như thu ngân sách, tạo việc làm… Vào năm 2006, thuế tiêu thụ đặc biệt đối với thuốc lá tăng từ 45% lên 55% thực sự là một gánh nặng đối với ngành này. Tổng sản lượng tiêu thụ đã giảm 11,4%, riêng tiêu thụ nội địa giảm khoảng 14%. Nhưng từ năm nay với việc thuốc lá ngoại được nhập khẩu về, một cuộc cạnh tranh mới sẽ làm giảm giá sản phẩm và tăng lượng tiêu thụ trở lại? (http://www16.24h.com.vn/news.php/52/139658)


Thuốc Lá Trúng Mùa Thì Rừng Hết Cây
(Gia Lai - VNN) Để có thuốc lá phải có củi sấy, thế là sẵn cây trên rừng người ta cứ chặt về đốt. Vào mùa thu hoạch cây thuốc cũng là thời điểm cánh rừng của Gia Lai trở nên tan hoang.

Theo dân địa phương, một hécta thuốc lá sấy sau 4 tháng thu hoạch cho lãi từ 15 đến 20 triệu đồng, mà không năm nào bị rớt giá. Thêm vào đó lại có 2 đơn vị là Trạm nguyên liệu thuốc lá Gia Lai và Nhà máy thuốc lá Bến Tre sẵn sàng hỗ trợ kỹ thuật, giống, phân bón và bao tiêu sản phẩm. Do đó, diện tích trồng thuốc lá sợi vàng trên địa bàn huyện Krông Pa ngày một tăng nhanh. Tuy nhiên, cùng với sự giàu lên của nhiều gia đình ở Krông Pa mà đa phần là gia đình cán bộ, nhờ trồng thuốc lá, là sự nghèo đi của những khu "rừng vàng" ở địa phương này. Vì thuốc được sấy bằng củi rừng mà củi tốt cháy đượm than thì hàng càng đẹp, càng được giá.

Được biết, chỉ tính riêng vụ mùa 2002-2003, toàn huyện Krông Pa trồng khoảng 1.000 hecta thuốc lá sợi vàng sấy và có 610 lò sấy. Chính vì thế mà thời gian vào vụ thu hoạch thuốc lá vàng sấy, rừng phòng hộ suối Ka Tô, buôn Ma Rốc bị tàn phá nghiêm trọng. Người khai thác củi trái phép thường dùng xà beng, cuốc chim để mở đường cho xe đi. Gỗ được xếp thành chồng, thành đống trong rừng một cách ngang nhiên. (http://www.lenduong.net/spip.php?article2785).

Nguyễn Hồi Thủ là một nhà văn và nhà thơ nhiều trăn trở với đất nước, đặc biệt là về lãnh vực văn hóa tư tưởng. Tốt nghiệp cử nhân luật tại Sài Gòn, cao học chinh trị tại Nhật, và cao hoc du lịch tai Pháp, rồi hành nghề kỹ sư tin học; nhưng được biết tới nhiều nhất là một nhà thơ. Những năm gần đây ông tập trung cố găng vào việc dịch thuật. Dịch phẩm được biết tới nhiều nhất là cuốn Người Trung Quốc Xấu Xí (nguyên tác Bá Dương), sau đó là cuốn Quả Đất Quê Hương (nguyên tác Hervé Morin). Dịch phẩm vừa hoàn tất: Xích Lại Gần với Hiện Thực (ghi lại cuộc đối thoại về sáng tác văn học của Cao Hành Kiện, giải thưởng Nobel văn chương năm 2000, với Denis Bourgeois). Win Vision xuất bản. .Liên lạc: Win Vision 4864 Miramar Avenue, San Jose CA95129, USA, winvision@yahoo.com

Đồng bào Tiền Giang đang biểu tình ở Sài gòn. Làm gì bây giờ?

Phát hành từ 10g ngày 22-06-2007, tại 171 Lý Chiến Thắng, Tiền Giang, đồng bào Tiền giang sau bao khó khăn đã tới Sàigon lúc 7g ngày 23-06-2007 và biểu tình trước Văn phòng Quốc Hội 2, số 194 Hoàng Văn Thụ, quận Phú Nhuận, Sài Gòn. Đồng bào tham dự biểu tình được tăng cường bởi đồng bào ở Bình Phước, Vũng Tàu, Bà Rịa, An Giang và Đồng Tháp. Con số tham dự đã lên đến 300 người. Mặc dù phải dầm mưa và có người đã ngất xỉu, đồng bào vẫn quyết tâm tiếp tục biểu tình và "bám trụ" cho đến khi nào nguyện vọng của mình được giải quyết ổn thỏa. Khi viết bài này thì cuộc biểu tình đã kéo dài hơn 9 ngày và tin giờ chót là công an Sài gòn đang chuẩn bị đàn áp bằng vũ lực đồng bào cũng như có tin một người đã bị công an quận 6 bắt làm việc và có thể là đã bị đánh chết!

