Thứ Năm, 21 tháng 6, 2007

Khẩn Báo: Đêm Không Ngủ tại Cali


Thơ Mời
Tham Gia Biểu Tình Chống Nguyễn Minh Triết đến Hoa Kỳ
của Ủy Ban Bão Vệ và Phát Huy Chánh Nghĩa Quốc Gia.

Kính thưa quý đồng hương,

Chuyến đi thăm viếng ngoại giao Hoa Kỳ của Nguyễn Minh Triết là một sự khinh miệt đối với dư luận thế giới và là một sự thách thức đối với cộng đồng người Việt tỵ nạn tại Hoa Kỳ. Các tổ chức chánh trị và Cộng Đồng Viẽt Nam tại Washington D.C sẽ tổ chức một cuộc biểu tình quy mô phản đối Nguyễn Minh Triết trước toà Bạch Ốc vào ngày 22 tháng 6 năm 2007.

Để hổ trợ cuộc biểu dương của đồng bào tỵ nạn tại Washington D.C, chúng tôi, Ủy Ban Bão Vệ & Phát Huy Chánh Nghiã Quốc Gia sẽ tổ chức một cuộc biểu tình tại :

Khu chợ Á Đông
trước thương xá Phước Lộc Thọ
vào lúc 11 giờ trưa,
ngày thứ sáu 22 tháng 6 năm 2007

Chúng tôi tha thiết kêu gọi quý dồng hương cùng góp một tay, cùng cất lên một tiếng nói, muôn người như một để phản đối Nguyễn Minh Triết, biểu tượng của một chế độ độc tài và vô nhân nhứt trong lịch sử của dân tộc Việt Nam.

Sự hiện diện của quý đồng hương là một tiếng nói mạnh mẻ để vạch vạch trần cho dư luận Hoa Kỳ và thế giới hiểu rõ được bản chất thực sự của chế độ vô nhân CSVN, đồng thời là một khích lệ lớn lao cho các phong trào tranh đấu dân chủ tại quê nhà.

Trân trọng trọng kính mời quý đồng hương dành thì giờ đến tham dự đông đủ.

Làm tại Little Saigon, ngày 18 tháng 6 năm 2007
TM. Ủy Ban Bão Vệ và Phát Huy Chánh Nghiã Quốc Gia
Lê Ngọc Diệp

Lể tưởng niệm Anh Hùng Dân Tộc: Nguyễn Thái Học và 12 Liệt Sĩ Yên Bái đền nợ nước ngày 17-06-1930

(Thứ bảy, ngày 16/06/2007 tại California - USA)

1. Tuyên bố lý do:

Hôm nay chúng ta Tổ chức lễ tưởng niệm ngày vị anh hùng dân tộc Nguyễn Thái Học và 12 liệt sĩ Việt Nam Quốc Dân Đảng lên đoạn đầu đài đến nợ nước cách nay đã 77 năm, ngày 17/06/1930:

Năm 1930, cuộc tổng nổi dậy của VNQDÐ thất bại, bị đàn áp vô cùng tàn bạo, hàng trăm người bị giết, hàng ngàn người bị tù đày, Nguyễn Thái Học và các đồng chí lên đoạn đầu đài, dù vụ án Yên Bái tàn khốc nhưng không đè bẹp được tinh thần yêu nước trong giới trẻ VN ! mà còn khơi động lên lòng yêu nước khắp nơi. Vụ án gây lên ngọn lửa đấu tranh của toàn dân Việt Nam trên khắp nẻo đường đất nước.

Dù chúng ta không phải là Đảng Viên VNQĐD, nhưng hôm nay xin hãy cùng nhau đốt nén hương lòng để tưởng nhớ đến các đảng Viên VNQĐD, những VỊ ANH HÙNG CỦA DÂN TỘC VN đã vì nước vong thân.

2. Nghi thức chào quốc kỳ, quốc ca và phút mặc niệm:

- Cho toàn thể những chiến sĩ đã bỏ mình cho quốc gia dân tộc;

- Cho đồng bào VN đi tìm tự do đã nằm xuống trong rừng sâu hay trong lòng biển cả. Và đặc biệt hôm nay cho vị anh hùng dân tộc là Đảng trưởng VNQDĐ Nguyễn Thái Học và 12 anh hùng Liệt Sĩ Yên Bái.

" Không Thành Công, thì Thành Nhân "

" Chúng tôi ra đi dền nợ nưóc, các anh ở lại mỗi người một tay, người nào việc nấy, Cờ Độc Lập phải được nhuộm bằng máu. Hoa Tự Do phải được tưới bằng máu"

Nguyễn Thái Học sinh năm 1902, người làng Phổ Tang, tỉnh Vĩnh Yên (Vĩnh Phú). Khi còn trẻ, theo học trường Cao Đẳng Sư Phạm và Cao Đẳng Thương Mại Đông Dương ở Hà Nội, ông đã có tinh thần cách mạng, gửi thư cho nhà cầm quyền Pháp ở Đông Dương đòi cải cách về Xã hội và chính trị. Năm 1927 ông thành lập Đảng Quốc Dân Việt Nam (Việt Nam Quốc Dân Đảng). Ngày 10 tháng 2 năm 1930, ông tổ chức Tổng Khởi Nghĩa, tấn công Pháp ở Yên Bái, Hưng Hóa, Lâm Thao, Hải Dương, Kiến An... Cuộc tổng nổi dậy thất bại, ông và một số chiến hữu bị bắt tại Cổ Vịt (Đông Triều, Hải Dương) ngày 20 tháng 2 năm 1930.

Ngày 17 tháng 6 năm 1930, Đảng Trưởng Nguyễn Thái Học và 12 Đảng Viên quan trọng Việt Nam Quốc Dân Đảng đã hiên ngang bước lên máy chém của Thực dân Pháp tại Yên Bái, hy sinh đền nợ nước.

Cái chết oai hùng của mười ba nhà Cách Mạng Yên Bái được ghi vào Sử xanh, đã nói lên tinh thần bất khuất của dân tộc Việt Nam, và đã trở thành ngọn đuốc luôn luôn soi sáng chúng ta trên con đường đấu tranh dành Tự do và Dân chủ cho toàn dân Việt Nam.

Nhân ngày tưởng niệm Nguyễn Thái Học và 12 Liệt Sĩ VNQDĐ lên đoạn đầu đài ở Yên Bái, mời quí vị cùng sống lại những giây phút bi hùng của lịch sử.

- Xướng danh các Liệt Sĩ Yên Bái

Văn tế Nguyễn Thái Học

Sau khi ông mất, sinh viên học sinh Huế tổ chức lễ truy điệu và đọc bài Văn tế các Tiên-liệt Việt Nam Quốc Dân Đảng sau đây do cụ Phan Bội Châu trước tác.

Gươm ba thước chọc trời kinh, chớp cháy, nầy Lâm Thao, nầy Yên Bái, nầy Vĩnh Bảo, khí phục thù hơi thở một tầng mây!

Súng liên thanh vang đất thụt, non reo, nào chủ đồn, nào xếp cẩm, nào quan binh, ma hút máu người bay theo ngọn gió.

Trách nông nỗi trời còn xoay tít, trước cờ binh sao quay gió cản ngăn;
Tiếc sự cơ ai quá lờ mờ, dưới trướng giặc bấy nhiêu tay len lỏi.
Ma cường quyền đắc thế sinh hùng uy,
Thần công lý bó tay nghe tử tội.
Ôi thôi, mù thảm mây sầu,
Gió cuồng mưa vội;
Cửa quỷ thênh thang!
Đường trời vòi vọi!
Nhân dân chí sĩ, sát thân vào luật dã man;
Nữ kiệt anh hùng, thất thế đang hồi đen rủi. [8]
Trường tuyên án chị chị anh anh cười tủm tỉm, tức nỗi xuất sư vị tiệp, [9]
vai bể non gánh nặng hãy trìu trìu,
Đoạn đầu đài sau sau trước bước ung dung, gớm gan thị tử như quy, [10]
mặc cây cỏ máu tươi thêm chói chói.
Tuy kim cổ hữu hình thì hữu hoại, sóng Bạch Đằng, mây Tam Đảo, hơi sầu cuộn cuộn bóng rồng thiêng đành ông HỌC xa xuôi,
Nhưng sơn hà còn phách ắt còn linh, voi nàng Triệu, ngựa nàng Trưng, hình hạc gió, hãy cô GIANG theo đuổi.

Đoàn trẻ chúng tôi nay:
Tiếc nước còn đau,
Nghĩ mình càng tủi!
Nghĩa lớn khôn quên,
Đường xa dặm mỏi!
Giây nô lệ quyết rày mai cắt đứt, anh linh thời ủng hộ, mở rộng đường công nhẩy, bằng bay;
Bể lao lung đua thế giới vẫy vùng, nhân đạo muốn hoàn toàn, phải gắng sức rồng dành, cọp chọi,
Đông đủ người năm bộ lớn, đốt hương nồng, pha máu nóng, hồn thiên thu như sống như còn,
Ước ao trong bấy nhiêu niên, rung chông bạc, múa cờ vàng, tiếng vạn tuế càng hô càng trỗi.
Tình khôn xiết nói,
Hồn xin chứng cho,
Thượng hưởng!

- Sào Nam Phan Bội Châu, (1932)

3. Giới thiệu thành phần tham dự:

Giới thiệu những thành phần tham dự trong diễn đàn hôm nay gồm có đại diện VNQDĐ, đại diện các tổ chức và đoàn thể đấu tranh và các nhân sĩ sau đây:

- Anh Lê thành Nhân, ở Hoa Kỳ, tổng bí thư VNQDĐ.

- Anh Đỗ thông Minh, ở Nhật Bản, nhà nghiên cứu Ngôn ngữ Hán Việt, Văn học, Sử học và Chính trị.

- Anh Chu chi Nam, ở Pháp, giáo sư Đại học, nhà nghiên cứu các học thuyết chính trị và cũng là bình luận gia về chính trị.

- Anh Khánh Hòa, ở Đức, chuyên viên điện toán. (có thể sẽ thay thế anh Chu Chi Nam)

- Anh Sỹ Hoàng, ở Canada, cựu nhân viên chính quyền thời VNCH, từng du học ở Hoa kỳ và Pháp, hiện nay là Chủ tịch văn phòng Vận động Quốc tế vì Dân chủ Nhân quyền cho VN.

4. Đọc Ý nghiã ngày Tang Yên Bái.

· Bài ý nghĩa làm thế nào nâng cao tinh thần đấu tranh của tuổi trẻ hôm nay, qua những gương hy sinh cao quy của người trẻ thế hệ Nguyễn Thái Học, Phó Đức Chính, Đoàn Trấn Nghiệp (Ký Con), cô Giang, cô Bắc.

· Những người này đều là những người trẻ học thức trước cảnh đất nước lâm nguy bi giặc Pháp đô hộ họ hy sinh cả sự nghiệp, hy sinh thân thế nguyện đem thân mình trong công cuộc đánh đuổi ngoại xâm giành độc lập cho dân tộc.

