Thứ Năm, 28 tháng 6, 2007

NHỮNG CÁI BẮT TAY VÔ DUYÊN NHẤT TRONG CẬN SỬ THẾ GIỚI

Sự kiện Tổng Thống Ðại Hàn Kim Ðại Trọng (Kim Dae Jung) đã bắt tay với Chủ Tịch Bắc Hàn Kim Nhật Thành II (Kim Jong II), trong cái gọi là Hội nghị thượng đỉnh Bình Nhưỡng , vào hai ngày 13-15/6/2000 để chấm dứt hận thù của dân tộc Cao Ly, kéo dài từ năm chia cắt 1948 tới nay. Qua cái bắt tay được gọi là lịch sử trên, thế giới nhìn vào bằng cặp mắt hoài nghi không mấy ai tin tưởng rằng hoà bình thật sự sẽ trở về trên bán đảo Triều Tiên. Ðiều này cũng dễ giài thích vì chuyện gì có liên quan tới cọng sản, trong đó có Trung Cộng,Việt Cộng,Bắc Hàn,Cu Ba, là phải có lừa bịp, xảo trá, mà phần thua thiệt luôn luôn thuộc về những kẻ lương thiện.

Ðây là một chân lý, được lịch sử chứng minh nhều trong quá khứ nhưng nổi bật nhất vẫn là bi kịch hòa bình Việt Nam giả mạo, được ký kết tại Ba Lê ngày 27-1-1973, giữa Hoa Kỳ và cọng sản Bắc Việt, sau cái bắt tay của Henry Kissinger và Lê Ðức Thọ. Gần nhất vào ngày 13-9-1993 cũng diễn ra cái bắt tay lịch sử tại thủ đô Hoa Thịnh Ðốn, giữa Thủ Tướng Do Thái là Yitz Rabin và Chủ Tịch Palestine Yasser Arafat, để ký kết hoà bình. Nhưng tất cả đều là những chuyện làm vô duyên nhất trong lịch sử cận đại. Tại Việt Nam, ngay sau khi cái bắt tay của các phe nhóm còn nóng hổi, thì cọng sản Bắc Việt đã xua quân xâm lăng rồi cưởng chiếm VNCH.Tương tự ở Trung Ðông, tình trạng chém giết giữa hai phiá sau cái bắt tay đó, càng ghê rợn và khủng khiếp, tiếp diễn mãi tới hôm nay, qua các vụ Palestine ôm bom tự sát để chết chung với kẻ thù và Do Thái trả đủa lại bằng đạn pháo, xe tăng, tàn sát dân chúng không nhân nhượng.

Nói như tờ New York Times ngày 4-11-1995 , qua cái chết của Thủ Tướng Rabin, thì ‘chỉ với một cái bắt tay, số phận của một dân tộc đã đưọc định đoạt’. Người xưa chìa tay ra khi gặp một kẻ lạ, để chứng minh sự trong sạch, thành thật của mình ,không có một thứ vũ khí nào trong tay. Theo Brian Charles Burke, thì cử chỉ xiết chặt tay nhau để chứng tỏ lời hứa của hai phía không nói suông,mà là sự bảo đảm bằng trái tim. Nhưng với ai thì còn tạm thời tin được, còn với CSVN, xin đừng , kẻo phải khổ lụy một đời.

Năm 1972 Tổng thống Richard Nixon thăm Trung Cộng, bắt tay với Mao-Chu, mở đầu cho một trang sử thực dân mới giữa đế quốc đỏ và siêu quyền lực tài phiệt Hoa Kỳ. kỷ nguyên bán buôn vận mệnh của nhân loại trong cận sử, được TT Jimmy Carter chính thức ký thỏa ước thiết lập quan hệ ngoại giao, qua cái bắt tay với Mao Trạch Ðông tại Bạch Cung vào năm 1979. Nhưng vĩ đại nhất vẫn là sứ mệnh thế kỷ của TT Bill Clinton cùng với vợ con và đoàn tùy tùng hơn ngàn người, gồm đủ mọi thứ trong xã hội Mỹ lúc đó, làm một cuộc đông du ký theo lộ trình Tây An, Bắc Kinh, Thương Hải, Quế Lâm và Hồng Kông , từ 25/6 tới 3/7/1998 để bắt tay với Giang Trạch Dân, hoàn thành sứ mệnh phát triển kinh tế và khống chế nhân loại bằng đủ mọi thủ thuật chính trị.

Trong khi đó, vào tháng 1-1985 gần đúng 10 năm người Mỹ tháo chạy nhục nhã tại Nam Vang và Sài Gòn trong tháng 4-1975, Hoa Kỳ được các nước Ðông Nam Á, mời gọi trở lại vùng này, nói là nhờ đóng vai trò xây dựng nhưng mặt thật giúp họ, ngăn chận sự bành trướng của Nga lẩn Tàu. Ðây cũng là thời điểm, đánh dấu nổ lực mới của Việt Cộng, trong sự mời gọi Hoa Kỳ trở lại VN, trước tiên bằng các phái đoàn tìm kiếm xương khô lính Mỹ mất tích. Rồi giấc mộng vàng, chính thức trở thành sự thật vào tháng 4-1991, qua TT.GBush ‘ Bải bỏ lệnh cấm vận VN ‘, kế tiếp TT.Bill Clinton ‘ Bình Thường Quan Hệ Ngoại Giao’ giữa hai nước vào năm 1995 và ký ‘ Hiệp ước Thương Mại Song Phuơng Việt-Mỹ’’năm 2001. Cuối cùng mới có cuộc thăm viếng Hoa Kỳ của Thủ Tướng VC Phan Văn Khải, từ ngày 19-6-2005 tới 25-6-2005 , nói là tới nhờ Mỹ giúp vào WTO, nhưng mặt thật sang để cam kết làm hết những điều khoản chưa làm, trong bản thương ưóc trên.

Nhưng cao điểm nhất trong những nụ cười dân gian khắp thế giới hiện nay, chắc chắn là bức hình chụp cảnh bắt tay, giữa vị Tổng thống siêu cường số 1 thế giới là TT W.Bush, người đang rao bán món hàng dân chủ nhân quyền cho nhân loại, lại hân hoan bắt tay Nguyễn Minh Triết, chủ tịch đảng CSVN, đứng đầu băng nhóm Mafia đỏ, đang khủng bố giết hại đồng bào mình. Vở kịch được diễn ra ngay trong Bach Cung vào thứ sáu ngày 22-6-2007, được báo chí quốc tế mĩa mai cay độc, khi gọi đó là ‘ cái bắt tay bảy tỉ đô la USA ‘ .

+ HÒA BÌNH VIỆT NAM GIẢ MẠO, SAU CÁI BẮT TAYTẠI BA LÊ NGÀY 27-1-1973 :


Không phải ai cũng gian trá, lừa bịp như Cộng Sản, mà vẫn còn có không biết bao nhiêu dân tộc trên thế giới luôn đối xử với nhau bằng sự chân thành,lương thiện và chính những cái bắt tay đã bao hàm lòng tin tưởng của hai phía. Bởi vậy ngày nay, câu châm ngôn ‘ chúng ta bắt tay nhau về việc này’, đã trở nên phổ quát trong mọi văn kiện giao dịch thương mại.


Trong quá khứ, cũng đã có nhiều cái bắt tay được xem như biểu tượng của sự hòa giải chân thành. Năm 238 trước tây lịch (TTL), hai Hoàng Ðế La Mã Balbinus và Pupienus Maximus, đã cho khắc hình cái bắt tay lên đồng tiền đang lưu hành lúc đó. Tại Hoa Kỳ, năm 1775,trong buổi lễ ký thỏa uớc giữa Chính phủ liên bang và các Tù trưởng Da đỏ, Tổng thống Jefferson, đã gắn cho họ huy chương có hình bắt tay. Thế chiến II kết thúc, Tướng De Gaulle của Pháp, đã bắt tay và ôm hôn người đại diện của nước Ðức bại trận là Adenauer .


Tương tự, ngày 27-9-1945, Tư lệnh Hoa Kỳ tại Thái bình Dương là tướng Mac Arthur đã hội kiến và bắt tay Nhật Hoàng Hiro Hito, để biểu lộ sự hòa giải giữa hai dân tộc. Nhờ lòng vị tha này, Nhật canh tân đất nước, rồi trở thành cường quốc kinh tế thứ 2 thế giới và không phản bội Hoa Kỳ, từ ấy đến nay. Nhưng vào tháng 5-1954, tại hội nghị Genève ở Thụy Sĩ, Ngoại trưởng Mỹ là Foster Dulles đã thẳng thừng từ chối cái bắt tay của Thủ tướng Trung Cộng Chu Ân Lai, với lý do hai nước đang có chiến tranh tại Triều Tiên. Tóm lại, trên mọi phương diện đối với người văn minh, cái bắt tay biểu lộ sự kính trọng, lòng chân thành và cương vị bình đẳng của hai phía khi đối mặt.


Tại VN, Kissinger đã bắt đầu đi đêm với Bắc Việt ở Ba Lê (Pháp), dùợ lúc đó Cọng sản Hà Nội đang bị nhiều tổn thất nặng nề trên khắp các mặt trận, không thể nào thay thế kịp quân số cũng như trang bị sau cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân (1968). Rồi tiếp theo là hành quân vượt biên mùa xuân 1970 của liên quân Mỹ-Việt, tiêu diệt cục R và các căn cứ Việt Cộng trên lãnh thổ Kampuchia. Chính những chiến thắng to lớn này của VNCH lại trở thành các tai họa cho chính phủ Nixon, do bọn phản chiến gây ra khắp nơi tại Hoa Kỳ. Do trên, từ năm 1971 cho tới lúc tàn cuộc, chính sách của Hoa Kỳ đối với VNCH luôn biến chất theo tình hình chính tri tại Mỹ nhưng Miền Nam đã trưởng thành trong khói lửa, nên đã vượt qua được hai cuộc thử thách kinh hoàng vào năm 1971, khi mở cuộc hành quân Lam Sơn 719 ‘ Lùng và diệt địch ‘ngay trên căn cứ đầu nảo của Bắc Việt tại Lào.