Tại sao đồng bào Tiền Giang biểu tình?
Nguyên nhân trực tiếp là lòng tham của các cán bộ trong UBND Tiền Giang, tạo ra dự án ảo, công trình ma. Họ lấy cớ cần mặt bằng đề làm khu công nghệ phát triển kinh tế, làm nhà thương, mở rộng đường xá cho chương trình du lịch, để từ đó đuổi người dân lấy đất. Họ bồi thường giá rẻ sau đó sẽ bán lại với giá cao hơn cho các đại gia hay những tư bản Đỏ Việt Nam. Ai không chịu bán đất thì bị các quan chức lợi dùng quyền thế quấy rối hay vô cớ bắt giam. Đồng bào Tiền Giang trong cuộc biểu tình đã bày tỏ những bức xúc, đau khổ của đồng bào khi bị quan chức địa phương lợi dụng chính sách của nhà nước để cướp đoạt tài sản của nhân dân trong đó cả những cựu chiến binh và những người có công với nhà nước.

Nguyên nhân gián tiếp là sự cai trị độc tài độc đảng của đảng CSVN. Các đảng viên CSVN che chở cho nhau và cứ đùn đẩy từ cơ quan này đến cơ quan khác hoặc đưa qua những toà án mà quan toà cũng lại là đảng viên CSVN. Tình trạng vừa đá banh vừa thổi còi chính là nguyên nhân biến đảng CSVN thành một đảng Mafia, bóc lột người dân một cách trắng trợn. Đồng bào Tiền Giang đã khiếu kiện nhiều năm (từ 1995), và hai lần được chính quyền hứa hẹn giải quyết khi đồng bào Tiền Giang khiếu kiện tại Trung Tâm Tiếp Dân Mai Xuân Thưởng tại Hà Nội và lần thứ hai trong dịp hội nghị APEC đang họp tại Việt Nam năm 2006 nhưng họ chỉ nhận được những lời hứa suông cho qua chuyện và chưa bao giờ được cứu xét thật sự.

Làm thế nào để giải quyết cho đồng bào Tiền Giang?

Những đòi hỏi chính đáng của đồng bào phải được giải quyêt một cách nhanh chóng, công bằng và minh bạch trong tinh thần luật pháp của Việt Nam, phải có sự giám sát của Quốc Hội như đồng bào đòi hỏi và có lẽ hay nữa là dưới sự giám sát của các tổ chức nhân quyền quốc tế hay thông tin quốc tế.

Chính quyền trung ương ở Hà Nội phải đứng ra giải quyết cho đồng bào mà không được dùng Công An để đàn áp cuộc biẻu tình bằng bạo lực và nhất là không được dùng những biện pháp nhơ bẩn như vu cáo đồng bào là "phản động", hay chụp mũ bằng các tội như "tuyên truyền chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam", "âm mưu lật đổ chính quyền".

Chính quyền Việt Nam không được nhắm mắt làm ngơ dân kêu thì mặc kệ dân kêu, tham quan cứ việc tung hoành tình trạng "trên bảo duới không nghe". Các ngài trong quốc hội, trong chính phủ thì cứ ba hoa hoa như chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết "Nếu một đảng thì có các cơ chế để lắng nghe ý kiến của người dân". Nhưng nếu ai có khiếu kiện, thì các đảng viên Đàng CSVN binh vực lẫn nhau, tìm cách phân tán bà con, bắt bớ, để làm chìm xuồng nhũng sự kiện tham nhũng.