· Những người trẻ VNQDĐ không những hy sinh mà còn nhìn ra được rằng chỉ có tự do dân chủ mới đưa đất nướctiến bộ va hùng cường nhân dân mới được hạnh phúc cho nên họ đã không ngừng ngại đoạn tuyệt với chế độ phong kiến lạc hậu, đánh đuổi thế lực thực dân giành độc lập và xây dựng một thể chế dân chủ cộng hoà trên phương châm của VNQDĐ là Dân Tộc Độc Lập, Dân Quyền Tự Do và Dân Sinh Hạnh Phúc.

Lược sử và ý nghiã ngày lể tưởng niệm 13 liệt sĩ VNQDĐ đền nợ nước tại Yên bái 17-6-1930 (77 năm)

I- BỐI CẢNH LỊCH SỬ.

Vào thập niên 1920, thực dân Pháp càng ngày càng đè nặng ách thống trị tàn bạo lên đầu lên cổ người dân Việt từ Bắc chí Nam. Chúng đàn áp dã man, bóc lột tới tận xương tủy, nào sưu cao thuế nặng, nào bắt bớ giam cầm, tù đầy, tra tấn, thủ tiêu những người yêu nước. Các phong trào nổi dậy chống Pháp trước đó bị đàn áp dữ dội. Phong trào Đông du của cụ Phan bội Châu cũng bị dẹp tan. Khắp nơi đâu đâu cũng nghe tiếng oán hờn, nỗi uất hận cao ngút thấu trời xanh.

Trước hoàn cảnh cực kỳ đau thương của dân tộc, máu căm hờn sôi sục khắp nơi, những người trẻ Việt nam không thể cúi đầu khuất phục. Nhà Cách mạng Nguyễn Thái Học, một sinh viên trường Cao Đẳng Thương mại Hà nội, lúc ấy mới 24 tuổi, đã cùng các thanh niên Việt nam yêu nước khác như: Nhượng Tống, Phạm tuấn Tài, Phạm tuấn Lâm, Hồ văn Mịch, Phó Đức Chính, Nguyễn ngọc Sơn, Lê văn Phúc vân vân... đã đứng lên phất cờ khởi nghĩa, bí mật thành lập một Đảng đấu tranh cách mạng vào ngày 25.12.1927, lấy tên là việt nam quốc dân đảng để chống Pháp, quyết đánh đuổi thực dân giành độc lập, tự do cho dân tộc. Cụ Phan bội Châu được cử làm Chủ tịch Danh dự, Nguyễn Thái Học được bầu làm Chủ tịch Tổng Bộ tức Đảng Trưởng.

Ngày 09 tháng 02 năm 1929, nhằm chiều 30 Tết Mậu thìn, tên Giám Đốc mộ phu trùm thực dân Pháp tại Hà nội là Bazin bị các đảng viên VNQDĐ Nguyễn văn Viên, Nguyễn đức Lung, Nguyễn văn Lân ám sát gây chấn động khắp Đông Dương. Mật thám Pháp lại càng gia tăng khủng bố, trả thù tàn bạo.

2- Cuộc khởi nghĩa yên bái.

Trước cảnh khổ cực trăm bề của người dân, VNQDĐ quyết định Tổng Khởi Nghĩa vào ngày 10.02.1930. Quân cách mạng đã đồng loạt tấn công vào các cứ điểm quân sự của Pháp: tấn công Yên Bái, Lâm thao, Hưng Hoá, ném bom trên cầu Long Biên Hà nội, đánh Đáp cầu, Phả Lại, tấn công đồn binh Pháp tại Kiến An, đánh Phủ dực, Vĩnh Bảo, Thái Bình, xử tử cháu tên đại Việt gian Hoàng cao Khải là Tri Huyện Vĩnh Bảo Hoàng gia Mô, giết chết nhiều sĩ quan và binh lính địch, chiếm nhiều căn cứ của thực dân. Do sự phản công mãnh liệt của quân Pháp, quân khởi nghĩa cuối cùng bị đẩy lui. Nhiều chiến sĩ cách mạng bị bắt vào ngày 20.2.1930 trong đó có nhà Cách mạng Nguyễn thái Học. Cuộc khởi nghĩa tuy thất bại nhưng cũng tạo tiếng vang khắp nơi và làm rúng động cả chính quốc Pháp.

3- Cuộc hành quyết tại Yên bái ngày 17.6.

Nhằm tiêu diệt mầm mống cách mạng, đồng thời khủng bố tinh thần những người yêu nước khác, thực dân Pháp đã xử chém 13 đảng viên VNQDĐ tại Yên Bái ngày 17.6.1930 trong đó có anh hùng Nguyễn Thái Học. Sau đây là một đoạn tường thuật cuộc xử chém của tác giả Hoàng văn Đào trong tác phẩm Từ Yên Bái tới ngục thất Hoả Lò: Yên Bái, một vị trí lịch sử lần thứ hai lại chứng liến các đảng viên VNQDĐ đền nợ nước. Trong chuyến xe lửa bí mật, riêng biệt khởi hành từ Hà nội lên Yên Bái,các tử tù cứ hai người còng làm một, trò chuyện ở toa hạng tư trên một lộ trình dài 4 tiếng đồng hồ. Cùng đi với các tội nhân còn có thanh tra sở mật thám Pháp, hai cố đạo người Âu là Linh mục Mechet và Dronet. Máy chém di chuyển theo cùng chuyến xe. Đao phủ thủ phụ trách buổi hành quyết là Cai Công. Cuộc hành quyết khởi sự vào lúc 5 giờ kém 5 phút sáng ngày 17.6.1930 trên một bãi cỏ rộng với sự canh phòng cẩn mật của 400 lính bản xứ. Xác chết 13 người chôn chung dưới chân đồi cao, bên cạnh đồi là đền thờ Tuần Quán, cách ga xe lửa độ một cây số.

Danh tánh của 13 Liệt sĩ đã lần lượt lên máy chém: Bùi tư Toàn, Bùi văn Chuẩn, Nguyễn An, Hồ văn Lạo, Đào văn Nhít, Nguyễn văn Du, Nguyễn đức Thịnh, Nguyễn văn Tiềm, Đỗ văn Tứ, Bùi văn Cưủ, Nguyễn như Liên, Phó đức Chính và cuối cùng là Nguyễn thái Học. Tãt cả các Liệt sĩ lên đoạn đầu đài đều hô to: Việt Nam muôn năm. Người Nữ Anh hùng Nguyễn thị Giang, một đảng viên VNQDĐ tuẫn tiết theo Đảng Trưởng.

Ngoài ra, kể từ ngày khởi nghĩa Yên Bái thầt bại, trên 30 đảng viên VNQDĐ đã bị thực dân Pháp xử chém và hàng ngàn đảng viên khác bị xử án từ chung thân đến lưu đầy biệt xứ.

4- Tiếp nối tinh thần liệt sĩ yên bái.

Xử chém được 13 chiến sĩ cách mạng tại Yên Bái, thực dân Pháp tưởng đã đàn áp được tinh thần yêu nước của toàn dân ta. Trái lại, noi gương hy sinh dũng cảm của các bậc tiền nhân, của 13 vị liệt sĩ Yên Bái, toàn dân ta tiếp tục đẩy mạnh cuộc kháng chiến chống Pháp giành độc lập, chống độc tài phong kiến và hiện nay, chống lại ách cai trị tàn bạo của tập đoàn cộng sản Hà Nội.

Trải qua hơn nửa Thế kỷ, tiếp nối tinh thần hy sinh anh dũng của các liệt sĩ Yên Bái, VNQDĐ vẫn cùng toàn dân đấu tranh không ngừng nghỉ, khi thì đẫm máu quyết liệt, khi thì đau thương thê thảm, hàng hàng lớp lớp vẫn đứng lên, người này ngã gục, kẻ khác đứng dậy, hàng ngàn hàng vạn đồng bào và chiến sĩ đã bị thù trong giặc ngoài tàn sát, cầm tù nhưng không lúc nào ngưng chiến đấu, trong nửa Thế kỷ quyết chiến với kẻ thù, từng giờ từng phút quyết dành lấy những gì qúi nhất của con người: Độc lập và tự do.

5. Nhạc Nguyễn Thái Học hát live của anh Hồ Hải

6. Lời phát của các diễn giả:

a- Phát biểu của anh - Đỗ Thông Minh
b- Phát biểu của anh - Chu chi Nam (Tuổi trẻ thời chống Thực dân và tuổi trẻ hôm nay chống giặc Cộng đỏ)

Nghe 1 bản nhạc : Lấy Hồn Dân Tộc Mà Phục Quốc (Hồ văn Sinh)

c- Phát biểu của anh - Sỹ Hoàng (đôi dòng về giai đoạn lịch sử chống Pháp)

d- Phát biểu cảm tưởng của anh Tổng Bí Thư VNQDĐ : Lê Thành Nhân

Thơ : Đóa Hoa Máu (Hồn Nhiên).

Bắt đầu cuộc hội luân chính trị: (4 hours)

7. Đại diện của VNQDĐ: chia sẽ và trao đổi tình hình chính trị hiện nay qua hình thức hỏi đáp. (những câu hỏi đáp)

1. Hiện nay có một số nhận định cho rằng Việt Nam đang bị ảnh hưởng của Hoa Kỳ và Trung Quốc lôi kéo, xin quý anh cho biết những ảnh hưởng đó như thế nào? Và bây giờ nó ra sao?

Vậy thì lập trường của những người Việt Nam yêu nước phải như thế nào trước tình hình Việt Nam đang bị đảng CS cai trị độc tài, chậm tiến và lạc hậu, lại bị sự dòm ngó của các thế lực quốc tế?

Nghe nhạc : Huyền sử một người mang tên Quốc (Huyenthoai)

2. Trong một vài phát biểu của giới chức Hoa Kỳ như Đại Sứ Micheal Marin và những quan chức cao cấp của Hoa Kỳ; đồng thời những thành phần lãnh đạo CSVN tại Hà Nội đang nắm quyền cũng như đã về hưu và nghị quyết 36 của bộ chính trị CSVN đối với người Việt ở nước ngoài đòi “bỏ qua quá khứ hướng về tương lai” xây dựng đất nước. Xin Anh quan niệm như thế nào về những vấn đề này?

Nghe nhạc : Ai trở về xứ Việt (SweetOctober)

3. Hiện nay có một số người cho rằng trong công cuộc đấu tranh hiện nay cần phải mềm dẽo uyển chuyển cho nên lằng ranh quốc cộng cần phải bỏ đi, một số khác cho rằng lằng ranh quốc cộng phải cương quyết duy trì. Xin Anh cho biết ý kiến của anh về vấn đề này?

Nghe nhạc : Nguoi o lai Charlies (NguoiTinhQueHuong_)

4. Theo anh thì công cuộc đấu tranh hiện nay phải như thế nào là phù hợp nhất để giải thể chế độ độc tài toàn trị CSVN hiện nay?

Và xin anh cho biết về cách thực hiện thực hiện như thế nào?