Theo các nhà quân sử và những tài liệu tuyệt mật vừa được công bố, thì dù QLVNCH không được sự yểm trợ của không lực Mỹ theo lời hưa, lại phải đối mặt với một quân số khổng lồ của miền Bắc trên 35.000 người, cộng thêm hai sư đoàn thiết giáp vừa được Liên Xô trang bị chiến xa tối tân T54 và PT76. Hơn nữa vì mật lệnh hành quân bị tiết lộ, nên quân ta hầu như bị tấn công khắp các ngỏ ngách. Thế nhưng Tổng thống Thiệu đã phản ứng nhanh lẹ, bằng cách cho SÐ1BB vào chiếm Tchepone như đã hứa, rồi ra lệnh rút hết quân về, bất chấp sự phản đối của Kissinger-Nixon. Mùa hè năm 1972, Bắc Việt lại mở cuộc đại chiến long trời lở đất vào Quảng Trị, Bình Ðịnh, KonTum,An Lộc.. dù Lê Ðức Thọ và Kissinger đã đi đêm 12 lần tại Ba Lê, kể từ tháng giêng 1969. Rồi cũng như mọi lần, QLVNCH đã đơn độc chiến đấu, đánh đuổi quân xâm lăng ra khỏi lãnh thổ Miền Nam trong lúc đó tại Ba Lê, Kissinger đã đồng thuận với Bắc Việt một kế hoạch hòa bình, mà theo đó Mỹ cho phép bộ đội Bắc Việt được ở lại miền Nam, để tiếp tục cuộc xâm lăng, còn Mỹ thì rút hết về nước.


Sau này , qua các tư liệu của Department of Defense, United States-Vietnam Relations 1945-1975 được công bố, mới biết Tổng thống Nixon tung hỏa mù, để gạt Tổng thống Thiệu bằng cách trước khi ký hiệp định, đã leo thang chiến tranh, thả mìn Hải Phòng, dội bom Miền Bắc, gây tin tưởng ảo nơi Chính phủ VNCH, để khỏa lấp lập trường Mỹ sẳn sàng chấp nhận một cuộc ngưng bắn tại chỗ, bỏ hẳn điều khoản bắt Hà Nội phải cùng Hoa Kỳ rút quân hổ tương và không duy trì một cuộc thặng dư quân đội nào tại miền Nam như họ đã làm tại Âu Châu và Nam Hàn.


Tóm lại cái bắt tay ngày 27-1-1973 giữa Kissinger và Lê Ðức Thọ tại Ba Lê, chỉ để ngưng bắn lúc đó và thả tù binh, lợi cho Hoa Kỳ mà làm hại cho cả một dân tộc VN bị đắm chìm trong cùm gông nô lệ cọng sản quốc tế, do trên thế giới mới bảo đó là một cái bắt tay vô duyên nhất trong lịch sử nhân loại.


+ TỪ OLSO ÐẾN TRẠI DAVID, NHỮNG CÁI BẮT TAY LỊCH SỬ VÔ DUYÊN, TRONG HOÀ BÌNH TRUNG ÐÔNG :


So về diện tích và dân số (8,020 dặm vuông hay 20.772km2 với 4,5 dân), Do Thái chỉ là một chấm nhỏ giữa các quốc gia Trung Ðông như Ai Cập,Thổ nhỉ Kỳ và Ả Rập hoàn toàn theo hồi giáo, lúc nào cũng muốn tiêu diệt nước này. Nhưng từ ngày lập quốc năm 1948 cho tới nay, Do Thái luôn luôn làm bá chủ trong vùng, nhất là hiện nay trong tay có vũ khí nguyên tử và cả tàu ngầm trang bị đầu đạn hạt nhân, đưọc điều khiển từ xa, mà tờ Times Sunday số ra ngày 18-6-2000 đã công bố. Như vậy Do Thái là nước thứ ba trên thế giơí đứng sau Mỹ-Nga có vũ khí này. Sự kiện càng làm các nước Ả Rập trong vùng Vịnh thi đua tìm kiếm vũ khí mới, khiến cho tình hình thêm nát bấy hiện nay tại Trung Ðông, qua màn hỏa mù tranh dành đất đai giữa hai dân tộc Irael và Palestine .


Theo tin tức từ Anh, hiện Do Thái có từ 100-200 đầu đạn nguyên tử, bốn tàu ngầm trang bị vũ khí hạt nhân và người Do Thái đã nói thẳng không chút e ấp, vũ khí này để chọi với Ba Tư, cũng như bất cứ nước nào tấn công vào lãnh thổ mình, bằng chứng là năm 1973, khi bị Ai Cập và Syria tấn công, Thủ Tướng Do Thái đã ra lệnh lắp đầu đạn tầm gần và chỉ còn chút xíu nửa là khai hỏa,nếu bộ binh bị thất trận.


- NHỮNG MỐC THỜI GIAN XUNG ÐỘT GIỮA PALESTINE VÀ DO THÁI :


Thế chiến thứ hai chấm dứt, người Do Thái khắp nơi trên thế giới, qua tổ chức Sion, lũ lượt kéo về miền đất hứa, khiến LHQ phải ra nghị quyết ngày 29-1-1947, chia đôi miền Palestine thuộc Anh, thành hai vùng , trong đó phần trên dành cho nước Do Thái được ra đời vào ngày 14-4-1948, chấm dứt hai ngàn năm sống lang bạt khắp bốn phương trời, sau khi đất Thánh Jerusalem bị Thổ tàn phá năm 70 sau TL. David Bengurion là vị thủ tướng đầu tiên của nước này,tuyên bố tại thủ đô Tel Aviv, sự độc lập của xứ sở. Ngày hôm sau, liên quân Ả Rập tấn công tân quốc gia nhưng bị đánh bại vào tháng giêng 1949, khiến cho 750.000 người Palestine, phải tị nạn chính trị lần đầu tiên tại Cisjordanie, Gaza và các nước Hồi giáo quanh vùng.


- Sau khi Tổng thống Ai Cập Nasser tuyên bố quốc hữu hoá kênh đào Suez nên ngày 3-10-1956 , liên quân Anh,Pháp,Do Thái tấn công Ai Cập và chiếm Port Said. Nội vụ sau đó được giải quyết, khi Liên Xô và Mỹ can thiệp để quân LHQ vào trấn đóng vùng Sinai.


- Năm 1964, tổ chức giải phóng Palestine ra đời và sau đó được LHQ công nhận là đại diện chính thức cho người Paleatine hiện vô tổ quốc.

- Cuộc chiến sáu ngày, bắt đầu từ ngày 5-6-1967, Do Thái đại thắng liên quân Ả Rập, có cả Iraq, chiếm được nhiều đất đai của các nước bại trận, gồm có Ðông Jerusalem, Cisjordanie, Gaza,Sinai và cao nguyên Golan. Chiến cuộc gây nên làn sóng tị nạn chính trị lần thứ hai cho dân lưu vong Palestine tại các vùng chiến cuộc.

- Ngày 6-10-1973 , trong lúc cả nước Do Thái đang cử hành lễ Ðại Xá, thi Ai Cập-Syria bất thần tấn công nước này. Chiến cuộc ác liệt giữa hai phía, kéo dài trong hai tuần lễ, cuối cùng Irael đẩy Ai Cập-Syria ra khỏi Sinai và GoLan. Trong lúc đó tổ chức PLO do Abou Nidal cầm đầu lai bước vào con đường khủng bố, không tặc.nhắm vào Do Thái và các nước liên hệ mà đứng đầu là Mỹ và Âu Châu. Năm 1972, tổ chức Tháng tư đen sát hại 11 lực sĩ Do Thái tham dự Thế vận hội tại Munich, Tây Ðức, càng đào sâu thêm sự thù hận giữa hai dân tộc.


- Ngày 11/9/1977 đánh dấu sự hòa giải đầu tiên tại Trung Ðông khi Tổng Thống Ai Cập là Sadate chịu sang thăm đất thánh Jerusalem và đối thoại với Thủ tướng Do Thái Menahem Begin tại trại David năm 1978. Hòa bình giữa hai nước đã dược ký kết ngày 26-3-1979 và dù Tổng thống Sadate bị ám sát chết năm 1981, Do Thái vẫn trả lại sa mạc Sinai cho Ai Cập năm 1982.


- Ngày 6/6/1982 , Do Thái tấn công Liban. Hầu hết các lực lượng PLO kể luôn lãnh tụ Arafat chạy sang Tunis .


- Sau đó, người Palestine mở mặt trận Intifada, dùng đá làm vũ khí, nhắm vào thường dân và quân đội Do Thái, làm náo loạn và kinh hoàng khắp dải Gaza . Cuộc chiến du kích bắt đầu giữa Palestine và .


- Ngày 30/10/1991 , qua sự can thiệp của Mỹ và Liên Xô, các nước thù nghịch Do Thái, Liban , , Jordanie và Ðại diện PLO chịu đối diện với nhau tại Madrid , Tây ban Nha, mở màn cho các giải pháp hòa bình của Do Thái-Palestine về sau.


- TỪ OLSO ÐẾN TRẠI DAVID, CÔNG DÃ TRÀNG TRONG SỰ GIẢI QUYẾT XUNG ÐỘT DO THÁI-PALESTINE :


Bắt đầu năm 1978 tới nay, đã có không biết bao nhiêu người chết vì hòa bình Trung Ðông, trong đó có Tổng Thống Ai Cập Sadate và Thủ tướng Do Thái Rabin. Lịch sử đã không lập lại một nền hòa bình thật sự mà Do Thái và Ai Cập đã đạt được năm 1982, qua những cuộc đi đêm, đàm phán, bắt tay giữa hai dân tộc thù nghịch đang cùng đối mặt trên vùng đất Palestine. Máu lại bắt đầu đổ vào năm 2000, sau cuộc thương lương 14 ngày tại trại David thất bại. Cuộc thăm viếng của tân Thủ tướng Do Thái Sharon tại Ðồi Ðền ở Jerusalem, châm ngòi cho một trận chiến mới, tiếp diển suốt 54 năm qua, kinh hoàng trong cảnh Palestine nổ bom cùng chết và thương tâm nhìn tăng pháo Do Thái tan sát không nhân nhưọng.