Tác giả đã từng thú vị nhất là câu của TT Dũng nói về tham nhũng trong buổi trực tuyến "Nhiều nơi, nhiều người mới chỉ kiên quyết chống tham nhũng trên diễn đàn". Đây thật là một dịp may hiếm có để chính quyền CHXHCNVN có thể chứng minh lời nói và hành động. Tác giả yêu cầu Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng, người có đủ thẩm quyền để giải quyết và hoàn toàn chiụ trách nhiệm cho hành động của các cán bộ ở UBND và các cơ quan công an:
- Thủ Tướng hãy tạm ngưng ngay chức vụ của chủ tịch và phó chủ tịch UBND Tiền Giang cùng các quan chức công an ở Tiền Giang
- Thủ Tướng hãy ra lệnh công an Sàigòn không được đàn áp bằng vũ lực với đồng bào Tiền Giang đang biểu tình trước Quốc Hội 2 ở Sàigòn. Tất cả các công an, dân quân phải không được tự ý phát động bất kỳ hành động vũ lực, hăm doạ, bắt bớ các đồng bào biểu tình trong tinh thần ôn hoà và bất bạo động này. Sự bịt miệng LM Nguyễn Văn Lý trước toà án đã là một hành động kém văn hoá của Việt nam, một nhục nhã cho toà án Việt Nam và tượng trưng cho sự đàn áp nhân quyền của chíhh quyền Việt Nam.

Nếu Thủ Tướng Dũng để cho công an Sài gòn làm một cuộc đàn áp đồng bào Tiền Giang ở Sài Gòn lần này, thì cá nhân Thủ Tuớng nói riêng và đảng CSVN nói chung sẽ phải chịu trách nhiệm về hành đông này truớc lịch sử Việt Nam.

- Thủ Tướng hãy ra lệnh công an Tiền Giang, Bình Phước, Vũng Tàu, Bà Rịa, An Giang và Đồng Tháp không được theo dõi, cản trở hay nhũng nhiễu bà con nếu họ lên Sài gòn biểu tình hay trở về sau cuộc biểu tình. Họ đang thực thi những điều mà chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết rao bán ở hải ngoại với Việt Kiều nói riêng và quốc tế nói chung ("Có một đảng nhưng vẫn lắng nghe được tiếng nói của nhân dân. Đảng là đại diện của nhân dân, vì nhân dân mà phục vụ.")

- Thủ Tướng hãy ra nghị quyết tạm ngưng ngay tất các các lịnh đuổi nhà, lấy đất của UBND Tiền Giang và các tỉnh nơi mà dân oan đang nộp đơn khiếu kiện cho đén khi có những quyết định của toà án nhân dân. Tất cả các quan chức ngành an ninh ở những tỉnh này phải thay đổi mới.

- Thủ Tướng hãy yêu cầu Toà án Nhân dân xét xử tất cả các đơn khiếu kiện dưới sự kiểm soát công khai của đồng bào, quốc hội và báo chí trong và ngoài nước.

Riêng đối với các công an đang có nhiệm vụ bao vây đồng bào biểu tình, hay điều tra ngầm, hăm dọa đồng bào tác giả yêu cầu:
- Các bạn phải đối xử tử tế và không được xâm phạm vào tính mạng hay gây thương tích cho đồng bào. Các bạn không được nhũng nhiễu, dọa nạt đồng bào. Các bạn hãy nghĩ đến số phận các bạn trong tương lai. Bao nhiêu người trong các bạn sẽ là Thượng Tướng Công an, chủ tịch UBND, bao nhiêu người trong các bạn hay con cái các bạn biết đâu sẽ là dân oan trong tương lai?
- Đảng đang chống tham nhũng, dân oan khiếu kiện tức là chống tham nhũng. Các bạn có đọc thấy biểu ngữ không? "UBND Tiền Giang lừa Đảng lừa Dân". Nếu các bạn đàn áp dân oan tức là các bạn đứng vào phe "lừa Đảng lừa Dân" à? Công an có nhiệm vụ cao quý là giữ an ninh trật tự cho xã hội, là bạn của nhân dân chứ không phải là côn đổ, là "đồ mắc dịch" đi giúp đỡ những quan tham, những cán bộ tiêu cực.

Các bạn đừng để bị lợi dụng làm tay sai cho đám cướp ngày này. Tác giả dám chắc với các bạn Thủ Tuớng Nguyễn Tấn Dũng, Bộ Trưởng Công An Lê Hồng Anh sẽ không bao giờ dám ra lệnh các bạn dùng vũ lực với nhũng nguời dân oan tay không, già yếu, không nhà và đói khổ, vì đó là một chuyện sai luật pháp, vi phạm nhân quyền quốc tế và vô lương tâm theo đạo lý Việt Nam. Các bạn đàn áp dân oan để cho mấy cán bộ tiêu cực Tiền Giang làm giàu làm có trên nuớc mắt đòng bào hay sao? Các bạn giúp bọn cán bộ tiêu cực thì các bạn được gì ngoài nhũng khinh miệt chửi bới của đồng bào và gia đình? Đừng làm cái chuyện "Quýt làm Cam chịu", "Người ta ăn ốc còn mình hốt vỏ".