Bài đọc : Cô Giang (Covang)

- Đọc Văn Tế : Cô Giang

Khi nghe tin Cô Giang tuẫn tiết Phan Bội Châu cảm khái làm bài văn tế:

Than rằng:

Sóng nhân đạo ở hai mươi thế kỷ, bạn má hồng toan cướp gái làm trai – Gương nữ hùng trên một góc trời Nam, bọn da trắng phải ghê giòng giống Việt.

Trên quốc sử mực chàm giấy phấn, ong cả đoàn nhan nhản bầy nô, – Dưới Long Thành máu thắm cỏ xanh, gái đến thế rành rành chữ liệt.

Trăng thu mờ mịt, trông những buồn tênh! Người ngọc xa vời, nghĩ càng đau tuyệt.

Nhớ nữ liệt sĩ xưa:

Đất nhả tinh hoa – trời treo băng tuyết.

Vóc quần thoa nhưng chí khí tu mi – Thân khuê các mà can trường khí tiết.

Thuở bé nhờ ơn gia giáo, Hán học vừa thông – Tuổi xanh vào chốn học trường, Pháp văn cũng biết

Tang hải gặp khi xoay cuộc, ngó giang sơn luống những lòng đau – Trần ai tức lôí không người, thâý nô lệ giương đôi tròng ngút.

Xem sách Pháp từng đem óc nghĩ: Dan Đà, La Lan thuở nọ, chị em mình đã dễ ai hơn, – Giở sử nhà bỗng vỗ tay reo: Bà Trưng, Cô Triệu sau này, non nước ấy có đâu hồn chết.

Triều cách mạng đang dâng sùng sục, cát Vệ Tinh ngậm đầy trước miệng, mong thấy bể vùi, – Vai quốc dân nặng gánh trìu trìu, đá Oa Hùng dắp sẵn trong tay, nỡ xem trời khuyết.

Tức tội cường quyền – Thi gan sấm sét.

Khi nhập đảng tuổi vừa mười tám, cơ nữ binh đăng đội tiền phong; – Lúc tuyên truyền sách động ba quân, lưỡi biện sĩ trổ tài du thuyết.

Thổi gió phun mây từng mấy trận, nào Lâm Thao, nào Yên Bái, nữ tham mưu đưa đẩy đội hùng binh; – Vaò sinh ra tử biết bao phen, kia thành huyện, kìa đồn binh, cờ nương tử xông pha hùm rắn rết.

Nguyễn Thái Học trổ tài kiện tướng, nhờ có cô mà lông cánh thêm dài – Phạm thị Hào nổi tiếng trung trinh, em có chị mà xứng danh nữ kiệt.

Khốn nỗi thay!
Vận nước còn truân – Tai trời chửa hết!
Trắc trở buồm xuôi gió ngược, tài anh thư gặp bước gian truân. – Ngại ngùng nước biếc non xanh, tay chức nữ uổng công thêu dệt.

Nhưng hãy còn:
Thiết thạch tâm can, – Châu toàn bách chiết.
Thời như thế, việc đành phải thế, đoạn đầu đài mừng được thấy anh lên. – Sống là còn thác vẫn là còn, súng kề cổ không nhường cho giặc giết.
Tiếng súng lúc vang lên một phát, núi đổ sông nhào! – Hồn anh thư hẹn phút trùng lai, thần gào quỷ thét

Ôi thương ôi!
Khóc nữa mà chi! – Nói không kể xiết!
Một nén hương lòng, – Mấy lời thống thiết!
Bạn nữ lưu ai nối gót theo chân? – Nghĩa đoàn thể, xin từ đây cố kết!
Hỡi ơi! thương thay!


8. Chào Cờ bế mạc

Phát Biểu cảm nhận chatters qua buổi Kỷ Niệm Ngày Tang Yên Bái.

Audio phát thêm sau đó : Về VNQDĐ trên đài RFA




--------------------------------------------------------------------------------



Tài liệu tham khảo :

Trích lá thư của anh Lê thành Nhân (Tổng bí thư VNQDĐ) : thân thế sự nghiệp vài anh hùng VNQDĐ

Nhân ngày lễ tưởng niệm lần thứ 75 cuộc Tổng Khởi Nghĩa của VNQDĐ đứng lên đánh Pháp giành độc lập, tôi ghi lại những dòng suy tư của mình, một đảng viên đối với NGƯỜI "yêu đất nước"; đối với lãnh tụ VNQDĐ đã đi vào cửa chính của lịch sử dân tộc; đối với những gương hy sinh cho tổ quốc không tính toán; đối với tinh thần trách nhiệm tuyệt vời, và đối với những tâm hồn quốc gia dân tộc thâu suốt như hạt minh châu.

Những gì là hiện thân một Nguyễn Thái Học của lịch sử? Nhượng Tống tả "Ông người tầm thước, trán hói, đôi mắt thông minh, một cái nhìn đủ khiến người ta đem lòng tin mến....cằm nở, tỏ ra là con người cương quyết thực hành. Đặt lưng là ngủ được ngay, đủ rõ trong tâm lúc nào cũng bình tĩnh. Ngủ lúc nào cũng nằm sấp và hai bàn chân quặp lại trên mông..." đó một vài nét đặc trưng của một Nguyễn Thái Học trong cách tả chân của Nhượng Tống. Còn bạn bè của Nguyễn Thái Học thì nói rằng "Học là người ngoài tuy nóng nảy nhưng trong lòng thường điềm tĩnh; đãi người rất chân thành nhưng liệu việc rất nhiều trí mưu". Nhượng Tống cho rằng sự nẩy mầm cách mạng của đảng trưởng VNQDĐ mà do chính ông thuật lại rằng "Hễ gặp tau là bà cụ ôm choàng lấy: các cậu, các cậu làm thế nào để báo thù được cho con tôi". Bà cụ chính là mẹ của Đội Cấn, người chỉ huy đánh đuổi Pháp ở đồn Thái Nguyên bị treo cổ giết chết.

Với đức tính đó, với những mẩu chuyện đời tư lượm lặt trong dân gian đó có thể đúc kết được một tâm hồn vĩ đại như Nguyễn Thái Học không? Không đủ! phải có cái gì kết tinh thành một Nguyễn Thái Học để tên tuổi của ông vang vọng đời sau. Những sự tả chân, những lời nói của bà cụ già có đủ để một Nguyễn Thái Học làm nên một đảng cách mạng dân quyền, tự do dân chủ đầu tiên cho dân tộc Việt không? Không thể! Phải là một con người trí tuệ dũng lược, có tầm nhìn xa về tương lai, có những giọt máu kết tụ bởi những nhân tố cách mạng và được nuôi dưỡng bởi bầu nhiệt huyết yêu nước, thương nòi. Phải có một ý chí tích tụ bởi máu chảy, lệ rơi và nỗi thống khổ của đồng bào dưới ách độ ho bạo tàn của thực dân Pháp.

Và với một vài dòng tả chân đó có đủ để làm một Nguyễn Thái Học trong thời gian ngắn mà kết tụ những nhân tài đi vào lịch sử để thực dân Pháp phải thốt lên rằng: ".....các giáo viên, các binh sĩ là hai cột trụ chống đỡ mái nhà Đông Dương. VNQDĐ đã làm lay chuyển hai cột ấy!.... Nguy hiểm nữa, là những kẻ được rủ rê, vào thì vào, không vào thì cũng không một ai đi tố cáo nhà đương cục.... Sự im lặng đó, khác nào đồng mưu!....."(Sđd tr 30).

Con người Nguyễn Thái Học đã gắn liền với non sông, đất nước, những lời nói của ông như một âm thanh vang vọng đến ngàn sau. Như một chân lý bất dịch cho lịch sử, có phải chăng đó là tiếng nói của những vong linh anh hùng dân tộc vọng về đã un đúc thành một nam nhi chí cả. Người thanh niên 27 tuổi này đã đem hết tâm lực để giải phóng tổ quốc khỏi ách xích xiềng của thực dân bạo tàn.

Thế rồi đứng trước phong ba bão táp, NGƯỜI đã chọn lựa lấy "máu" làm nên lịch sử: Tổng Khởi Nghĩa ngày 10 tháng 02 năm 1930, đánh đuổi thực dân Pháp trong danh ngôn "không thành công, thì thành nhân" - Theo Nhượng Tống, người trong cuộc thì câu nói này cả là một triết lý sống của con người! Thế mà ngày nay, kẻ địch đôi khi bôi nhọ, xuyên tạc danh ngôn ấy!

Trước ngả đường quyết liệt con người có những chọn lựa, nhưng chọn lựa ấy phải xứng đáng. "Không thành công, thì thành nhân" là một chọn lựa sáng suốt để làm nên lịch sử, bởi vì lịch sử là gồm nhiều thế hệ nối tiếp: quá khứ, hiện tại và tương lai. Thời ấy, khi các binh đội cách mạng, một lực lượng chủ lực của Đảng, bị tên Đội Dương tạo phản nên bị bắt gần hết, liên tiếp mấy nơi chế bom bi bại lộ, và các đảng viên VNQDĐ bị bố ráp rất ráo riết. Các cấp lãnh đạo ngày đêm bị mật thám theo dõi và nhiều lần bị bắt hụt, cho nên đã biết rằng chúng ta đang đứng trước ở chỗ thua mất rồi! Thế nhưng nếu không quyết định Tổng Khởi Nghĩa, nếu âm thầm tiếp tục tổ chức Đảng rồi có đánh được không? Không thể được! Cuộc đời là một canh bạc! Những canh bạc đen, người ta có thể thua hết vốn! Gặp thời thế không chìu mình, Đảng có thể tiêu mòn hết lực lượng. Mỗi khi lòng sợ sệt đã đi vào trong đầu óc quần chúng, khiến họ mất nhuệ khí, hết tin tưởng, thì phong trào cách mạng có thể nguội như bếp tro tàn! Rồi của cũng không tiếp! Rồi người sẽ bị bắt dần! Tù đày đưa anh em vào cái chết lạnh lùng, mòn mỏi, tủi nhục nơi các ngục tù, nhà lao của giặc. Thà rằng để anh em vào cái chết oanh liệt, nồng nàn ở trên chiến địa! Chết đi! để thế giới biết cái tinh thần dân tộc này đang sống! Chết đi! để lại cái gương hy sinh, phấn đấu cho người nối bước!