+ Tại thủ đô Olso, Na Uy năm 1993 :


Sau bao nhiêu lần đi đêm, cuối cùng Chủ tịch tổ chức giải phóng Palestine (PLO) Yasser Arafat và Thủ Tướng Do Thái Itzhak Rabin cũng đã thỏa thuận với nhau về một tiến trình hòa bình . Hiệp định trên được gọi là Olso, đưọc hai phía kỳ kết vào ngày 13-9-1993 tại Toà Bạch Ốc , Hoa Kỳ gồm phần chính là Do Thái phải rút khỏi Gaza và thành phố Jéricho ngày 13-12-1993, chuyển giao quyền hành chánh cho nhà nước Palestine để nước này lập quốc hội ngày 13-7-1994.


+ Tại Le Caire năm 1994 :


Ngày 4-5-1994, Palestine và Do Thái lại ký hiệp định Le Caire, ấn định thời hạn cuối Do Thái phải rút hết quân ra khỏi Palestine là năm 1999, ngoài ra còn có các vấn đề người tị nạn, biên giới nhưng nhức nhối nhất vẫn là chủ quyền tại Jerusalem, mà hai phía đều dành.


+ Olso II năm 1995 :


Năm 1995, Do Thái và Palestine lại ký hiệp định Olso II tại Ai Cập và phê chuẩn ở Hoa Kỳ, chung qui cũng chẳng có gì mới mẻ so với các hiệp ước cũ . Sự kiện càng rắc rối thêm khi Benyamin Netanyahu, người từng chỉ trích hiệp ước hòa bình Olso lại đắc cử Thủ Tướng Do Thái. Rồi tiếp theo, hai phía lại ký thêm các hiệp ước Hébron 1997, Wye river 1998, Chaarm el-Cheikh 1999.. cuối cùng bị khựng lại vì các điểm bất đồng không thể khai thông được, đó là vấn đề người tị nạn Palestine, hiện có chừng 3,5 triệu người đang sống trong các trại tị nạn khắp Trung Ðông, hoặc phải đưọc trở về nguyên quán hay nhận tiền bồi thường thay thế. Thứ đến là việc thành lập quốc gia Palestine và sau cùng là khu định cư người Do Thái trong đất Palectine và chủ quyền tại Thánh địa Jerusalem .


Ngày 5-7-2000 , Hoa Kỳ đích thân tổ chức một hội nghị thượng đỉnh giữa Thủ tướng Do Thái là Ehoud Barak và Chủ tịch Palestine Arafat tại trại David, nơi nghĩ mát của Tổng thống Mỹ tại Maryland . Hội nghị kéo ài 14 ngày trong bí mật, có sự tham dự của Tổng Thống Mỹ là Bill Clinton và Ngoại Trưởng Albright nhưng mọi cố gắng dàn xếp vẫn không kết quả, do trên hai phía không ký kết một hiệp ước nào. Sau đó ngày 25-7-2000, Hoa Kỳ đã chính thức thông báo về cuộc họp thượng đỉnh giữa Hoa Kỳ-Do Th1i-Palestine, gôm 5 điểm trong đó quan trọng nhất là nhắc Do Thái và Palestin phải tuân hành theo các nghị quyết 242 và 338 của LHQ cũng như hai nước trên muốn có hòa bình vĩnh cửu, phải có sự đồng thuận của Hoa Kỳ..


Từ đó đến nay, chiến tranh lại tiếp diễn dử dội , khiến cho ngày nào cũng có người chết, đa số là thường dân vô tội của cả hai phía, như mới đây ngày 22-6-2002, ba trẻ em Palestine và mười mấy học sinh Do Thái chết trong đan thù, vì bắn nhau và bom tự sát.Theo tin của nhà báo Akiva Eldar, sự kiện Arafat trước khi chết, đã tuyên bố với Do Thái là chịu chấp nhận chủ quyền khu Jewish ở cổ thành Jerusalem và bức tường phía tây, đồng thời rút lại đòi hỏi hồi hương 4 triệu người Palestine tị nạn nhưng vẫn duy trì việc hồi cư gần 300.000 Palestine tại Liban. Tất cả đều là kế hoạch của Clinton năm 2000 nhưng cuối cùng, chỉ vì tin tưởng lời hứa, mà lãnh tụ Arafat đã bại vong khi Hoa Kỳ nhất quyết đổi ngựa giữa đường, bất chấp sự phản đối của Ai Cập, Liên Âu,Nga và nhiều nước Hồi giáo . Hành động mất tín nghĩa này là nguyên nhân kéo dài cuộc chiến càng lúc càng đẳm máu tại Trung Ðông , ,A Phú Hản và toàn vùng.


+ CÁI BẮT TAY BẢY TỈ ÐÔ GIỮA TỔNG THỐNG W. BUSH VÀ NGUYỄN MINH TRIẾT:


Sau khi từ Mỹ trở về, Nguyễn Minh Triết lập tức cho báo đảng viết bài ca tụng chuyến đi của mình, đặc biệt trong đó thần thánh hóa bức hình được bắt tay Tổng thống W. Bush tại Bạch Cung vào lúc 11 giờ trưa ngày thứ sáu 22/6/2007, như là một bảo đãm vàng ròng, để Triết và đảng CSVN được dịp tuyên truyền với dư luận trong và ngoài nước về cái vai trò đích thực của chủ tịch nước, dù thực chất Triết chỉ đại diện cho một thiểu số đảng viên, cán bộ và thành phần Việt kiều đang làm ăn với chúng.


Ðể đổi lấy cái bắt tay mà đảng gọi là lịch sử, Nguyễn Minh Triết đã làm liều nhắm mắt ký đại với tư bản Mỹ những hợp đồng mua chịu trị giá lên tới bảy tỉ đô. Ðổi lại, tài phiệt Hoa Kỳ nhỏ giọt cho Triết vài trăm triệu hàng nhập cảng, trong khi đó qua thông cáo chung giữa hai nước, chẳng hề thấy nhắc tới sự giải tỏa các món hàng đang bị cấm nhập vào Mỹ,như đồ hải sản, may mặc và nhất là món cá tra .. đang bàn cải


Tóm lại kẻ hưởng lợi trong chuyến đi của Triết, ngoài CSVN còn có Tổng Thống W.Bush. Ông đã hoàn thành trách nhiệm đối với giới tài phiệt Mỹ một cách trọn vẹn, khi giúp họ đạt được nhiều hợp đồng to lớn mà lợi nhuận chỉ có thể tính bằng bạc triệu trở lên.


Tất cả là xương máu của đồng bào nghèo mât rệp trong nước, là mồ hôi bán sức của hơn hai triệu đồng bào tị nạn hải ngoại, nhịn ăn chắt chiu gởi tiền về giúp gia đình đang còn kẹt trong địa ngục đỏ, vô tình trở thành kẻ đổ vỏ ốc cho đảng hốt bạc. Cuối cùng trong chuyến đi nhục nhã này, Triết đã xỏ lá lôi kéo vài chục tên Việt kiều hám danh vào tròng, để chia xớt cái nợ máu mà đảng đã vay của dân tộc Việt, suốt 75 năm qua.


Có một điều khôi hài khiến cho ai cũng không nhịn cười được, khi nghe báo CSVN loan tin có hơn 1000 Việt kiều, tới khách sạn Dana Point ở Nam CA vào đêm thứ sáu 22/6/2007 để nghe Nguyễn Minh Triết dạy dỗ. Tuy nhiên dù đã bị bọn ký giả cò mồi được đảng mời vào để méo mó loan báo nhưng vải thưa làm sao che được mắt thánh, nên báo chí ngoại quốc đa số đều tường thuật gần như trung thực. Nhờ đó chúng ta biết được số người tham dự trong đêm đó không quá 400 người, mà hầu hết đều thuộc thành phần CSVN ở trong phái đoàn và các du sinh (chừng 250 người), số còn lại là nhân viên khách sạn và an ninh. Việt kiều có mặt trong đêm không quá 30 người. Nhận diện có Nguyễn Cao Kỳ, Pham Ðăng Long Cơ, vợ chồng Chiêu Lee Sandwich.. Ðây cũng là một thái độ chính trị mà người Việt tị nạn CS hải ngoại đã lựa chọn minh bạch, để trả lời về trò dụ khị của Triết khi tới Mỹ ‘ từ tháng 9/2007 đảng sẽ bỏ chiếu khán vào VN và ưu tiên cho Việt kiều về mua nhà ‘


Bắt tay nhau để cam kết xoá bỏ hận thù giữa hai dân tộc và hòa bình toàn vùng, hai ông Arafat và Rabin, người bị ám sát chết, kẻ đang bị làm con vật tế thần, dù bị thất bại nhưng muôn đời Họ vẫn là anh hùng và ít nhát hai người cũng đã thật tình tôn trọng tư cách lẫn nhau. Còn Lê đức Thọ và Kissinger cũng bắt tay nhưng chỉ để biểu lộ sự chiến thắng vì cả hai đã gạt đưọc hết mọi người. Một cái bắt tay làm hại cả một dân tộc, tiếng xấu biết lấy gì trang trải cho sạch đây ?