Với những người "quốc gia nhưng yêu cộng sản" như cựu Thủ Tướng Võ Vãn Kiệt và các đảng viên CS cấp tiến trong đảng CSVN tác giả rất thú vị những tư tưởng tiến bộ của các ông nhất là của ông Kiệt trong những cuộc phát biểu gần đây trên BBC, Việt Weekly trong tinh thần hòa hợp hoà giải dân tộc.

Tác giả đề nghị ông Kiệt và các đảng viên CS cấp tiến trong đảng CSVN hãy can đảm hơn nữa, hãy làm một cử chỉ đẹp, lên tiếng một câu bảo vệ cho đồng bào Tiền Giang như ông Kiệt đã lên tiếng để cứu mấy con cọp Việt Nam. Ông Kiệt hãy yêu cầu các công an Sài gòn là những thuộc hạ ngày xưa của ông khi ông còn là chủ tịch UBND/TP.HCM không được đàn áp cuộc biểu tình bằng vũ lực. Hay hơn nữa nếu ông Kiệt có thể "phá rào chính trị cho Việt Nam", bằng cách đich thân ông Kiệt đến thăm hỏi và tiếp tế ẩm thực cho đồng bào đang biểu tình và ngăn chặn những thành phần cực đoan trong BCT/ĐCSVN vẫn kíu néo một chế độ độc tài độc đảng, đầy bất công trên đất nước Việt Nam và đang tìm cách tạo một Thiên An Môn ở Việt Nam.

Sau cùng đồng bào Tiền Giang biểu tình ở trước Quốc Hội 2 đang trông chờ nơi các nhà tranh đấu dân chủ trong và ngoài nước nói lên tiếng nói của họ. Nhất là đồng bào hải ngoại, các bạn hãy tìm cách mọi cách để thế giới biết đến cuộc biểu tình, hãy giúp đồng bào Tiền Giang. Đồng bào đã nhất quyết bám trụ cho đến lúc đòi hỏi chính đáng của họ được giải quyết, vì thế vấn đề cần thiết nhất ở đây là bảo đảm sức khoẻ và sinh mạng của đồng bào, vì tập đoàn Mafia Đỏ đứng sau lưng đảng CSVN, bọn tham quan và những người cộng sản cực đoan đang tìm mọi cách để đàn áp bằng vũ lực cuộc biểu tình này.

Tác giả đề nghị các bạn ở hải ngoại hãy vận động, ủng hộ tài chánh và chính thức xin chính phủ Việt Nam cho phép một phái đoàn y tế vảo thăm đồng bào biểu tình. Phái đoàn y tế này nên trực thuộc cơ quan Hồng Thập Tự quốc tế , hay thuộc tổ chức nhân quyền quốc tế như Báo Chí Không Biên Giới, Y Sĩ Không Biên Giới. Nếu chính quyền Việt Nam chấp nhận cho Việt Kiều và các cơ quan thiện nguyện giúp đỡ cô nhi, xây chùa, xây nhà thờ, lập đàn giải oan cho người chết, thì theo tác giả chính quyền phải chấp nhận sẽ phải cho phép phái đoàn y tế về sãn sóc an sinh cho đồng bào Tiền Giang đang biểu tình.

Đồng bào ở quê nhà đang mong đợi nơi đồng bào hải ngoại nói lên giùm những bất công ở quê nhà và nguyện vọng được đối xử công bằng, được hưởng những quyền tự do căn bản của con người như bao nhiêu trăm triệu người trên quả địa cầu này.

Những đòi hỏi của đòng bào Tiền Giang phải được giải quyết trong hòa bình!
Cuộc biểu tình bất bạo động của đông bào Tiền Giang sẽ thành công!