"KHÔNG THÀNH CÔNG, THÌ THÀNH NHÂN"

Đó là cái nhân cách mạng, cái ý nghĩa chua cay nhưng quả quyết của các nhà lãnh đạo Việt Nam Quốc Dân Đảng thời bấy giờ. Tập trung nỗ lực làm một cuốc tổng tấn công vào ngày 10/02/1930. Tin ở quá khứ, tin ở tương lai, tin ở các anh em sống sót sẽ nối được chí, nối được việc của mình. Nhượng Tống viết tiếp "Các Anh với cặp mắt đổ lửa, với trái tim bốc lửa, với cái hoàn cảnh lửa đốt dầu, đã quyết đem tính mệnh mà đến ơn Đảng, đền ơn Nước, đền ơn tri ngộ của Quốc Dân. Nói tóm lại các Anh đã chọn lấy cái chết của con NGƯỜI (người viết hoa). Ấy tinh thần trách nhiệm ở phương Đông là thế"( sđd tr. 68)

Thế là Nguyễn Thái Học ra đi bởi những câu lưu lại cho đời sau như một di ngôn lịch sử: "chúng tôi chắc đi chết đây! các anh sống lại, cứ công nào việc ấy nhé! cờ độc lập phải nhuộm bằng máu! Hoa tự do phải tưới bằng máu! Tổ quốc còn cần đến đến sự hy sinh của con dân nhiều nữa! Nhiều nữa! Rối thế nào cách mệnh cũng có ngày thành công!" Trên đường ra pháp trường Yên Bái, NGƯỜI còn khẳng khái ngâm thơ:

"Chết vì tổ quốc,

Cái chết vinh quang!

Lòng ta sung sướng!

Trí ta nhẹ nhàng!..."

Để rồi rạng sáng mờ sương ngày 17 tháng 6 năm 1930, NGƯỜI nhìn đồng bào thân yêu lần cuối với tiếng hô "Việt Nam Muôn Năm" trước khi đầu rời khỏi cổ. Thân xác NGƯỜI vĩnh viễn ra đi vào lòng đất Mẹ và tên NGƯỜI - Nguyễn Thái Học sống mãi trong lòng dân tộc Việt Nam.

Nguyễn Thái Học, ngôi sao ngời sáng, sớm rời trần thế bay vút lên cao. Nguyễn Thái Học một lãnh tụ tầm cỡ của lịch sử cận đại. NGƯỜI là một ngôi sao nhưng xung quanh NGƯỜI là những bó đuốc thần vĩ đại. NGƯỜI là một ngôi sao, nhưng không có những bó đuốc thần thì làm sao NGƯỜI trở thành lãnh tụ lỗi lạc được. Vì châm ngôn của tổ chức là "cán bộ tạo nên lãnh đạo". Khi đọc Nguyễn Thái Học của Nhượng Tống thấy những bó đuốc thần cách mạng VNQDĐ năm 1930, lòng tôi rạo rực, máu nóng cuồng lưu, và cũng có lúc ai oán cho kiếp phù sinh:

Ký Con! lãnh đạo Đoàn Ám Sát của Đảng, chiếc chìa khóa giữ thân xác Đảng được trong sạch, người quét dọn những thành phần tạo phản. Tên anh là Đoàn Trần Nghiệp năm 19 tuổi anh vào Học Sinh Đoàn. Khi Đảng mở khách sạn kinh tài thì anh làm thư ký giữ kho vì vậy nên NGƯỜI ta gọi đùa là "cậu Ký con". Trong Đảng anh có bí danh là Doãn, anh còn có biệt danh là Hiệp Sĩ trong Đoàn Ám Sát của Đảng. Theo Nhượng Tống về Ký Con-Đoàn Trần Nghiệp thì: "người anh dong dỏng cao, da trắng xanh, miệng luôn luôn như cười, hai môi đỏ như son. Mặt trái xoan, trán cao và hẹp, tỏ ra là người thích thực hành. Mắt sáng và nhanh, có vẽ hiền hơn là dữ tợn. Trong các kỳ họp Hội Đồng, tôi chưa từng nghe anh nói. Anh cười nhiều hơn nói. Con người ấy sống bên trong nhiều hơn ngoài. Xin chớ ai lầm Hiệp Sĩ của chúng ta là kẻ "ăn thịt người không tanh". Đó là một người ôm ấp mốt lý tưởng cao siêu, không chịu nổi ở đời những cái gì nhỏ nhen, là nhơ bẩn, là đê hèn, là khốn nạn" (sđd tr. 80). Chàng thanh niên 19 tuổi bạch diện thư sinh này đã "xử tội" rất nhiều tay phản đảng không giữ lời thề. Không một nhiệm vụ khó khăn nào mà anh không hoàn thành, anh đã làm cho bọn thực dân Pháp và bọn tay sai ngày đêm lo lắng, run sợ. Huyền thoại về Ký Con rất nhiều, hình như con người anh là một chuỗi bí ẩn. Đồng chí của anh thì cho rằng "Trong Anh lẩn quất biết bao nhiêu bậc chí nhân, thánh nhân như lời Trang Tử dạy: không cầu công, không cầu danh, vì không biết có mình". Ký Con - Đoàn Trần Nghiệp Anh là ngọn đuốc vĩ đại bên vì tinh tú Nguyễn Thái Học.

Phó Đức Chính, tốt nghiệp Công Chánh được bổ nhiệm sang làm việc ở Lào. Năm 1929 việc Đảng bi tiết lộ, anh bị bắt từ Lào về, sau thấy anh còn trẻ nên được tha. Khi ra tù anh trở về quê quán trả hết những món kỷ niệm cho vị hôn thê là cô Thắm ở Thanh Hóa để rãnh tay trên đường hoạt động cách mạng. Anh người trầm tĩnh, hành động nhiều hơn nói, đời anh là một chuỗi lý tưởng tuyệt vời, chỉ tròn 20 tuổi nhưng Anh luôn bên cạnh Đảng Trưởng và cụ Xứ Nhu trong nhiệm vụ tổ chức Đảng. Anh lo lắng cho tổ chức và cách mạng đến nỗi có lần bị ám sát, viên đạn còn trong ngực mà anh không có thì giờ để mổ mà lấy ra, và viên đạn đó đã theo anh ra pháp trường Yên Bái và cùng anh xuống chốn tuyền đài. Với vai trò của cán bộ tổ chức, xương sống của Đảng, ngày đêm anh chăm chú ươm mồng cho Đảng như người mẹ ươm con. Ôi tinh thần cách mạng tuyệt vời! Coi đau thương của dân tộc hơn cái đau của mình; Xem cái chết nhẹ tựa lông hồng. Trước tòa án quân cướp Pháp, Chủ tịch đề hình hỏi anh xin chống án không. Anh cười:

"Đời con người ta làm có một việc, hỏng cả một việc, sống nữa làm chi?"

Và anh là NGƯỜI xin nằm ngửa để nhìn thấy máy chém rơi xuống tại pháp trường Yên Bái. "Tính ra anh ở đời khoảng 21 năm thôi. Thế nhưng tôi tin rằng linh hồn Anh đã hòa hợp với Quốc Hồn và cùng non sông cùng thọ" (Sđd, tr. 85). Phó Đức Chính, Anh là một ngọn đuốc sáng ngời bên vì sao lịch sử Nguyễn Thái Học.

Ngô Hải Hoàng, còn gọi là Cai Hoàng (làm Cai trong lính Lê Dương), quê ở Nghệ An, Anh là người chỉ huy trong việc đánh Yên Bái. Hãy nghe đoạn đối đáp giữa nơi tử thần của sĩ cách mạng VNQDĐ Ngô Hải Hoàng và tên Chánh Hội Đồng Đề Hình Yên Bái của thực dân Pháp để đánh giá hùng khí cách mạng của Anh:

- Hỏi: Tại sao anh đánh Yên Bái?

- Anh đáp: Không phải tôi đánh, mà là Trung Ương Đảng Bộ hạ lệnh tôi đánh. Các ông còn lạ gì kỷ luật của Đảng tôi; không phục tòng mệnh lệnh, Đảng xử tử! Đánh với các ông thua ra đi nữa, cũng đến xử tử là cùng!

- Hỏi: Anh thật là người vô ơn! ông quan ba (đại úy) Dua-đanh là quan thầy tử tế với anh, vậy mà đêm ấy, anh bắn chết ông ta trước nhất?

- Anh đáp: Ông Dua-đanh tử tế với tôi thật, nhưng đó là tình riêng. Còn tôi giết ông ta là bổn phận đồi với Đảng, với Nước. Người Việt Nam chúng tôi thì lúc nào cũng đặt nghĩa công lên trên tình riêng.

- Hỏi: Anh thật là hạng người tàn ác. Một mình anh đêm ấy đã giết chết sáu người Tây?

- Anh đáp: Tôi làm gì giết nhiều đến thế! Anh em tôi giết nữa chứ! Thế nhưng cả Đảng chúng tôi, chỉ có một người, anh em tôi giết cũng chính là tôi giết. Tôi sẵn sàng chịu hoàn toàn trách nhiệm! (Sđd tr. 90)

Nhà cách mạng Ngô Hải Hoàng được vinh dự thay Đảng để đền nợ nước ngày 16 tháng 6 năm 1930 tại Yên Bái (trước đảng trưởng Nguyễn Thái Học một ngày). Ngô Hải Hoàng, Anh là ngọn đuốc thần bên vì sao lịch sử Nguyễn Thái Học!

Những hình ảnh tiêu biểu của hàng ngàn ngọn đuốc xung quanh đảng trưởng VNQDĐ đã làm nên trang sử oai hùng lẫm liệt của Đảng, tuy nhiên thế hệ VNQDĐ năm 1930 không dừng lại ở đó mà còn những đảng viên, - vâng chỉ là một đảng viên - mà tinh thần trách nhiệm cao hơn núi, nghĩa đồng bào rộng như biển, và lòng trung kiên sâu hơn cả ngàn khơi. Hãy nghe Nhượng Tống kể một đoạn về tinh thần trách nhiệm của đảng viên cách mạng thời ấy: "Anh Độ, một công nhân ở Hải Phòng sau qua làm ở Lào. Nghe tin đảng sắp động binh, trong túi không sẵn một đồng tiền nên anh đã chứa một đãy gạo rang, rồi đi xuyên sơn mà về Bắc. Anh đi trong rừng, nhiều chỗ không có đường lối. Anh cứ theo sát mặt trời về hướng Đông mà đi mãi. Mấy ngày sau gạo hết, anh tìm ăn những trái cây, các thứ củ trong rừng. Ăn no bụng rồi lại đi... Đêm thì trèo lên cây để ngủ! Ròng rã mười bảy ngày như thế, anh mới đến Hòa Bình! Khi anh về đến Bắc thì việc Yên Bái đả thất bại rồi!(Sđd tr. 93). Anh Độ tình nguyên vào Đoàn Ám Sát của Đảng và sinh hoạt trong Cơ Quan Hàng Bột cùng với nữ đồng chí Nguyễn Thị Tâm và Nguyễn Thị Vân và hai đồng chí nữa. Đây là một chi bộ ám sát để lấy lại sinh khí cách mạng, giữ vững tinh thần anh em sau khi Tổng Khởi Nghĩa đã thất bại. Đồng thời làm công tác chế bom đạn và dấu vũ khí. Ngày 2 tháng 3 năm 1930 cơ sở bị bọn mật thám Tây vây bắt. Chị Tâm đã nổ súng và ném bom giết hai tên lính Tây, chúng huy động lực lượng bắn trả và giết chết hai người. Còn ba đồng chí là anh Độ, chị Tâm và chị Vân bị bắt.