Ðừng nghe những gì cọng sản nói, cho nên chẳng ai ngạc nhiên khi nghe tin Bắc và Nam Hàn bắn giết nhau dữ dội trên biển Hoàng Hải vào những ngày cuối tháng 4/2004, cũng như tin người anh vĩ đại Trung cộng hoan hỹ chính thức nhận đất biên giới của VN vào ngày 7-14-02. Ðúng là tình cọng sản, vậy mà hiện nay vẫn còn không ít người Việt quốc gia tin vào thiện tâm của Việt Cộng, cứ đòi hòa họp hòa giải, xóa bỏ hận thù, dù họ đã bị kẻ cướp ,bịp và hãm hại tận tuyệt, phải bỏ cố hương chạy lánh nạn nơi đất người.


Không biết ông Nguyễn Cao Kỳ có sợ hay không , khi chiếc xe bịt bùng băng ngang rừng người, cờ vàng ba sọc đỏ, biểu ngữ và những tấm hình phóng đại cảnh Linh mục Nguyễn Văn Lý đang bị công an bịt miệng, khi đứng trước quan tòa đại diện cho công lý và luật pháp , giữa âm thanh cuồng nộ của đoàn người biểu tình ‘ đả đảo CSVN khát máu, khủng bố, chà đạp nhân quyền, bức ép tôn giáo và tướt đoạt tự do dân chủ của đồng bào ‘


Vì vậy nên hầu hết người Việt hải ngoại khi đọc được lời cảm tưởng của ông khen Nguyễn Minh Triết là yêu nước, ai cũng cười bảo Kỳ loạn trí rồi.


Xóm Cồn, Tháng 6-2007
Mường Giang

Năm đầu làm thủ tướng: Nguyễn Tấn Dũng

NS cải lương Tấn Tài & người thích ca cải lương Tấn Dũng


Roger Mitton – Phan Tường Vi lược dịch

HÀ NỘI - Ít người biết ông thích hát.

Nhưng ông Thủ tướng nhiều lôi cuốn Nguyễn Tấn Dũng của Việt Nam thường làm nhiều nhà lãnh đạo đã thăm viếng Việt Nam ngạc nhiên về giọng hát mạnh và cách diễn tả tự nhiên trong những bài hát ưng ý của ông.

Ông thích cải lương, một dòng nhạc dân ca đặc trưng của miền Nam quê hương ông, thường được phụ họa bằng những nhạc khí cổ truyền. Nhưng không có nét cổ hủ hay truyền thống nào ở ông Dũng và ngược lại sự sắc sảo và sức hăng hái đã đưa ông đến vị trí lãnh đạo cấp cao khi còn rất trẻ.

Một năm trước, vào ngày 27 tháng Sáu, ông nhận chìa khóa để dọn vào căn biệt thự kiểu Pháp nằm ở số 55 đường Phan Đình Phùng, Hà Nội, tư dinh chính thức của thủ tướng Việt Nam.

Kể từ lúc đó ông năng nổ lao vào công việc tưởng như là chỉ một mình ông đang điều hành một đất nước đang chuyển mình của 85 triệu dân.

Theo lời Tiến sĩ Đặng Hùng Võ, môt vị thứ trưởng (Bộ Tài nguyên Môi trường - PTV) mới về hưu (01/03/2007 - PTV) : “Ông ta hết sức là năng động - điển hình của một người miền Nam “dám làm”, không như những người miền Bắc chỉ giỏi nghĩ và nói."

Hiển nhiên, cái phong cách dám làm của ông Dũng đã mua được lòng nhiều nhà đầu tư. Theo như lời ông Nguyễn Đăng Hiếu, một nhà kinh doanh đang quản trị một về dịch vụ viễn thông và mậu dịch ở Hà Nội: “Ông không những là một người năng động, ông còn là một người có đầu óc cởi mở, thông thoáng và thật sự muốn mở cửa Việt Nam để hòa đồng với thế giới.”


Nực cười là, ông Dũng vẫn là nhân vật bí ẩn khó hiểu với nhiều người Viêt Nam.

Ngay cả nhiều viên chức cao cấp không biết tên của vợ ông, hoặc ông có mấy người con, hay ông lớn lên ở nơi nào.

Thực ra, ông Dũng sinh ra ở thị xã ven sông Cà Mau, là một tỉnh cực nam Việt Nam mang cùng tên.

Khi ông và người chị cùng người em lớn lên, Cà Mau là hậu cứ của của lực lượng võ trang Cộng Sản dưới sự lãnh đạo của (“cha gìa dân tộc”, nguyên văn của RM: “nation's founding father”) Hồ Chí Minh.

Ở tuổi niên thiếu, “Ba Dũng” (cách gọi tên người con thứ hai trong gia đình miền Nam), cũng như bây giờ tuy là Thủ tướng ông vẫn được gọi như vậy, đã bị lôi cuốn theo phong trào Việt Minh và rồi gia nhập đảng Cộng Sản năm 18 tuổi.

Vào lúc cuộc Chiến tranh Việt Nam trở nên khốc liệt, ông Dũng sang Guanxin theo học trường Đại học Sư phạm ởTrung Quốc để hoàn tất việc học của mình.

Sau đó, ông phục vụ trong quân đội như sĩ quan quân y và chính trị viên, và sau cùng lên cấp trung úy.

Khi cuộc chiến chấm dứt năm 1975, ông tiếp tục lên cao trong hệ thống đảng - và thành hôn với một người đồng chí xinh đẹp, bà Trần Thanh Kiêm, một người đàn bà thông minh, hoạt bát và cởi mở hơn hầu hết vợ của những nhà lãnh đạo khác.

Đào Xuân Tân, người thợ thường đến hớt tóc cho ông Dũng tại tư dinh nói với Vietnamnet: “Đôi khi vợ ông Dũng xuất hiện. Bà ấy ăn mặc đơn gỉan và ăn nói nhẹ nhàng.”

Sau khi nhậm chức bí thư tỉnh Kiên Giang, một tỉnh miền Nam cạnh biên giới Việt Miên, cặp vợ chồng trẻ sanh hai con trai và một gái.

Cả ba đều thừa hưởng tài trí và năng lực của người cha, tuy nhiên không như ông Dũng chỉ biết nói một ngôn ngữ là tiếng Việt, ba người con ông đều thông thạo tiếng Anh.

Người con trai đầu, Nghi, từng theo học ngành kỹ sư công chánh (xây dựng) ở Đại học George Washington ở Washington, DC đã gặp và thành hôn với môt nữ sinh viên Việt Nam, ở Hoa Kỳ.

Tiến sĩ Nghi bây gìờ là khoa trưởng của khoa hậu đại học ở Đại học Kiến trúc thành phố Hồ Chí Minh. Cặp vợ chồng này vừa sinh một đứa cháu nội cho vợ chồng ông Dũng.

Cô con gái, Phương, tốt nghiệp MBA ở Geneva, Thụy sĩ, bây giờ đang quản trị công ty VietCapital Fund Management ở thành phố Hồ chí Minh, người được coi là một chuyên viên tài chính có tài.

Cùng với con trai út của ông Dũng hiện đang theo học đại học ở Châu Âu, còn có nhiều lời đồn đãi về chuyện chi tiêu đắt đỏ dành cho cậu ấm cô chiêu đi học và thích tán tỉnh người nước ngoài.

Trong cuộc phỏng vấn trực tuyến, ông Dũng nói: “Con tôi được Bộ Giáo dục gởi đi học ở Hoa Kỳ. Bây giờ cháu làm việc tại Việt Nam và đã là đảng viên thời còn học ở Đại học."

Ông cũng đã cáu lên và nói thêm: “Còn con gái tôi thì không học ở Mỹ và bây gìờ vẫn chưa chồng” .

Ở tuổi 58, ông Dũng có thể phục vụ hai nhiệm kỳ năm năm ở ghế thủ tướng, nghĩa là ông sẽ là Thủ tướng cho đến năm 2016.

Cho đến bây giờ, quyền lực chưa làm con người ông thay đổi nhiều và người ta vẫn thường thấy ông vẫn đội nón cối màu lục đậm, giới công nhân thích dùng.

Cần phải nói thêm, ông cũng thích chơi môn golf của giới tư bản và mặc những bộ com-lê hợp thời trang do những tay thợ miền nam cắt may, thay vì dùng những tay thợ vụng về ở Hà Nội.

Tuy nhiên ông vẫn ưa cắt tóc với anh thợ Tân với giá 1.20 đô la Mỹ. Và ông Thủ tướng quyết chống tham nhũng trả này đúng gía, không thêm, không bớt.

“Ông ấy tử tế và thân thiện,” Ông Tân nói. “Khi tôi cắt xong, ông nhìn vào gương và mĩm cười. ‘Anh không phải sửa gì hết’, ông thường nói vậy.”

Giờ này đây, ông Dũng sửa Việt Nam tốt hơn chút theo như nhận định chung - và cũng cùng lúc hát khúc yêu đời.

Man on a mission

Khi lên nhậm chức, ông Dũng hứa sẽ giữ nền kinh tế đang phát triển ở mức độ tốt đẹp và chống nạn tham nhũng. Ông đã đạt được nhũng điều đáng kể trong hai lãnh vực trên, với nền kinh tế gia tăng 8% và nhiều viên chức tham nhũng bị nhắm bắt.

Ông Dũng cũng tổ chức thành công hội nghị APEC vào tháng 11 năm ngoái (2006) cũng như chuyện chào đón các vị nguyên thủ quốc gia tại Hà Nội, như Tổng thống Hoa Kỳ George W. Bush, Tổng thống Nga Vladimir Putin và Thủ tưởng Trung Quốc Hồ Cẩm Đào.

Ở cương vị thủ tướng nước Việt Nam, chuyến công du đầu tiên ra ngoại quốc là đến nước Nhât Bản, mà không phải là Trung Quốc. Điều này như một dấu hiệu cho thấy rằng chính phủ của ông sẽ không sợ hãi ông láng giềng khổng lồ phương bắc, và xem Nhật Bản như là một đối tác chính.