Đinh Thiên Vũ


Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ đưa ra 4 điều kiện để thống nhất Phật giáo Việt Nam

*************************************************************
Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế
International Buddhist Information Bureau Bureau
International d'Information Bouddhiste
Cơ quan Thông tin và Phát ngôn của Viện Hóa Ðạo,
Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất
B.P. 63 - 94472 Boissy Saint Léger cedex (France) - Tel.: (Paris) (331) 45 98 30 85
Fax : Paris (331) 45 98 32 61 - E-mail : ubcv.ibib@buddhist.com
Web : http://www.queme.net
**************************************************************

THÔNG CÁO BÁO CHÍ LÀM TẠI PARIS NGÀY 2.7.2007

Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ đưa ra 4 điều kiện để thống nhất Phật giáo Việt Nam nhân việc Đại sứ Na Uy đến thăm Hòa thượng tại Thanh Minh Thiền viện

PARIS, ngày 2.7.2007 (PTTPGQT) - Sáng nay, thứ hai 2.7.2007, ông Kjell Storløkken Đại sứ Na Uy tại Hà Nội và ông Fredrik Steen, Bí thư thứ nhất Đại sứ quán Na Uy đặc trách Chính trị và Kinh tế, đến vấn an Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ, Viện trưởng Viện Hóa Đạo, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, tại Thanh Minh Thiền viện ở Saigon.

Cuộc thăm viếng và trao đổi xẩy ra trong vòng một tiếng rưởi đồng hồ, từ 9 giờ sáng đến 10 giờ 30. Sau đó qua điện đàm, Hòa thượng đã cho ông Võ Văn Ái biết nội dung cuộc gặp gỡ và trao đổi như sau :

Thoạt tiên Hòa thượng Thích Quảng Độ trình bày sơ lược về lịch sử Phật giáo Việt Nam, đặc biệt nhấn mạnh sinh thế Phật giáo trên các lĩnh vực tôn giáo, văn hóa, giáo dục, từ thiện xã hội trước năm 1975 và tình hình Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất bị nhà cầm quyền Cộng sản đàn áp, không cho hoạt động kể từ sau ngày 30.4.1975.

Trong cuộc trao đổi nói trên, có lúc ông Đại sứ Na Uy đưa ra câu hỏi mà cũng là mong cầu của ông được thấy Phật giáo Việt Nam thống nhất, chứ không như hiện trạng có hai Giáo hội tranh chấp ngày nay. Ông thỉnh ý Hòa thượng làm sao thực hiện việc thống nhất.

Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ giải thích tính phức tạp của vấn đề trước hiện tình chính trị và đưa ra phương án bốn điểm để thực hiện :

Hòa thượng cho biết Phật giáo không bao giờ tự phân đôi. Sự kiện phân đôi Giáo hội luôn luôn đến từ những thế lực chính trị nhằm khống chế Phật giáo, và biến tướng giáo lý từ bi, cứu khổ của Đạo Phật thành công cụ chính trị giai đoạn cho chế độ. Hòa thượng đưa ra hai ví dụ điển hình dưới chế độ Cộng sản Việt Nam.

Hiệp định Genève năm 1954 chia cắt Việt Nam thành hai thể chế chính trị. Năm 1955 Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do ông Hồ Chính Minh cầm đầu về tiếp quản Hà Nội, thì hai năm sau Tổng hội Phật giáo Việt Nam, tiền thân của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất[1], bị giải thể. Nhà nước Cộng sản cho ra đời "Hội Phật giáo Thống nhất Việt Nam" làm công cụ chính trị cho Đảng. Sau ngày Cộng sản xâm chiếm toàn quốc năm 1975, thì chủ trương đối với Phật giáo miền Bắc trước kia liền được áp dụng tại miền Nam. Năm 1955, nhà cầm quyền Cộng sản bỏ ra 2 năm để tiêu diệt Tổng hội Phật giáo Việt Nam, thì sau năm 1975, nhà cầm quyền Cộng sản bỏ ra 6 năm để giải thể Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất khi cho thành lập một Giáo hội Phật giáo công cụ vào năm 1981, tức cái gọi là Giáo hội Phật giáo Việt Nam ngày nay.

Hòa thượng Thích Quảng Độ cũng giải thích cho Đại sứ Na Uy hiểu rằng, công cuộc đàn áp nhằm tiêu diệt tôn giáo nói chung và Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất nói riêng, diễn ra trên hai phương án. Một mặt đàn áp, khủng bố, vu khống, miệt thị, bắt bớ, giam tù và quản chế, nếu không là thảm sát, hàng giáo phẩm Phật giáo. Mặt khác đem lợi danh, thoa vuốt, hoặc đe dọa, khủng bố, lôi kéo một số Tăng sĩ làm tay sai cho nhà cầm quyền trong việc chính trị hóa Phật giáo, thông qua các tổ chức Phật giáo Nhà nước để kiểm soát quần chúng Phật tử.