"Chị Tâm bị chúng lột trần truồng. rồi nắm tóc mà quật vào tường nhu chúng vật một con chuột! Chán rồi, chúng xích tay chị lại, và cùm xuống nhà giam. Đêm ấy chị nuốt dải yếm cho tắc hơi. mà về dưới hạ đài! Lúc chúng rút giải ướm trong mồm chị ra, thấy họng đầy những máu. Năm ấy chị mới mười tám tuổi"( Sđd tr. 94)

Người đồng chí của chị trong chi bộ này là Nguyễn Thị Vân cùng vào Đoàn Học Sinh với chị Tâm rồi đổi sang Đoàn Ám Sát của Đảng. Với tuổi 16 nhưng đau trước cái nhục mất nước, lòng yêu nước, thương nòi đã tô bồi cho chị Vân một tinh thần cách mạng son sắc, trong khi bị tra tấn chị đốp chát vào mặc bọn thực dân cướp nước:

Hỏi: "Mày vào Đảng để làm gì?"

Chị đáp: "Để lấy lại quyền độc lập cho Tổ Quốc"

Hỏi: "Mày đã làm gì trong Đảng?"

Chị đáp: "Hồi trước thì may cờ, khâu binh phục cho các đồng chí. Bây giờ thì tập bắn súng, học nghề chế bom, để giết quân phản Đảng mà cứu lấy đồng bào!"

Hỏi: Ai rủ mày vào? Chi bộ mày có những ai?

Chị đáp:"Chị Tâm rủ tao vào, chi bộ tao có bốn người thì chúng mày giết chết ba rồi!"

Còn anh Độ thì chúng tha hồ tra tấn, đánh đập nhưng anh không hề hở môi dù chỉ một lời, thậm chí bọn mật thám không biết tên anh là gì nữa. Sau chúng cho bọn tù hình sự nhận diện anh, một tên tù nói rằng "khi xưa anh này ở Hải Phòng, vẫn thấy gọi là Độ"... sau này người ta gọi tên anh là Độ chứ không ai biết tên thật của anh là gì.

Anh Độ bị xử tù khổ khai chung thân, trong ngục tù anh có hai cái can đảm lạ thường: Nhịn ăn để chống đối cai tù, có lần anh nhịn đến 22 ngày, người chỉ còn da bọc xương! các đồng chí van lạy anh mới ăn. "Khi ăn thì anh đã lấy lại sức ngay và nước da hồng hào, mịn màng như đứa bé còn bú sữa" (sđd tr. 95). Và cái can đảm thứ hai là cứ mỗi lần thấy đồng chí mình bị sa sút tinh thần thì anh trêu chọc cai tù đánh anh để đồng chí mình thấy đó căm tức mà lấy lại tinh thần.

Bọn mật thám Tây chưa chịu rời bỏ Cơ Sở Hàng Bột, mà ngày đêm rình rập để xem ai còn bén mãn đó không để hốt gọn: Sớm hôm sau chúng bắt được một bà già tay cắp cặp, đâu xe trước cửa cơ quan. Trong cặp có ba khẩu súng lục và hơn tám trăm đồng, là hai món quà bà đem tặng cho Đoàn Ám Sát!(Sđd tr. 95). Mẹ già ấy tức là bà Chánh Toại, sau khi vào trong tù, những người nữ tù đều gọi là mẹ! Một bà mẹ đã làm vẻ vang cho giới phụ nữ đất Bắc. Bà đã làm giàu bằng cách buôn súng lậu. Từ khi có Đảng bà đã dùng cái nghề buôn súng cùng gia tài của bà giúp một cách đắc lực và tận tâm cho anh em trong Đoàn Ám Sát của Đảng.

Chị Tâm, chị Vân, anh Độ, bà Chánh Toại..... là những chiến sĩ cách mạng vô danh, những tấm lòng cao quý, linh hồn các vị còn phảng phất đâu đây trong những chuyển biến lịch sử.

Một NGƯỜI, tôi không biết nên gọi là ngọn đuốc hay vì sao bên vì tinh tú Nguyễn Thái Học, theo Nhượng Tống thì đây là "một đảng viên mà nhà đương cuộc cho là còn có công tuyên truyền cho Đảng hơn anh Học" (Sđd tr. 101). Người mà học giả Nhượng Tống giành một chương kính cẩn với lời xưng tụng vô cùng thân mật và kính mến: Chị Giang, người đời ca tụng còn gọi là Cô Giang, người làm một "thiên tình sử" trong cuộc đời cách mạng của Nguyễn Thái Học. Một cuộc tình sắt son giữa hai tâm hồn cách mạng nồng cháy lồng trong ý nghĩa của danh ngôn "yêu nhau không phải ngồi nhìn nhau và cùng nhau đi về một chí hướng". Cô Giang, tên thật Nguyễn Thị Giang, sinh năm 1906, kém Nguyễn Thái Học 4 tuổi, trước đây sinh hoạt trong tổ chức của cụ Xứ Nhu ở Bắc Giang, sau khi tổ chức cụ Xứ Nhu hợp với VNQDĐ thì Cô Giang trở thành đảng viên VNQDĐ. Đây là một trường hợp ngoại lệ vì VNQDĐ thời bấy giờ không thâu nạp phái nữ. Nhưng trường hợp ngoại lệ này đã tạo nên một anh hùng nữ lưu nước Việt. Không phải như những mối tình thường thấy trên thế gian này, dùng lưu luyến, ái ân làm nền tảng cho "tình yêu". Chúng ta hãy quay lại một đoạn đời hoạt động cách mạng của Cô Giang mà đánh giá trị "thiên tình sử" này.

Một buổi họp trong ban lãnh đạo bàn công tác, Nguyễn Thái Học nói:

"Đảng chúng ta cần có sự tham gia của binh lính thì sau này mới có thể tính việc khởi nghĩa. Anh truyền lệnh cho em (Cô Giang) phải lôi kéo được viên Quản hoặc viên đội Nhất, đội Nhì có uy tín trong lính khố xanh để họ gia nhập Đảng ta. Và chính họ, chứ không ai khác, sẽ làm công việc đưa toàn bộ binh sĩ của họ gia nhập vào Đảng. Đây là một việc rất gian khó. Em có làm được không?

Cô Giang thưa:

"Anh là đảng trưởng, anh ra lệnh thì em xin chấp hành tuyệt đối"

Nguyễn Thái Học nhìn lên trời xanh, nhả khói thuốc bay và trầm ngâm nói:

"Anh lấy tư cách là đảng trưởng giao phó cho em công tác sau đây: Trong vòng ba tháng em phải lôi kéo cho bằng được đồn lính khố xanh Yên Bái gia nhập Đảng ta. Suốt thời gian công tác em không được liên lạc với anh, bất cứ nơi nào"

Cô Giang mỉm cười và trả lời cương quyết "Em xin tuân lệnh"

Trước khi chia tay: Nguyễn Thái Học nói tiếp:

"Nhiệm vụ này chỉ có em mới thực hiện được đó nhé! Phải có lính khố xanh, khố đỏ được giác ngộ thì họ sẽ là một lực lượng nội ứng khi chúng ta tiến hành cuộc tổng khởi nghĩa. Khẩu súng lúc anh trao cho em thì em phải gìn giữ cẩn thận để phòng lúc bất trắc..."

Cô Giang trả lời trong sự bịn rịn chia tay:

"Vâng, em đã thông suốt nhiệm vụ của Đảng giao phó, riêng về khẩu súng này thì em xem như vật đính hôn của chúng ta"

Vì nghĩa vụ đối với Đảng, với tổ quốc mà tạm gác tình riêng, tạm quên sự lưu luyến, để đêm đêm đồng chí Nguyễn Thị Giang giả làm cô "bán mía lùi" mà vận động các bính lính, cai đội trong các trại lính Lê Dương về phe cách mạng. Bất chấp cả sương đêm, giá buốt mùa đông miền Bắc, không sờn hiểm nguy, chị nhẫn nhục kiên chì dùng mưu lược mà chuyển hóa lòng người, gây tinh thần yêu nước cho kẻ lầm đường. Phải! Vạn vinh quang từ cổ chí kim, có ai nhận sau những lần sung sướng! Cô Giang, người chiến sĩ cách mạng Việt Quốc đã nằm gai, nếm mật quanh các trại lính Lê Dương và đã giác ngộ bao nhiêu tâm hồn trở về trong lòng dân tộc. Từ Cai Hoàng trong đội lính Lê Dương phản quốc, được giác ngộ trở thành ngọn đuốc thần cách mạng, và còn bao ngàn người nữa... đó là do tài tình, sáng tạo và mưu lược vận động của nữ đồng chí Nguyễn Thị Giang. Vinh quang thay, người nữ chiến sĩ cách mạng Việt Quốc.

Trời không bao giờ chìu lòng người, có ai được thỏa mãn vẹn toàn nợ nước, tình riêng. Cuộc tình gãy cánh Cô Giang-Nguyễn Thái Học đã ghi lại mối tình sử với bao nhiêu lòng ngưỡng mộ. Ngày Nguyễn Thái Học ra Pháp Trường Yên Bái đền nợ nước, Cô Giang núp trong đám người đứng xem, giấu kín nỗi đau như cắt trong lòng chứng kiến người yêu của mình bước lên máy chém. Rồi lẩn thẩn trở về mà giữ trọn lời thề ở đền Hùng. Trai đã trung thì gái phải trinh, hai chữ trung trinh dâng trọn cho nước cho đời. Những dòng chữ sau cùng chấm dứt cuộc tình sử vừa lãng mạn vừa bi hùng bởi những dòng thơ đoạn tuyệt mà Chị Giang đã viết cho anh Học:

"Anh đã là người yêu nước! Không làm tròn nghĩa vụ cứu nước, anh giữ lấy tấm linh hồn cao cả để về mà chiêu binh, rèn lính ở suối vàng!

Phải chịu đựng nhục nhã, mới có ngày mong được vẻ vang! Các bạn đồng chí phải sống lại sau Anh, để đánh đổ cường quyền, mà cứu lấy đồng bào đau khổ!"

Rồi chị dùng khẩu súng lục mà Nguyễn Thái Học tặng để kết liễu cuộc đời vào ngày 18/06/1930.

Nguyễn thái Học, Phó Đức Chính, Cô Giang, Ký Con, Xứ Nhu.... tên NGƯỜI được trải rộng trên trên các nẻo đường Việt Nam! Cả thù lẫn bạn, từ thế hệ quá khứ, hiện tại và tường lai đều ca ngợi, quý trọng và tôn vinh!

Phải nhìn thấy những ánh sáng để vươn cao, phải tự nhìn bản thân mình mà luận giải. Là một đảng viên VNQDĐ, nối gót theo lý tưởng của NGƯỜI ta phải làm gì cho xứng đáng.