Ông là nhà lãnh đạo Việt Nam đầu tiên viếng thăm Toà Thánh Vatican, diện kiến Đức Giáo Hoàng Benedict XVI và cải thiện quan hệ với cộng đồng Thiên Chúa Giáo trên thế giới từng chỉ trích Việt Nam đàn áp tôn giáo.

Ông đấu tranh nội bộ để trở nên người thủ tướng đầu tiên được quyền chọn lựa Nội các của mình và sẽ nhân cơ hội này để tuyển chọn thêm những nhà kỹ trị được đào tạo ở phương Tây làm việc giỏi trong lãnh vực của mình.

Ông cũng thúc đẩy Hà Nội dẹp bỏ lối nhìn cục bộ để chấp nhận thêm thế giới quan bên ngoài, thí dụ, bằng cách đảm nhận vài vai trò tiên phong trong khối Asean, và vận động để Việt Nam trở thành ủy viên không thường trực của Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc vào năm tới.

Tố Hữu: Nhà thơ hàng đầu thế kỷ 20?

Vladimir Mayakovsky và người yêu, Lilya Brik (Đàn bà đã có chồng)
Nguồn: wikipedia.org

Nguyễn Văn Trỗi, giờ hành quyết: Phút giây thiêng, Anh gọi Bác ba lần! (1)

Tố Hữu đối với một số người miền Bắc là thần tượng thi ca Cộng sản Việt Nam Người ta ví ông với Mayakovski. Phần đông chẳng mấy người biết ông Mayakovski là ai? Chắc là giỏi. Nhưng với tôi, ông chỉ là một nhà thơ có vấn đề. Có vấn đề không những chỉ đối với phần đông người miền Nam trước 1975 mà có vấn đề cả với độc giả người miền Bắc. Đã có vấn đề trong quá khứ và bây giờ, nếu ai còn muốn nhắc tới ông. Nhắc tới là có vấn đề.

Người miền Nam khinh ghét ông và người miền Bắc quên ông.

1. Độc giả miền Nam:

Ở miền Nam, sự khinh ghét đó bày tỏ công khai, như câu truyện dân gian, như một câu truyện tầm phào, mang những “câu thơ vè, tuyên truyền của Tố Hữu” ra để diễu cợt. Một cái nhìn riễu cợt và không có mấy ai muốn viết hẳn hòi một bài phê bình nghiêm chỉnh đánh giá sự nghiệp văn chương của ông.

Họa chăng có ông Nguyễn Hiến Lê trong tập Hồi ký của ông, tập 2, trang 178, nhà xuất bản Văn Nghệ, ông Lê chê thơ Tố Hữu là kỳ cục khi ca tụng Stalin, thơ không đáng gọi là thơ khi gọi Nguyễn Du là anh. Vậy mà khi nhà xuất bản Văn Học Hà nội cho phép in lại cuốn Hồi ký của họ Lê, họ đã biến đổi ra như sau, trang 524: “Tố Hữu là một nhà thơ Cách Mạng, đóng góp rất lớn cho Cách mạng “. Có dịp, chúng tôi sẽ đem cả hai cuốn sách, một của Nhà Văn Nghệ xuất Bản, một của Hà nội để cho thấy sự bôi bác tráo trở của Hà nội. (trích trong nguyệt san Dân chúng, tháng 8/1993, trang 45).

Mới đây Đặng Tiến viết “Phía khác chính kiến, dĩ nhiên lắm kẻ không ưa, thậm chí còn thù oán. Họ thường cố công trích dẫn mấy câu văn vè tuyên truyền quá khích để bêu riếu”. Đó là nhận xét của Đặng Tiến gián tiếp biện hộ cho nhà thơ Tố Hữu.

Bêu riếu là một điều có thể được coi là bình thường trong trường hợp ông Tố Hữu. Nhưng viết về ông mà che chắn không khéo, rất có thể là thiên lệch, có thể tự xếp mình vào vị trí nhà thi sĩ Indésirable

Nói có sách, ta thử đọc những câu thơ sau đây tả lính “ngụy” hãm hiếp dân lành để dò tìm nhân cách Tố Hữu xem sao, đồng thời hiểu được tại sao người đọc ông đà phản ứng như thế.


Thảm lắm anh à lũ ác ôn
Giết cả trăm người trong một sáng
Máu tươi lênh láng đỏ đường thôn
Có những ông già nó khảo tra
Chẳng khai, nó chém giữa sân nhà
Có chị gần sinh không chịu nhục
Lấy vồ nó đập vọt thai ra
Có em nhỏ nghịch ra xem giặc
Nó bắt vô vườn trói gốc cau
Nó đốt, nó cười.. em nhỏ hét
Má ơi nóng quá, cứu con mau ...


Tôi không biết trong hoàn cảnh nào, ông Tố Hữu sáng tác bài thơ này có cảnh “lính ngụy” định hãm hiếp phụ nữ có thai, không được thì lấy vồ đập vọt thai nhi ra. Nhân cách nhà văn có cho phép viêt như thế không?. Tôi nhớ đến giai thoại mà nhà thơ Trần Đăng Khoa phỏng vấn Tố Hữu về chiến dịch Điện Biên Phủ, ông này cười vui vẻ cho biết: đều viết phịa cả đấy. Viết phịa về Điện Biên Phủ thì còn đuợc, bài thơ phịa trên nay dính dáng đến nhân cách nhà thơ, đến đạo lý làm người, nhất là thứ đạo lý của một nhà văn.

Vấn đề của Tố hữu không còn ở bình diện thơ văn hay dở nữa mà là nhân cách nhà văn.

Tố Hữu có đáng được gọi là nhà thơ không? Thơ có đáng gọi là thơ không theo lời nhận xét của ông Nguyễn Hiến Lê?


Giết, giết nữa, bàn tay không phút nghĩ
Cho ruộng đồng lúa tốt, thuế mau xong
Cho đảng bền lâu, cùng rập bước chung lòng

Thơ Mao chủ tịch, thơ Sít ta lin bất diệt …

Bài Đời đời nhớ ông khó ngửi quá:


Áo ông trắng giữa mây hồng
Mắt ông hiền hậu, miệng ông mỉm cười
Thương cha, thương mẹ, thương chồng
Thương mình thương một, thương ông thưương mười


Có cái đạo lý của chiến tranh nữa. Không phải cứ tuyên truyền thì muốn nói gì thì nói.

Sự khinh ghét của người miền Nam có cái lý của nó. Chả nên coi thường người đọc. Vì đọc những câu thơ ấy, người ta có cảm tưởng nhà thơ phải tự hạ thấp mình lắm mới có thể hạ bút viết.

Khi tự đánh hạ giá nhân cách mình thì giá trị thi ca còn gì?

Như tôi đã viết trong bài về Vũ hạnh, các nhà văn, nhà thơ miền Nam có thể bị kiểm duyệt, có thể được trợ cấp gián tiêp, nhưng hèn hay hạ thấp mình , xu nịnh thì kể là hiếm. Người ta không vội nói đến thơ ông hay, dở mà chỉ nói đến vấn đề đạo lý nhà văn. Hèn, xu nịnh, có thể là một nhà thơ số một ba thập niên và hơn nữa nhà thơ số một thế kỷ hay không? Câu xác định này hình như chỉ muốn *khoanh vùng văn chương*, tính từ vĩ tuyến 17 trở ra phía Bắc? Nói đến nhà thơ số một, số hai là một lối nói * chính trị tự phát, quen miệng * . Lấy gì để đo chiều cao một nhà thơ, ngoài cái thước đo chính trị? Câu trả lời là không và thời gian đã không làm phận sự* xép một chỗ ngồi nào đó* cho ông được theo như lời giới thiệu bài viết của Đặng Tiến trên Talawas. Và cũng không có thứ* Văn học lâu dài công bình hơn* như nhận xét của anh Đặng Tiến. Nói như thế, chẳng nhẽ trước đây, người ta đã hiểu sai hay bất công đối với ông Tố Hữu? Độc giả miền Nam đã dung hợp, đã trân trọng những Huy Cận, Văn Cao, Vũ Trọng Phụng và kể như toàn bộ các nhà văn tiền chiến ở lai miền Bắc, bất kể, không trừ. Trừ trường hợp Tố Hữu? Hay nói ngược lại thì chính Tố Hữu mang cái nhãn hiệu chính trị, chẳng những bất công với giới nhà văn nhà thơ miền Bắc mà còn vùi dập, truy chụp họ trong vụ án Nhân Văn Giai Phẩm?Thơ ông vẫn còn nằm chình ình ra đó, giấy trắng mực đen còn đó.


2. Độc giả miền Bắc.

Độc giả miền Bắc, nhiều người đã quên ông. Tác giả Ngân Xuyên trong dịp trò chuyện với Tố Hữu có kể rằng: “Tôi bước vào nhà ông sáng 30/04/1996 . Nắng rực rỡ phố phường Hà nội cái ngày lịch sử đó. Khu nhà ông rộng rải và vắng vẻ. Tự nhiên, tôi có một cảm giác là lạ . Ông bước ra tiếp chúng tôi trong bộ quần áo mặc ở nhà, trông bình dị như mọi ông lão ở trên đời.”

Nhà ông vắng vẻ, không còn khách tấp nập ra vào, vì nay ông hết làm chính tri, hết quyền hành nên vắng khách lui tới. Nhà thơ ngự trị 30 năm văn học miền Bắc do vai vế chính trị không phải do văn tài, nay ít người còn muốn nhắc tới ông Không có những gốc gác chính trị ấy, thơ ông còn lại là gì?

Trong tương lai gần, những tuyển tập thơ văn hay nhất thế kỷ 20, sẽ vắng tên ông, hay cố tình bỏ sót? Không thể hy vọng văn học lâu dài có thể công bình hơn với ông. Hy vọng của anh Đặng Tiến có thể đả không đúng chỗ, đúng người .