Hiện nay, ở thời điểm cần hội nhập cộng đồng thế giới trên lĩnh vực kinh tế và chính trị, nhà cầm quyền Cộng sản không thể khủng bố trắng bằng những cuộc thảm sát hay bắt bớ đại quy mô như trước. Nên nhà cầm quyền Hà Nội làm cho quần chúng sợ hãi và dư luận quốc tế e dè, bằng thủ thuật vu cáo Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất "làm chính trị", "âm mưu lật đổ chính quyền", v.v... Mặt khác, thổi kèn đánh trống cho chủ trương "thống nhất hai Giáo hội". Thực tế nhằm thanh toán sự hiện hữu của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, lập lại mô thức Giáo hội Phật giáo Nhà nước của năm 1981. Vì nếu thực tâm, nhà cầm quyền Cộng sản hãy để cho Phật giáo toàn quyền lo chuyện nội bộ của mình. Do đó, Hòa thượng Thích Quảng Độ tuyên bố lập trường thống nhất Phật giáo Việt Nam của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất như sau :

"Giáo hội chúng tôi luôn chủ trương hòa hợp trên cơ sở bình đẳng và đồng đẳng. Không chấp nhận chính trị hóa tôn giáo. Bốn điều kiện cơ bản và bất khả phân để thống nhất Phật giáo Việt Nam là :

"Thứ nhất, CHXHCNVN phải phục hồi quyền sinh hoạt pháp lý của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất ;

"Thứ hai, hoàn trả Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất tất cả các cơ sở chùa viện, văn hóa, giáo dục, từ thiện mà Nhà nước chiếm dụng sau năm 1975. Bước đầu, hoàn trả ngay cho Giáo hội hai cơ sở chính yếu là Việt Nam Quốc tự và Trung tâm Văn hóa Quảng Đức để Giáo hội có cơ ngơi đặt trụ sở cho Viện Tăng thống và Viện Hóa Đạo ;

"Thứ ba, đưa Giáo hội Phật giáo Việt Nam do Đảng và Nhà nước thiết lập năm 1981 ra khỏi Mặt trận Tổ quốc ; và

"Thứ tư, làm sáng tỏ cái chết của Cố Hòa thượng Thích Thiện Minh năm 1978".

Ý chí thống nhất Phật giáo để phục vụ dân tộc và kiến thiết đất nước thông qua lập trường 4 điểm nói trên đã được Giáo hội đề đạt qua công văn hay công khai tuyên bố qua các cuộc phỏng vấn trên các cơ quan truyền thông, báo, đài quốc tế.


--------------------------------------------------------------------------------

[1] Theo sử liệu, Tăng đoàn Phật giáo thống nhất thành giáo hội từ thời Đinh. Đại Việt Sử ký toàn thư, Kỷ Nhà Đinh viết "năm Tân Mùi (Tây lịch 971), Tống Khai Bảo năm thứ 4, vua quy định cấp bậc văn võ, tăng đạo. Tăng thống Ngô Chân Lưu được ban hiệu là Khuông Việt Đại sư, Trương Ma Ni làm Tăng lục". Tăng thống là chức triều Đinh phong cho người đứng đầu và lãnh đạo giáo đoàn Phật giáo, Tăng lục là chức quan trông coi Phật giáo dưới Tăng thống. Dưới thời Pháp thuộc, văn hóa và đạo lý Việt bị suy đồi, nên vào những năm 20 đầu thế kỷ XX, các bậc Cao tăng và Cư sĩ đứng lên Chấn hưng Phật giáo Việt Nam. Nhờ vậy, năm 1931, Hội Nam Kỳ Nghiên cứu Phật học ra đời tại Saigon, rồi Hội An Nam Phật học ở Huế (1932) và Hội Phật giáo Bắc Kỳ ở Hà Nội (1934), v.v... Ngày 6.5.1951, 6 tập đoàn Tăng Ni và Cư sĩ ba miền Bắc Nam Trung họp Hội nghị Phật giáo Toàn quốc ở Huế và cho ra đời Tổng hội Phật giáo Việt Nam. Nguyên do dưới thời Pháp thuộc, Dụ số 10 không công nhận Phật giáo như một giáo hội và buộc phải sinh hoạt theo quy chế hội đoàn. Sau cuộc tranh đấu cho tự do tín ngưỡng của Phật giáo thành công năm 1963, sang năm 1964 Dụ số 10 mới bị hủy bỏ, nên từ đây Phật giáo mới có danh xưng Giáo hội, gọi là Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế chú).