Mùa Xuân năm 2005

Lê Thành Nhân

Tình chiến hữu & Tác phong người Lính











(Xin kính tặng những người đã từng khoác áo chiến binh)

Thiên Minh

Sau 42 năm được ghi nhận là mất tích trong cuộc chiến Việt Nam, cuối cùng thì thi thể của hai quân nhân Úc là binh nhì Peter Gillson (20 tuổi), và trung sĩ Richard Parker (24 tuổi) đã được tìm thấy và đưa trở lại quê nhà (Australia) để an táng trong tuần qua. Ðây quả thật là một tin vui ngoài sức mong đợi… không những cho gia đình, cho đất nước mà còn cho những đồng đội cũ của hai anh. Ðược biết hai chiến sĩ này đã hy sinh vào ngày 8 tháng 11 năm 1965 trong một trận giao tranh tại Biên Hòa (của gần 42 năm về trước).

Phải nói rằng thời gian qua là một chuỗi ngày dài so với một đời người, nó gần như là gấp đôi tuổi đời của hai anh (lúc hy sinh) là 20 và 24 tuổi. Như vậy thì 42 năm quả là một thời gian quá lâu mà thân thể các anh đã nằm lại “vất vưởng” ở một chiến địa xa xôi, không người biết đến. Có lẽ cũng chính vì nghĩ đến điều này, nên các đồng đội của hai anh luôn cảm thấy ray rứt và tâm trạng không được yên lòng. Do đó họ đã quyết tâm bằng những nổ lực không ngừng tìm kiếm trong suốt thời gian qua, hầu mang các anh trở về… để được “yên nghỉ ngàn thu” trong lòng đất mẹ.

Chính những tấm lòng này đã thể hiện được tinh thần đồng đội của người lính năm xưa. Ngày nay mặc dù tuổi đời của họ càng cao, nhưng họ vẫn “một lòng” và không quên những người đã chết. Theo lời kể (với đài phát thanh ABC) thì một đồng đội cũ là trung đội trưởng Trevor Hagan đã tính từng ngày. Ông cho biết là tính đến bây giờ thì đã 15,151 ngày… từ cái ngày mà hai đồng đội của họ hy sinh. Ông cho biết thêm, là lần này trở lại VN để mang hai người bạn trở về thì đó là một trong những điều rất có ý nghĩa đối với ông. Nghe nói, ngày đó dù biết rằng đồng đội đã hy sinh, nhưng vì chiến trận quá ác liệt và căng thẳng nên những người lính Úc đành phải miễn cưỡng rút lui theo lịnh của cấp trên. Họ biết rằng đồng đội của họ vẫn còn nằm lại nơi chiến trường. Và họ đã không bao giờ lãng quên từ ngày đó cho đến hôm nay (là ngày mà thi thể của hai người lính ấy đã được tìm thấy và mang trở lại quê nhà)….


oOo

Vào hai tuần trước sau khi chiếc phi cơ Hercules của không lực Úc từ Hà Nội về đến Darwin, thì quan tài của hai anh đã được khiêng ngang qua đoàn quân danh dự trước sự chứng kiếng trong ngấn lệ của những người thân, viên chức, và hàng trăm cựu chiến binh Úc đã từng tham chiến ở Việt Nam. Mọi người nhìn thấy quan tài của hai anh có phủ lá quốc kỳ Úc được xếp chéo góc, bên cạnh là lẵng hoa, cùng với một “chiếc nón nỉ” truyền thống của quân đội Úc với vành mũ bẻ cong.

Nhân dịp này, bộ trưởng Cựu Chiến Binh Úc, ông Bruce Billson đã nói:

- “Ðồng đội đã hy sinh, trận chiến đã qua đi nhưng những người lính vẫn mang trên vai họ một hành trang nặng trĩu không lúc nào ngơi. Ðó là một sự lo lắng cho những đồng đội chưa trở về, nó giống như là một “túi ba lô” không nhìn thấy, không tưởng tượng chất chứa một sự giao dịch … chưa hoàn thành”.

(Mates lost; battles passed. But soldiers carried the weight and worry, without respite, of an invisble and unimaginable ‘backpack’, of unfinished business, of mates not returned).

Khi đề cập đến sự quan tâm của quốc gia dành cho những người chiến sĩ đã một lần ra đi không bao giờ trở lại, ông Billson nói tiếp:

- “Sự biết ơn của một quốc gia là tiếp tục bổn phận của mình và trách nhiệm đạo đức đối với những người đã đáp lời kêu gọi và đền nợ nước với núi sông.

Hơn 4 thập niên qua rất nhiều câu chuyện đã được ghi chép nhưng vẫn chưa hoàn thành. Ðó là một chương mà phần lớn đã được viết ra bởi những cảm xúc mạnh mẽ, bởi sự say mê, và bởi lòng-dạ kiên-trì của tình chiến-hữu với nhau. Họ không bao giờ bỏ cuộc và hiếm khi để một ngày trôi qua mà không nhớ đến và quyết tâm cho mục đích cao cả của mình”.

(A grateful nation carries forward its special duty and moral obligation to those who have done all that their country asked of them and in doing so, paid the ultimate price.

For more than four decades, much of this story has been largely settled, yet incomplete. The chapter largely penned by the passion and perseverance of mates who never gave up and rarely let a day escape without remembering and recommitting to their goal).

Cuối cùng ông Billson kết luận:

- “Như vậy ngày hôm nay một chương mới mà cũng là một chương sau cùng về câu chuyện của trung sĩ Parker và binh nhì Gillson. Câu chuyện này sẽ được cập nhật thêm nhiều nữa…

Thôi thì… hãy để chương cuối đó được đọc và ghi chép thế này: Hai người chiến sĩ gan dạ đã hy sinh, luôn trẻ mãi và không bao giờ bị lãng quên. Họ đã được tìm thấy, đưa trở lại quê nhà (bằng sự) tương xứng với phẩm chất cao quý trong vòng tay của tình chiến hữu với nhau. Họ trở về với những người họ yêu thương và những người yêu thương họ. Xin hãy vinh danh và đưa họ đến nơi an nghỉ sau cùng bởi một quốc gia còn nhớ ơn của họ.

Cuối cùng thì họ đã trở về và luôn được mãi mãi ghi công”.

(So today, the new chapter, the final chapter of the story of Lance Corporal Parker and Private Gillson, begins to be written.

Let the final chapter read and record: two brave servicemen lost; now forever young; never forgotten; found, recovered and repatriated with great care and dignity; carried home by the hands of mateship; returned to those who love and were loved; honoured and laid to rest by a grateful nation; home at last, always remembered).

Tang lễ của anh Richard Parker diễn ra ngày thứ Ba 12 tháng 6 năm 2007 tại Woden, thủ đô Canberra (Úc). Và tang lễ của anh Peter Gillson đã được tổ chức tại nghĩa trang Fawkner vào thứ Sáu 15 tháng 6 năm 2007 ở Melbourne. Nhân dịp này thủ tướng John Howard đã nói:

- Câu chuyện tìm kiếm trung sĩ Parker và binh nhì Gillson là một trong những điều cao quý của tình chiến hữu, sự bền chí và hy sinh. Ðó cũng chính là điều tốt đẹp nhất của truyền thống Anzac.

("The story of the search for Lance Corporal Parker and Private Gillson is one of great mateship, perseverance and sacrifice in the best of the Anzac tradition," Mr Howard said).

Ðược biết Ban Chấp hành Cộng Ðồng Người Việt Tự Do ở Melbourne đã ra một thông báo về việc tham dự lễ an táng của chiến binh Peter Gillson. Ðây cũng là dịp để cộng đồng người Việt bày tỏ lòng tri ân sâu xa đến gia đình của người lính Úc đã chết trong chiến cuộc Việt Nam, cũng như đối với quân đội Hoàng gia Úc. Riêng tang lễ của chiến binh Richard Parker tại Canberra thì cũng có một số đồng hương Việt Nam tham dự (theo tính cách cá nhân) để tỏ lòng tri ân cùng những người đồng minh ngày trước.

Khi nghe được tin này là người Việt Nam chắc chúng ta không khỏi bùi ngùi và cảm phục trước tình chiến hữu của những người lính Úc đã từng phục vụ, chiến đấu và bảo vệ đất nước chúng ta. Càng cảm động hơn là khi biết thi hài của họ đã được tìm thấy sau gần 42 năm bị vùi thây nơi chiến địa cũng chỉ vì một mục đích là bảo vệ lý tưởng tự do. Khi nói lên điều này chắc hẳn chúng ta khó lòng quên ơn những người đã từng là đồng minh có cùng chung chiến tuyến. Ðặc biệt là quân đội Úc nói riêng, cũng như đất nước Úc nói chung. Chính quân đội đó là đồng minh ngày trước của quân lực Việt Nam Cộng Hòa, và đất nước đó chính là quê hương thứ hai của hơn 200 ngàn người Việt Nam hiện tại.


oOo


Năm nay nhân dịp ngày Quân lực 19 tháng 6 lại đến, và sẵn dịp nói đến tình chiến binh, chúng tôi cũng xin phép (một lần nữa) ghi lại đôi dòng về đề tài “Tác phong người Lính” mà có lẽ nhiều kỷ niệm vẫn còn lưu lại trong lòng của những người chiến sĩ năm xưa…

Cách đây không lâu trong lúc đi ăn trưa tình cờ chúng tôi nhìn thấy hai người lính Úc chào nhau trên đường phố Sydney. Hình ảnh này đã thực sự làm tôi cảm kích. Không những thế, nó còn gợi cho tôi… nhớ lại những hình ảnh tương tự ngày xưa (lúc tôi còn nhỏ ở quê nhà). Có lẽ tôi luôn ngưỡng mộ những “tác phong” cao đẹp này của người Lính, mặc dù trong đời mình… tôi chưa một lần nào… được “chào nhau” như thế. Lý do, vì khi tôi và các bạn của tôi lớn lên, thì cuộc chiến ở quê hương đã tàn. Nên “đời chiến binh” chúng tôi chưa hề trải qua, hay… được một lần tham dự.

Có lẽ từ sự cảm nhận đó ở trong lòng, nên hình ảnh ngày hôm ấy đã gây cho tôi rất nhiều ấn tượng. Một điều thú vị nữa, là không phải chỉ riêng chúng tôi, mà còn có vài người qua đường khác. Họ cũng dành cho hai người lính này với một cái nhìn đầy thiện cảm như nhau. Ðiều đáng nói ở đây là thái độ “tự nhiên” của hai người người lính Úc… lúc họ chào nhau. Tôi thấy họ thể hiện hành động ấy như là một thói quen, một sự tôn trọng, một sự kính nể dành cho đồng đội. Nói chung, đó là một “tác phong” nghiêm chỉnh… rất đổi nhà binh. Bởi thế, họ không hề tỏ ra một điều gì gọi là “gượng ép”. Nhìn cảnh đó tôi tự nhủ trong lòng, đúng là tác phong của những người lính chiến! Tôi hiểu, là ngoài trách nhiệm được giao phó để thi hành, họ còn luôn nghĩ đến đồng đội, đến tình chiến hữu. Bởi vì mai này, nếu có ra ngoài chiến trận, thì chính họ sẽ là những người cùng sống chết bên nhau…


oOo

Nhớ lại ngày lễ Anzac hàng năm. Ðây được xem như là ngày quân lực Úc. Từ rạng sáng hừng đông (dawn service) mọi người đã tề tựu về những tượng đài chiến sĩ để làm lễ truy điệu, và sau đó là đến phần diễn hành truyền thống như mọi năm. Không phải chỉ một nơi mà hầu như ở khắp mọi miền đất nước (Úc) cũng đều diễn ra như thế. Ðặc biệt là những cuộc tưởng niệm này còn lan rộng đến những quốc gia mà quân đội Úc đã từng tham chiến ngày xưa. Trong số đó phải kể đến bờ biển Gallipoli ở tận bên xứ Thỗ Nhĩ Kỳ. Nơi đây đã đánh dấu trận đổ bộ của quân đội Úc và Tân Tây Lan vào buổi rạng sáng ngày 25 tháng 4 năm 1915 lịch sữ. Rồi đến những quốc gia khác như Singapore, Philipines, Ðại Hàn, East Timo, Indonesia, Irag, Afganistan… và ngay cả Việt Nam tại vùng Long Tân (ngoài Vũng Tàu – nơi có căn cứ ngày xưa) người Úc cũng có đến đây để cử hành ngày Anzac.