Còn cả tập thể những nhà văn, nhà thơ miền Nam bị xóa tẽn tuổi, tại sao không nghĩ đến số phận họ? Văn học lâu dài đã công bình chưa? Nhưng tôi vẫn xác tín rằng một nhà văn có tài thì cho dù người ta có vùi dập thì tên tuổi vẫn còn đó .. Còn không hay, không tài thì có muốn tô hồng cũng vẫn bị đời bỏ quên.

Tố Hữu là một trong những trường hợp ấy . Thơ ông để lại quá nhiều những vết nhám khó bôi xóa được. Những người đồng thời với ông đã đánh giá ông như thế.

Hoài Thanh không thể không có lý khi cố tình bỏ quên tên Tố Hữu trong cuốn Thi nhân Việt nam. Cái lẽ công bình của thời gian mà Đặng Tiến hy vọng Tố Hữu được phục hoạt đã thực sự bị chôn vùi từ 1942 với Hoài Thanh rồi?

Trần Dần là một nhà thơ lớn đã nhận rõ chân tướng thơ văn Tố Hữu . Đáng nhẽ Đặng Tiến nên để cho Trần Dần có vài nhận xét sổ toẹt về Tố hữu. Theo Trần Dần, Thơ Tố Hữu không có cá tính, không có cái giọng Tố Hữu. Đọc Hoàng Cầm có cái giọng Hoàng Cầm, đọc Tản Đà có cái giọng Tản Đà . Thơ Tố Hữu mờ nhạt quá, chung chung. Trần Dần phang nặng hơn: Thơ Tố Hữu nó nhạt quá, ý lời tầm thường, nó như những công thức, bề ngoài, không đặc sắc. Trần Dần kết luận: Thơ Tố Hữu rất nhiều cái yếu quá, lười biếng quá, tầm thường quá . . Thơ không thực. Đại loại: Chúng bay chỉ một đường ra, một là tiêu diệt , hai là tù binh/

Đại khái như thế, chung chung như thế: nhạt, lảm nhảm, qua loa rơ măng, công thức bề mặt, khuôn đúc có sẵn. Đại loại như: Nhà neo việc bận vẫn đi. Làm thì thi đua , thi đua tốt thì địch chết.

Có gì là mới trong đó, có gì là sáng tạo? Viết bài bản, viết thuộc lòng, * sản xuất thơ*, * thợ thơ* . Khí thơ không còn là thơ thì nó gượng gạo, lắp ghép giả tạo:” Bóng anh nắng chiều, chòm râu mát rượi hòa bình ...Anh vệ quốc quân ơi, sao mà yêu anh thế ..* bác thì ung dung trên ngựa bên đường suối reo ..như thể bác đi chơi. Viết như thế thì khen mà hóa ra hại bác quá, chinh chiến gian nan mà bác thong dong như đi chơi ..

Lần đầu tiên, tôi nghe nói đến có thứ thơ lười biếng. Thật hay. Có lẽ không có nhận xét nào hay và chính xác hơn nữa .Thơ lười là thơ tuyên truyền, thiếu sáng tạo, thơ làm cho xong. Khi tả *bác Hồ* thì *nặng công thức cha già** lãnh tụ mênh mông* ( trích lại Trần Dần- ghi 1954-1960, td mémoire, 2001. Trích lại trên Talawas.). Tất cả đã có sẵn, chỉ việc đóng ghép, sắp xếp cho khéo mà thôi


3. Tố Hữu và Đặng Tiến

Một lần nữa ở đây, xin nhắc Đặng Tiến đừng nên gán ghép oan uổng thơ yêu nước và thơ Chính trị. Xếp Tố Hữu vào chung với Nguyễn Trãi hay bất cứ các nhà thơ yêu nước nào khác là không nên. Đặng Tiến cho rằng thơ Tố Hữu có những hạn chế mà Trần Dần đã nói đủ rồi. Tôi đồng ý là Trần Dần đã nói quá đủ, nhưng Đặng Tiến thì không nói đủ mà nói thiếu trung thực, vì nói rằng đó là những hạn chế trong thơ Tố Hữu. Không, đó không phải là những hạn chế. Thơ mà lười, thơ mà không sáng tạo, thơ mà công thức, thơ mà nhạt, thơ mà đáng nhẽ nó to, nó teo lại là thơ không phải thơ.

Thơ đó, phải gọi tên bằng gì? Thơ Teo. Có thể may ra tôi chỉ đồng ý với anh Đặng Tiến nhận xét sau nay: Giọng thơ hào sảng , hiện đại, Xuân Diệu cho là thơ mở Đường. Nhưng rồi sau khi mở, Tố Hữu đóng lại, không cho ai đi cả. Chỉ mình ông đi.

Tố Hữu là nhà thơ teo, độc tài nhất thế kỷ. Cho dù ông có mở đường thì trong suốt hơn 30 năm, ông đã chặn mói lối đi của tất cả các thi sĩ khác. Nếu người ta muốn gọi ông là nhà thơ số một của hơn ba thập kỷ, chỉ vì không có chỗ cho bất cứ nhà thơ nào khác.

Và xin trích dẫn vài ba câu thơ hay của Tố Hữu dưới mắt Đặng Tiến:


Tháng tám mùa thu xanh thẳm …

Tôi lại làm thơ , như mỗi lần
Nghe ấm trời, lất phất mưa xuân
Con chim chích nhớ mùa táo chin
Rúc rích về ăn táo ngoài sân.


Chim mà về Ăn táo ngoài sân được thì chắc là thơ phải hay.

Nghĩ về Tố Hữu, tôi chỉ có thể gọi ông là thứ quan văn nghệ, một thứ Jdanôv Việt Nam. Lại có vấn đề, Jdanôv là ai nhỉ? trên cả Nguyễn Đình Thi, trên tất cả. Chẳng biết Đặng Tiến nghĩ gì?

Phần tôi làm một liên tưởng đến câu chuyện do Irina Zisman kể khi gặp nhà văn Tô Hoài. Ông Tô Hoài kể cho Irina nghe rằng, ông thường theo dõi giọng nói rất ấm áp và truyền cảm của Irina trên đài phát thanh. Ông thường nghe vào ban đêm, khi mọi người đi ngủ cả, để khỏi phiền mọi người, ông phải đeo ống nghe để nghe về ban đêm và để gần gũi người đọc.

Nghe như thế, Irina không khỏi cảm động và thích thú quá vì được Tô Hoài khen Nhưng trên xe địện ngầm đi về nhà, Irina chợt khám phá ra rằng, đài của cô chỉ có chương trình phát thanh đến 8 giờ tối. Tô Hoài thì nghe giọng nói ấm áp của cô lúc nửa đêm. Cô kết luận, đó là bài học của cô về “chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa”. Tôi hy vọng lần sau cô gặp được nhà phê bình Đặng Tiến.

Đây là những nhận xét của anh Đặng Tiến , tôi chỉ xin được trích dẫn trung thực và thẳng thắn.

Trong cuốn Thơ Miền Nam trong thời chiến của nhà văn Trần Hoài Thư, một cuốn sách sưu tầm rất công phu và khá đầy đủ với lời giới thiệu của Đặng Tiến. Tôi xin trích dẫn và so sánh với những lời nhận xét cũa của Đặng Tiến về thơ Tố Hữu để cho thấy sự trái cựa, khác biệt như nước với lửa trong cùng một người viết.

Đặng Tiến viết trong cuốn Thơ miền nam như sau:


Khi nghe đến thời chiến, người ta nghĩ ngay đến chiến tranh, chiến đấu chống cái gí . Sách sưu tập không có bài thơ nào tuyên truyền, thỉnh thoảng , có đôi chữ “quân thù” trong nghĩa đối phương, đối thủ, tự nhiên phải có trong chiến cuộc. Nội dung ý này cho thấy Đặng Tiến khen các nhà thơ miên nam, làm thơ chiến tranh mà không có ý tuyên truyền. Cái hay, cái đáng quý của các nhà thơ miền nam là ở chỗ ấy .( Thơ miền Nam trong thời chiến )


Phía khác chính kiến, (ý nói dân miền Nam), dĩ nhiên lắm kẻ không ưa, thậm chí còn thù oán . Họ thường cố công trích dẫn mấy câu văn vè tuyền quá khích để bêu riếu. Nội dung đoạn này, ông tỏ ra bênh vực Tố Hữu với các lọai thơ tuyên truyền. Lập luận của Đặng Tiến thiếu minh bạch, hàm hồ, mỗi trường hợp nói một khác, gán ghép lẫn lộn giữa chính trị- tuyên truyền và yêu nước. Ông cố tình lầm lẫn thơ chính trị, thơ tuyên truyền để biện hộ một cách khớ khạo như sau: “Tố Hữu xử dụng thơ trong mục đích chính trị, cái đó đã rõ, nhưng đồng thời vô hình trung, ông đã xử dụng thơ chính trị làm đòn bảy cho thi ca.”

Đòn bảy ở chỗ nào, anh không nói tới. Mà làm gì có đòn bảy mà nói tới được .

Trong Sưu tập thi ca, ông viết khác:

Lại công bình mà nói: Miền Nam thời đó, không phải là không có thơ tuyên truyền, nhưng vì không mấy người ưa, không mấy ai nhớ, ban sưu tập không ghi lại cũng là duy lý.
Khi anh dùng thơ để phục vụ để phục vụ hay biện minh cho cái gì đó, thì khó có được thơ hay. Khi được câu thơ hay thì không những là biệt lệ, mà cái hay không ăn nhập gì vào ý đồ của anh, thậm chí có khi còn đi ngược lại


Phần cuối lời giới thiệu tập thơ, ông còn nói rô hơn:” Thơ về chinh chiến, xưa nay không ai theo kịp Đỗ Phủ, được người đời xưng tụng, nhưng không phải là thơ hô hào chiến đấu Việt Nam, cho dù có thật là “đỉnh cao trí tuệ của loài người” cũng không thể đặt mình làm ngoại lệ, nói khác đi, sẽ làm trò cười cho thiên hạ.”