Riêng tại Sydney thì như mọi năm, cuộc diễn hành đều có rất nhiều người tham dự và được truyền hình trực tiếp từ sáng đến trưa. Từ quân đội Úc bao gồm các ngành, các cấp cho đến lực lượng đồng minh (các nước) đều có tham gia. Từ già đến trẻ, từ cựu chiến binh đến những người còn đang tại ngũ. Chúng tôi thấy trên gương mặt họ luôn thoáng hiện nét hân hoan, cùng lòng tự hào về tác phong người lính (oai nghiêm và dũng cảm). Có người mặc dù giờ đây thân thể đã già, nhưng ánh mắt vẫn còn lộ nét tinh anh, và tinh thần vẫn còn minh mẩn. Ðây là những dịp để họ cùng đồng đội ngày nào được họp mặt với nhau, và nhất là được ôn lại những kỷ niệm của một thời xa xưa họ đã từng là người lính.

Và thật hãnh diện làm sao khi trong đoàn người diễn hành đó, còn có sự tham dự của những người lính Việt Nam Cộng Hòa. Giờ đây họ đang sinh sống trên quê hương mới này… và được công nhận là đồng minh, là cựu chiến binh của những người lính Úc. Trong cuộc diễn hành ngày Anzac hàng năm, họ luôn thể hiện tinh thần đồng đội và sự hợp tác đồng minh… để cùng tham dự. Mặc dù vậy, có lẽ qua ánh mắt hân hoan trong ngày Quân Lực Úc, những người lính Việt Nam ngày nào… chắc cũng không khỏi chạnh lòng nhớ về một tổ quốc xa xôi, về một ngày quân-lực 19 tháng 6 bất diệt thuở nào. Cũng như nhớ về một quân đội oai hùng mà họ đã từng là chiến sĩ. Bên cạnh đó họ còn có những đồng đội can trường, những cấp chỉ huy gương mẩu luôn nêu cao tác phong người lính… Ngày nay cho dù thời gian đã qua đi, nhưng có lẽ những truyền thống tốt đẹp kia vẫn còn in sâu trong lòng họ.


oOo

Chúng tôi luôn vững tin là như vậy, vì tác phong này chúng tôi đã được nhìn thấy từ lâu, từ những người lính chiến năm nào trên quê hương tôi (mặc dù khi xưa chúng tôi còn bé). Ngày xưa họ cũng “chào nhau” giống như hai người quân nhân Úc. Tuy nhiên có điều khác hơn là (ngày hôm nay) họ không còn mặc áo chiến binh để được chào nhau như thế nữa. Có người nói, là vì cuộc chiến đã tàn, nên cuộc đời binh nghiệp cũng không còn tồn tại nữa. Ðiều này thật sự có đúng hay không, nhất là mỗi khi đề cập đến tinh thần chiến binh, đến tác phong người Lính, đến kỷ niệm chiến trường, đến tình chiến hữu, đến những đồng đội hy sinh, và đến rất nhiều điều liên quan khác nữa...?!

Theo cảm nhận của chúng tôi, thì (hình như) tất cả những điều trên đã tạo nên một “spirit” thiêng liêng, một truyền thống oai hùng, một “linh hồn” sâu kính (sâu xa và kính trọng). Nên có thể nói, chúng đã khắc sâu trong lòng của những người chiến binh (kể cả bạn bè)… thì có lẽ muôn đời… vẫn là bất tử?! Ngày nay cho dù cuộc chiến thật sự có qua đi, hay có… “tàn” gì cũng được. Nhưng chắc chắn một điều… là hình ảnh đó, tác phong người Lính đó… vẫn còn đây, vẫn kiêu hãnh, vẫn tự hào, và vẫn lưu lại mãi trong tim của rất nhiều người… Vì họ đã từng một thời khoác chung màu áo trận.


oOo


Nhớ lại ngày xưa, ngay như hình ảnh của những người lính nghĩa quân chào cấp chỉ huy ở một đồn ấp xa xôi (gần ngôi trường ngày nào chúng tôi theo học) cũng khó làm cho chúng tôi quên được. Hầu như ngày đó mỗi lần thấy họ chào nhau là chúng tôi vẫn “khoái” chạy ra… và xem cho bằng được. Rồi có một lần trên đường đi học (tại một bến đò) chúng tôi đã chứng kiến cảnh một người quân nhân “đi theo” đồng đội của anh trong... “ngày trở về”. Khi đến nơi gặp lại gia đình bạn của anh, và trước lúc đò máy sang sông, thì anh lính này cũng đã đưa tay kính cẩn chào người bạn của anh trước khi từ biệt để trở lại đơn vị. Hành động này đã làm cho nhiều người chung quanh ngưỡng phục. Và càng cảm động hơn khi biết rằng người bạn của anh thì đang nằm yên trong quan tài giá lạnh. Tôi còn nhớ đó là một quan tài có lớp thiết bao bọc ở chung quanh, bên trên là lá cờ tổ quốc (có màu da vàng cùng ba dòng máu Việt của tổ tiên, của quê hương của ba miền Nam Trung Bắc). Nghe nói bạn của anh đã tử trận hơn 10 ngày qua, từ một chiến trường (vùng 1) xa xôi, nơi tuyến đầu lửa đạn.


oOo


Và có lẽ cũng chính vì một vài hình ảnh vừa nêu, đã khắc sâu vào tâm trí của nhiều người, nên dù thời gian có qua đi nhưng những “tác phong” này khó có thể… “tàn phai” theo ngày tháng? Nhất là trong lòng của những người đã từng tham gia chiến trận và mang thương tích trở về. Mặc dù ngày nay thân thể của các anh không còn nguyên vẹn nữa. Nhưng chúng tôi tin, là tác phong và niềm kiêu hãnh đó, vẫn sống mãi trong lòng các anh như những ngày xưa còn xông pha nơi lửa đạn. Nói đến điều này làm tôi liên tưởng đến hình ảnh của một người thương phế binh mà tôi có dịp cùng với nhiều đồng hương khác gởi tiền về giúp đỡ cho anh (qua trung gian của một vị nữ ân nhân giàu lòng bác ái). Trong lá thư (copy) của anh gởi sang mà tôi nhận được, thì ngoài những lời cám ơn, tôi còn thấy anh kèm theo tấm hình “oai phong” ngày nào, khi anh còn khoác áo chiến binh thời trai trẻ. Ðiều này đã nói lên tác phong người Lính ngày xưa thì vẫn còn sống mãi trong anh. Cho dù thân thể anh ngày nay có mang nhiều thương tật, nhưng anh vẫn hãnh diện về những kỷ niệm ngày nào. Mặc dù chỉ qua một tấm ảnh đơn sơ, nhưng tôi tin là nó đã gói ghém bao nhiêu tâm tư để gởi cho những người đồng đội cũ!?

Xin cám ơn các anh, những người trai thế hệ đã vì nhiệm vụ bảo vệ non sông mà cống hiến cuộc đời cho quê hương đất nước. Ngày nay chúng tôi dù chưa có dịp đóng góp như các anh ngày xưa, nhất là cho quê nhà đang nghìn trùng xa cách. Nhưng chúng tôi cảm nhận được tác phong người Lính và học hỏi được những bài học quý giá từ cha anh để lại…

Chúng tôi cũng biết trân trọng, biết tự hào, và nhất là biết tự xét mình đã xứng đáng với tiền nhân hay chưa, để khi có cơ hội sẽ tiếp nối những hoài bão cao đẹp ngàn đời (mà cha ông đã dạy), để không phụ lòng những người đi trước…

Thiên Minh
19 tháng 6 năm 2007

Nguyễn Minh Triết đến New York "rèm che cửa kín"


Mỹ làm trung gian cho người Việt?
BBCVietnamese.com
19 Tháng 6 2007 - Cập nhật 11h23 GMT

Chủ tịch nước Việt Nam Nguyễn Minh Triết đã bắt đầu chuyến thăm chính thức Hoa Kỳ kéo dài năm ngày.

Lịch trình chuyến đi của Chủ tịch Nguyễn Minh Triết có nhiều buổi gặp gỡ với người Mỹ gốc Việt nhưng chủ yếu là những người gần gũi với Sứ quán, chứ không phải là các đại diện dân cử của cộng đồng.

Ví dụ như các buổi tối 18 và 20 tháng Sáu, Chủ tịch Triết và đoàn Việt Nam có gặp gỡ, nói chuyện với “Cán bộ ngoại giao Việt Nam, sinh viên và các đại diện người Mỹ gốc Việt”.

Được biết theo lịch trình, ông Triết cũng sẽ thăm một số gia đình Việt Kiều ở quận Cam, California hôm 23.06 nhưng các nguồn tin từ Mỹ cho hay ông không đến khu Little Saigon, thủ đô của 'người Việt tỵ nạn cộng sản', hoặc có đến thì cũng rất kín đáo.

Cho đến hôm 19.06, các phóng viên ở New York, kể cả Nguyễn Hùng của BBC Tiếng Việt cho biết rất khó tiếp cận đoàn Việt Nam. Thậm chí có phóng viên ảnh của Phương Tây còn nói chụp được hình phái đoàn khó hơn chụp người Iran.

Các nhân viên an ninh Mỹ không cho ai vào gần hơn 20 mét và các quan chức đoàn Việt Nam từ chối không trả lời phỏng vấn.

Như thế, có vẻ như chuyến đi tập trung vào quan hệ nhà nước Mỹ-Việt và những tiếp xúc với giới đại tư bản Hoa Kỳ.

Tuyến làm việc này, chắc chắn là yên tâm cho phái đoàn vì đỡ đi chuyện phải đối đáp giới nhà báo hay hỏi khó, hoặc những nhân vật gốc Việt tỏ thái độ chống đối cộng sản.

Mỹ đứng giữa chia bài?

Nhưng ngược lại, nó cũng cho thấy một thực tế là chính giới Hoa Kỳ đang đóng vai trò trung gian giữa Hà Nội và đa số người Việt ở Mỹ.