Trong nhận xét trên Đặng Tiến gián tiếp phê bình Đặng Tiến. Đặng Tiến trong Sưu tập thi ca chửi Đặng Tiến trong thơ Tố Hữu. Và chỉ còn một điều có thể hóa giải là có thể có hai Đặng Tiến.

Không thể không trân trọng Đặng Tiến trong Sưu tập thi ca khi anh đã trích dẫn những bài thơ của những người lính VNCH, đậm tình người, tính nhân bản:


Dù chỉ một ngày ngưng bắn đó con
Cũng đem chiếc áo lành ra mâc
Cũng ăn một bữa cơm cho no
Cũng ngủ một giấc trên giường trên chiếu
Khổ đau lúc này, mẹ gói trong mơ


Tôi nghĩ rằng anh Đặng Tiến, khi nhận xét về các nhà thơ trẻ miền Nam thời chiến tranh đã viết chân thật, bằng một tấm lòng, bằng sự chia xẻ những tâm tình của những nhà thơ trong Thơ miền Nam trong thời chiến. Bởi vì một lẽ đơn giản là chúng ta cùng thân phận, cùng từ đó mà ra .. Những tâm tình của các nhà thơ chỉ là thay chúng ta để viết ra trên giấy.

Nhưng khi viết về Tố Hữu, anh đã đưa ra những nhận xét thiếu trung thực, một lối lý luận khó thuyết phục mà không phải chỗ cho ngòi bút của một người muốn viết phê bình văn học.

Nhưng vì thế, tôi không hiểu được bài viết của anh ấy viết về Tố Hữu. Nó có gì gượng ép, và không đủ thuyết phục, nhất là mâu thuẫn với những nhận xét của anh khi giới thiệu tập sưu tập: Thơ miền Nam trong thời chiến của anh Trần Hoài Thư, một công việc mà tôi chỉ biết trân trọng và quý mến.

Phần tôi, bắt buộc phải phải quên một trong hai Đặng Tiến để vẫn giữ được sự trân trọng đối với người đã đề tựa cho cuốn Sưu tập thơ của Trần Hoài Thư.

Thật cũng là khó xử cho tôi lắm.

--------------------------------------------------------------------------------
(1) Trích bài thơ Hãy nhớ lấy lời tôi, Tố Hữu, 23/10/1964
... Chúng run lên, xông trói chặt Anh hơn
Đôi mắt Anh đã khô cháy căm hờn:
Phải chiến đấu như một người cộng sản
Trái tim lớn không sợ gì súng đạn!

Lệnh: Hàng đầu quỳ xuống! Một giây thôi
Anh thét lớn: Hãy nhớ lấy lời tôi:
Đả đảo đế quốc Mỹ!
Đả Nguyễn Khánh!

Hồ Chí Minh muôn năm!
Hồ Chí Minh muôn năm!
Hồ Chí Minh muôn năm!
Phút giây thiêng, Anh gọi Bác ba lần!

...

Chúng tôi đòi tự do





Việt Hồng - phóng sự từ Warsaw, Ba Lan

Vào cuối tuần vừa qua, trong lúc cộng đồng người Việt tại Mỹ đang sôi động "chào đón” ông Nguyễn Minh Triết, chủ tịch nước Cộng Hòa Xã Hội chủ nghĩa Việt Nam sang thăm chính thức Mỹ bằng một rừng cờ vàng và biểu ngữ thì ở thủ đô của Ba Lan, những người Việt Nam, Trung Quốc, Kazachstan, Chechnia, Miến Điện, Cu Ba, Bắc Hàn, Bạch Nga....cùng nắm tay nhau đòi hỏi tự do.

Buổi hòa nhạc ngoài trời mang tên "Chúng tôi đòi tự do” (1) được tổ chức tại quận Żoliborz, trong một khu công viên và bảo tàng xinh đẹp nằm ngay bên bờ sông Wisla đã được khá đông đảo khán giả thủ đô tham dự. Buổi hòa nhạc do Hội Tự Do Ngôn Luận Ba Lan tổ chức với vé vào miễn phí, được truyền hình trực tiếp trên TVP2, đăng trên Gazeta Wyborcza và một số Radio đưa tin. "Chúng tôi tổ chức buổi hòa nhạc này cho các bạn, cho những dân tộc còn chưa có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, chưa có nhân quyền. Chúng tôi hiểu các bạn vì tình trạng của các bạn ngày hôm nay cũng giống như của chúng tôi trước kia.” - Ông Mirosław Chojecki chủ tịch Hội Tự Do Ngôn Luận nói.

Từ nhiều ngày, trước khi buổi hòa nhạc được tổ chức, các nhóm đối lập tại Ba Lan đã chuẩn bị phim tài liệu, hình ảnh, tư liệu để giới thiệu về "thành tích” đàn áp nhân quyền ở nước mình. Mở đầu, ông Adam Borowski, thành viên Hội Tự Do Ngôn Luận và là đại diện danh dự của Chechnia, tuyên bố lý do tổ chức buổi hòa nhạc, ông cũng điểm mặt các chế độ độc tài còn sót lại trên thế giới, trong đó có Việt Nam.

Buổi hòa nhạc được giới văn nghệ sĩ nhiệt liệt hưởng ứng, có nhiều ca sĩ nổi tiếng được giới trẻ và công chúng Ba Lan yêu mến như Stanisław Sojka, Tomasz Lipiński, Daab, Kinga Preis, Voo Voo, Dżem, Iwona Loranc, Maciej Maleńczuk, Przemysław Bogusz, Dorota Miśkiewicz… tham dự.

Sân khấu được chuẩn bị khá chu đáo từ ngày hôm trước. Khi những lời hát ca ngợi tự do, phản đối độc tài, kêu gọi tranh đấu cho nhân quyền… vang lên cũng là lúc những thước phim tài liệu được chuẩn bị công phu từ nhiều ngày trước được trình chiếu trên màn ảnh, phía sau các ca sĩ. Nếu những lời ca đem lại sự phấn chấn tin tưởng cho hầu hết khán giả có mặt tại đây, thì ngược lại, bức tranh đen tối về tình hình nhân quyền được chiếu lên đã gây xúc động lớn. Những bà mẹ, những cô gái với giọt lệ đọng đầy nơi khóe mắt hướng cái nhìn cảm thông và chia sẻ về nhóm những người nước ngoài có mặt nơi đây. Những hình ảnh của Thiên An Môn với xe tăng và xác các sinh viên trên đường phố, hình ảnh đàn áp Pháp Luân Công ở Trung Quốc, cách mạng Cam tại Ucraina, cuộc chiến đẫm máu tại Chechnia, hình ảnh quản thúc bà Aung San Suu Kyi (Miến Điện), đàn áp đối lập tại Kazakhstan, việc bưng bít thông tin và bóp nghẹt dân chủ tại Cu Ba, Bắc Hàn…lần lượt hiện ra. "Dã man quá! Ba Lan thời kỳ thiết quân luật cũng giống như vậy!” – Một người đứng cạnh tôi nhận xét.

Việt Nam đem đến đây hình ảnh Hòa Thượng Thích Quảng Độ và phiên tòa xử Linh mục Nguyễn Văn Lý. Ngoài ra, các bạn Việt Nam còn phát nhiều tờ rơi in hình Linh mục Lý bị bịt miệng. Tờ rơi cũng điểm qua các thành tích đàn áp nhân quyền của Hà Nội từ năm 1975 tới nay và đặc biệt nhấn mạnh tới chiến dịch đàn áp bất đồng chính kiến xảy ra hồi đầu năm nay, kêu gọi Ba Lan và cộng đồng quốc tế ủng hộ Việt Nam trên con đường giành lại tự do.

Nhiều người Ba Lan kinh ngạc và xúc động về hình ảnh Linh mục Lý bị bịt miệng. Họ không thể hiểu nổi tại sao một bị caó lại có thể bị bịt miệng và vì sao một Linh mục lại bị đối xử như vậy. Một phụ nữ lắc đầu, lẩm nhẩm cầu Chúa và làm dấu Thánh. Với những người dân trong một đất nước sùng đạo (hơn 90% theo đạo Thiên chúa) thì Linh mục là những người đáng kính và bức ảnh quả là sự xúc phạm. Nhưng nếu ngược lại lịch sử thì Ba Lan không thiếu những Linh mục đã dũng cảm chống lại bạo quyền cộng sản, nhiều người đã bị tù đày, khủng bố và một Linh mục đã bị an ninh cộng sản thủ tiêu bằng cách buộc đá, ném xuống sông.

Những người Việt tại Đông Âu nói chung và Ba Lan nói riêng thường chỉ đem theo các khẩu hiệu khi tranh đấu. Họ thiếu một là cờ chỉ vì không thể đem theo cờ đỏ sao vàng cũng không muốn đứng dưới cờ vàng. Nhưng lần này là một ngoại lệ! Có lẽ đó là lần đầu tiên, ở một nước Đông Âu, vốn luôn được coi là sân sau của Hà Nội, một lá cờ vàng 3 sọc đỏ tung bay trong gió bên cạnh cờ của các nước bạn!

Không chỉ người Ba Lan ngạc nhiên mà ngay cả những người Viêt Nam cũng bất ngờ về sự có mặt của lá cờ vàng. Chủ nhân của lá cờ - ông Mirosław Chojecki cho hay, cộng đồng người Việt tại California đã tặng ông khi ông sang đó trong vai trò người đại diện danh dự cho Ủy Ban Bảo Vệ Người Lao Động.

Vai kề vai, những người Việt Nam, Trung Quốc, Kazakhstan, Chechnia, Cu Ba, Bắc Hàn...cùng tranh đấu, cùng hy vọng vào một tương lai sáng đep hơn trên đất nước mình. Chắc chắn, những hình ảnh ngày hôm nay sẽ còn đọng lại trong tâm trí nhiều người có mặt nơi đây. Riêng tôi, trên đường lái xe về nhà, văng vẳng bên tai tôi là tiếng hát của ca sĩ Tomasz Lipiński: " Bạn cần tự do để làm gì? Tôi cần tự do để làm gì? Chúng ta cần tự do để làm gì? Tự do là không khí, là cuộc sống, tự do là tất cả, chúng tôi cần tự do...".

Tôi tin rằng, một ngày nào đó, không còn xa nữa, tự do sẽ đến với đất nước tôi, với đất nước các bạn, với tất cả chúng ta.

--------------------------------------------------------------------------------
(1) Nguyên văn tiếng Ba Lan: "Pytam o Wolność"

Hội đồng an ninh quốc gia Hoa Kỳ họp với các đại diện hội đoàn người Việt tại tòa Bạch Ốc

Cali Today News – Như chúng tôi đã loan tin vào mấy hôm nay, Tòa Bạch Ốc và Hội Đồng An Ninh Quốc Gia Hoa Kỳ đã gặp các đại diện của các tổ chức người Việt hải ngoại tranh đấu cho tự do dân chủ Việt Nam. Bản tin vào ngày 25 tháng 6, trên nhật báo Cali Today như sau:

Tòa Bạch Ốc mời các đại diện người Việt trở lại họp vào ngày thứ tư
Cali Today News - Tổng thống Hoa Kỳ George W. Bush và Tòa Bạch Ốc đã gởi thơ mời một số các nhân vật đại diện cho các tổ chức tranh đấu cho nhân quyền Việt Nam quay trở lại Tòa Bạch Ốc vào thứ tư tuần này, để gặp gỡ riêng với Tổng thống và các cố vấn an ninh.

Mục đích của buổi họp không được loan báo. Nguồn tin cho hay 4 trong số những người đã được mời trong phiên họp trước đây là Bác sĩ Nguyễn Quốc Quân, chủ tịch Cao Trào Nhân bản và cũng là bào huynh của bác sĩ Nguyễn Đan Quế hiện đang bị quản chế tại Việt Nam. Ông Đỗ Thành Công, người từng bị nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam bắt giam và sau đó trục xuất về lại Mỹ, ông Lê Minh Nguyên, đại diện cho Mạng lưới nhân quyền Việt Nam, và ông Đỗ Hoàng Điềm, chủ tịch đảng Việt Tân. Ngoài ra còn có một số người khác được mời là Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, đại diện của Hội Ân Xá quốc tế Amnesty International, đại diện của tổ chức Human Rights Watch, và một hai người nữa.

Việc Tổng thống Bush tiếp đón những người đại diện cho cộng đồng người Việt hải ngoại trước khi gặp gỡ Chủ tịch nhà nước Cộng sản Việt Nam Nguyễn Minh Triết vào hôm thứ sáu vừa qua, đã nói lên sự quan tâm của chính quyền Hoa Kỳ đối với vấn đề tranh đấu cho nhân quyền tại Việt Nam, nhưng nay với phiên họp thứ nhì sau khi Nguyễn Minh Triết đã về nước, đã đặt ra câu hỏi là buổi họp này có mục đích gì, vì không phải để tường trình về buổi gặp gỡ với Nguyễn Minh Triết mà tin tức báo chí cũng như Tòa Bạch Ốc đã phổ biến đầy đủ những chi tiết này, mà có thể Tổng thống Bush sẽ hỏi ý kiến cộng đồng người Việt hải ngoại về phương cách đối phó với Hà Nội trong những ngày tới để áp lực Cộng sản Việt Nam phải tôn trọng nhân quyền hay không.

Điều mọi người quan tâm: Cuộc họp với nội dung và mục đích gì?

Đó cũng là điều mà độc giả Cali Today quan tâm. Nhằm đáp ứng nhu cầu quan tâm này, ngay sau khi phiên họp vừa chấm dứt, tiến sĩ Nguyễn Hồng Dũng đã có cuộc điện đàm chớp nhoáng với ông Đỗ Hoàng Điềm, chủ tịch đảng Việt Tân, như sau. Kính mời qúy thính/độc giả theo dõi.
Nguyễn Dương (@Cali Today)

Hội đồng an ninh quốc gia Hoa Kỳ họp với các đại diện hội đoàn người Việt tại tòa Bạch Ốc

Tin về những nhân vật đại diện cho cộng đồng người Việt tại hải ngoại đã được mời đến Tòa Bạch Ốc thể theo lời mời của Hội đồng An Ninh quốc gia vào trưa ngày hôm nay, cho biết đã diễn ra khá tốt đẹp với sự có mặt của đại diện Hội đồng An Ninh Quốc gia gồm có ông Đại sứ Mike Kozak, Đặc trách Dân chủ, Nhân quyền và liên hệ các Tổ chức Quốc tế, ông Dennis Wilder, Giám đốc Đông Á Sự vụ, và bà Patricia Davis, Giám đốc Văn phòng Dân chủ và Nhân quyền.

Phía khách mời gồm có Tổ chức Ân Xá Quốc tế, Tổ chức Theo dõi Nhân quyền Hoa Kỳ, và một số các Tổ chức Nhân quyền và Dân chủ của người Việt tại Hoa Kỳ.
Đặc biệt một tổ chức duy nhất ngoài nước Mỹ cũng được mời tham dự là Ủy ban Bảo vệ quyền làm người Việt Nam của ông Võ Văn Ái, đã cử bà Ỷ Lan Faulkner đến tham dự.

Cuộc tham khảo diễn ra gần hai tiếng đồng hồ trong sự cởi mở, đối thoại. Tinh thần chung của cuộc tham khảo cho thấy ý lực của Tổng thống Bush và Chính phủ Hoa Kỳ thực tâm hậu thuẫn cho tiến trình Dân chủ tại Việt Nam. Một số nội dung trình bày về chuyến đi của Phái đoàn Hà Nội do Chủ tịch Nguyễn Minh Triết cầm đầu được yêu cầu không tiết lộ. Nhưng nói chung là cuộc trao đổi một tiếng đồng hồ giữa Tổng thống Bush và ông Triết đặt nặng khía cạnh nhân quyền và dân chủ tại Việt Nam. Sự kiện nổi bật là không có thông cáo chung giữa hai bên, như thường lệ xẩy ra trong ngoại giao khi Tổng thống Hoa Kỳ tiếp khách cấp cao nước ngoài. Điều này có thể xác tín, là ngoài vấn đề giao thương kinh tế, còn tồn đọng nhiều bất đồng giữa hai bên trên lĩnh vực chính trị, tức vấn đề nhân quyền và dân chủ tại Việt Nam.

Tại cuộc tham khảo hôm nay ở Tòa Bạch Ốc, những người đại diện cho các tổ chức của người Việt hải ngoại đã ngỏ lời ca ngợi những hành xử và tuyên bố gần đây của Tổng thống Bush hậu thuẫn cho dân chủ Việt Nam vì đây là niềm khích lệ lớn cho những nhà đấu tranh cho nhân quyền và dân chủ Việt Nam trong và ngoài nước. Tuy nhiên, bà Ỷ Lan từ Pháp cho rằng Hoa Kỳ cần tiến xa hơn nữa trong sự hậu thuẫn cho tiến trình dân chủ hóa Việt Nam. Lên tiếng phản đối những cuộc bắt bớ và xử án bất công các nhà dân chủ là quan trọng nhưng chưa đủ. Hoa Kỳ cần quan tâm đến các lực lượng tôn giáo là cơ sở chính yếu của các phong trào dân chủ trong nước.

Các nhân vật khác cũng lần lượt phát biểu ý kiến, nói chung thì vẫn xoay quanh 4 đề tài chính là đòi đặt Việt Nam vào lại trong danh sách các quốc gia đàn áp tôn giáo cần đặc biệt quan tâm CPC theo như đề xuất của Ủy hội Hoa Kỳ Bảo vệ Tự do tôn giáo trên Thế giới, để gây áp lực cho Cộng sản Việt Nam cải tổ chính trị và bảo đảm quyền tự do tôn giáo. Đòi hỏi Cộng sản Việt Nam phải thả hết những tù chính trị và lương tâm. Đòi hỏi Cộng sản Việt Nam phải bỏ điều 4 Hiến pháp, tôn trọng những quyền căn bản của con người, kể cả quyền tự do lập hội, tự do hội họp, tự do ngôn luận, tự do báo chí. Hậu thuẫn cho mọi sáng kiến kết hợp các nhà dân chủ trong nước, và ủng hộ cho những tổ chức dân chủ ở trong nước và hải ngoại. Tổng thống Bush đã không đến dự phiên họp này, nhưng đại diện chính quyền đã hứa hẹn sẽ có những cuộc tiếp xúc thường xuyên hơn với đại diện nguời Việt hải ngoại trong những ngày tới.


Thông báo của truyenhinhvietnam.tv:
Sau hơn một năm hoạt động, webcast truyenhinhvietnam.tv được sự hưởng ứng nồng nhiệt của khán gỉa khắp nơi trên thế giới. Truyenhinhvietnam.tv sớm trở thành một chương trình truyền hình online phổ biến với kỹ thuật tân tiến và chương trình phong phú.
Nhằm cải tiến truyenhinhvietnam.tv lên một tầm mức cao hơn nữa trong kỹ thuật truyền hình online và chuẩn bị một loạt các chương trình sống động và hữu ích để phục vụ cộng đồng trong thời gian tới, cho nên truyenhinhvietnam.tv tạm ngưng hoạt động một tháng để nâng cấp kỹ thuật và nội dung.
Trong thời gian này, các chương trình truyền hình mang tính chất thời sự sẽ tạm thời được phát hình trên calitoday.com.
Chúng tôi sẽ loan báo thời gian truyenhinhvietnam.tv tái ra mắt phục vụ độc giả trong thời gian ngắn nhất sắp tới.
Nhóm chủ trương truyenhinhvietnam.tv