Gần đây nhất, tin cho hay phó Tổng thống Cheney đã tiếp bác sĩ Nguyễn Xuân Ngãi từ đảng Dân Chủ XXI hôm 14.06 và nhận thư của ông Hoàng Minh Chính gửi cho chính quyền Hoa Kỳ đề cập đến dân chủ cho Việt Nam.

Sau cuộc đón tiếp của chính TT Bush với bốn nhân vật vận động dân chủ cho Việt Nam trong Tòa Bạch Ốc hôm 29.05 thì đây chắc chắn không phải là một gặp tình cờ.

Tại sao Chủ tịch Nguyễn Minh Triết, với tư cách là nguyên thủ quốc gia, không thể mời các nhân vật nổi tiếng nhất của Cộng đồng Việt Nam ở Hoa Kỳ đến một cuộc họp Liên Việt?

Những vị như dân biểu cấp tiểu bang Trần Thái Văn, Võ Hiền, hay dân biểu cấp quận Nguyễn Quốc Lân, Janet Nguyễn không phải là những 'cán bộ tỉnh' theo cách hiểu của Việt Nam mà là những vị dân cử đại diện cho hàng vạn lá phiếu của người Mỹ gốc Việt.

Trên những bài phỏng vấn với BBC tới đây, không có ai từ chối chuyện đối thoại với chính quyền trong nước trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau.

Trung Quốc có ủy ban cao cấp đối thoại với Đài Loan, tập trung hẳn vào những gì còn chưa đồng thuận.

Việt Nam cũng có thể có một ủy ban cao cấp trực thuộc Văn phòng Chủ tịch nước chuyên trách về quan hệ với Việt Kiều, chứ không phải ủy ban về người Việt ở nước ngoài thường chỉ vận động được những người vốn đã có cảm tình với chế độ.

Như thế sẽ hai bên sẽ không phải nhờ Tòa Bạch Ốc làm trung gian như hiện nay.

Lịch sử dân tộc đã chứng kiến biết bao lần người Việt không nói chuyện được với nhau, mà phải nhờ qua trung gian với tất cả các hệ lụy không đoán trước được.

Việc biểu tình chống Nguyễn Minh Triết
Trần Đông Đức

Biểu tình tại New York ngày 18/6/2007 chống VC Nguyễn Minh Triết và phái đoàn.
Nguyễn Minh Triết đã tới New York vào ngày 18 tháng 6 và đang có những hoạt động nhằm ngụy biện cho chế độ độc tài đảng trị.

Chiều 18 tháng 6, trong cuộc tiếp xúc bước đầu với một số Việt kiều, với tính cách rất “nông dân”, Nguyễn Minh Triết đã có biểu hiện sự nhầm lẫn với cấu trúc số từ khi so sánh hệ thống lưỡng đảng tại Mỹ với đa đảng phái tại Pháp và sử dụng luôn cả địa vị nữ hoàng tại Anh Quốc để biện minh cho khái niệm độc đảng, cấm chỉ các hoạt động đảng phái tại Việt Nam.

Chuyến đi của Nguyễn Minh Triết sẽ tiếp tục gặp sự chống đối và chất vấn.

Và, sau những tuần lễ bận rộn cho việc tổ chức chống phái đoàn cộng sản do Nguyễn Minh Triết cầm đầu đến Hoa Kỳ, cộng đồng Việt Nam khắp nơi đã quyết tâm nhân chuyến viếng thăm này để tố cáo nhà cầm quyền cộng sản. Với sự đồng thuận lên cao trong các tổ chức cộng đồng, tinh thần chống bạo quyền cộng sản cùng với cả tấm lòng Việt Nam hải ngoại gởi đến các nhà đấu tranh dân chủ đang thọ nạn tại chốn lao tù đã tạo thành một động năng lôi cuốn lòng người sẵn sàng đối đầu với bạo quyền cộng sản trong bất cứ hang cùng ngõ hẹp nào mà Nguyễn Minh Triết và đoàn tuỳ tùng có mặt.

Uỷ ban đặc nhiệm chống Nguyễn Minh Triết tại Hoa Thịnh Đốn cho hay các công tác xây dựng địa điểm, diễn đàn, đêm thắp nến Liên Tôn đã thuận lợi hơn bao giờ hết. Đặc biệt là cuộc biểu tình vào ngày 22 tháng 6 trước tòa Bạch Ốc - Lúc đầu theo dự tính sẽ có khoảng 1000 tham dự nhưng theo theo phán đoán gần đây thi chắc rằng con số đó sẽ gấp đôi. Với số lượng người như vậy thì chúng ta sẽ có những hình ảnh sắc màu ngút tầm mắt trên các màn hình truyền thông quốc tế. Qua đó hình ảnh của Linh Mục Nguyễn Văn Lý, Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân... sẽ trở thành tiếng thét gào vào dung mạo của Nguyễn Minh Triết và phái đoàn hộ tống.

Ông Lý Văn Phước chủ tịch cộng đồng tại Hoa Thịnh Đốn cũng cho hay, ngoài tinh thần tham gia bằng nhân số, về phương diện tuyền thông càng có sự khích lệ đáng giá. Chỉ trong một thời gian ngắn kêu gọi, cộng đồng đã gom được một số tiền vượt quá mức $14,000 để cậy đăng lời kêu gọi thả những nhà bất đồng chính kiến trên tờ Washington Times. Với tất cả tấm lòng thành của những người ủng hộ, những bức hình biết thét sẽ được lên trang đánh vào dư luận và chính giới Hoa Kỳ khi phái đoàn cộng sản Việt Nam có mặt.

Ngoài ra, thay mặt ban tổ chức, ông Lý Văn Phước kêu gọi cho cuộc biểu tình trước tòa Bạch Ốc vào ngày 22 tháng 6 sắp tới là một cuộc biểu tình dứt khoát về thái độ, quyết liệt về tinh thần nhưng ôn hòa về hành động. Mọi sự khiêu khích và manh động bức xúc đều không cần thiết vì cuộc biểu tình đã có quần chúng đông đúc, có hào khí áp đảo và có chủ đề đòi hỏi trước truyền thông và chính phủ Hoa Kỳ. “Cộng đồng chúng ta sẽ biểu hiện một cách văn minh vì ngoài khía cạnh đối đầu còn mong chuyển tải được hình ảnh và ý nguyện của cộng đồng chúng ta tới dư luận và truyền thông quốc tế với những đàn áp thô bạo gần đây”. Ông Lý Văn Phước mong lời kêu gọi này sẽ đến với đồng hương tham dự.

Trong cuộc biểu tình chống phái đoàn cộng sản tại New York ngày hôm qua 18 tháng 6, ông Nguyễn Văn Tánh, chủ tịch cộng đồng tại New York cho hay là phải mất một ít thời gian giải thích cho truyền thông quốc tế là họ không có gì phải biểu tình chống những người tàn tật nguyên đơn tại tòa mà chỉ chống phái đoàn cộng sản đang tham dự bên trong cố tình sử dụng những người tật nguyền để tự nạn nhân hóa, tự bi thảm hóa trầm uất để làm đối trọng cho các ngụy biện về nhân quyền.

Ông Nguyễn Văn Tánh cũng cho hay là phái đoàn cộng sản có thể móc nối với một số thành phần người Mỹ khuynh tả bất mãn (khoảng 10 đến 20 người) như họ làm trước tòa án tại New York để ra mặt đối đầu với đoàn người biểu tình sau đó sẽ sử dụng những hình ảnh đó để tuyên truyền với trong nước là “dư luận Hoa Kỳ ủng hộ Nguyễn Minh Triết”.

Ngày mai 20 tháng 6, phái đoàn Nguyễn Minh Triết sẽ còn tiếp tục ở tại New York cho đến 21 tháng 6 sẽ chính thức có mặt tại thủ đô cho việc viếng thăm tòa Bạch Ốc vào sáng thứ Sáu, 22 tháng 6.

Trần Đông Đức
(@vietvungvinh.com)

Những cái đúng và sai của nhà cầm quyền CSVN

Vietnamese Rights and Wrongs...
By NGUYEN DAN QUE . Wall Street Journal . June 20, 2007 . Khánh Ðăng lược dịch

Khi Tổng thống George W. Bush ngồi xuống với Chủ tịch Việt Nam Nguyễn Minh Triết tại Toà Bạch Ốc vào ngày Thứ Sáu này, thì đó là lần đầu tiên một chủ tịch CSVN đã đến để kêu gọi giúp đỡ từ Tổng thống của nước cựu thù Hoa Kỳ. Cuộc hội kiến này cũng có thể đánh dấu như là một bước ngoặt của lịch sử nước CHXHCN Việt Nam.

Việt Nam với một dân tộc thông minh và nền văn hóa truyền thống đã tạo dựng nên một đất nước giàu có về mặt tài nguyên và nhân lực. Nhưng đã quá lâu, chế độ độc tài tại Việt Nam đã phá huỷ triển vọng tuyệt vời này bằng cách đè nát tự do và những quyền làm người căn bản. Sau khi chế độ miền Nam không còn tồn tại, một triệu người đã bị đưa vào các trại cải tạo, và ước lượng thêm một triệu người khác bỏ trốn ra nước ngoài. Bên trong Việt Nam, chế độ mị dân miền Bắc – vung tay tự tại với khủng bố và lừa dối -- đã hợp tác xã hóa nông nghiệp, chiếm đoạt tài sản, ngăn cấm kinh doanh tư nhân, độc quyền hóa các sinh hoạt văn hóa giáo dục và áp đặt nhiều lối cai trị khác nhau - và cả đảng trị. Nền kinh tế quốc gia thật thảm bại.

Nhưng may mắn thay, nhiều người miền Nam, với một ít nghị lực còn sót lại từ nền kinh tế thị trường trước đây, và hàng triệu Mỹ kim gởi về từ người Việt hải ngoại, đã đứng vững trước tập đoàn cộng sản bạo tàn. Nhiều công dân đã mạnh dạn kêu gọi một cách ôn hoà cho sự cởi mở về kinh tế và một xã hội tự do hơn. Những cuộc chống đối lan rộng, tràn ra tới cả miền Bắc, trong lúc chủ nghĩa Cộng sản tại Âu châu đang sụp đổ.

Vì thế, nhà nước CSVN đã quyết định quay sang con đường tư bản vào năm 1986, và Hà Nội trông mong vào kẻ cựu thù là Hoa Kỳ để được giúp đỡ. Hà Nội và Hoa Thịnh Đốn đã thiết lập bang giao vào năm 1995, và cùng ký một hiệp ước thương mãi song phương vào năm 2001 và điều này là một cơn mưa rào thật sự cho nền kinh tế khô khan của Việt Nam. Đầu năm 2007, Hoa Kỳ giúp Việt Nam gia nhập vào Tổ chức Mậu dịch Quốc tế (WTO) bằng cách ban cho Việt Nam quy chế Bình thường hóa Quan hệ Thương mãi (PNTR). Hoa Thịnh Đốn còn rút tên Việt Nam ra khỏi danh sách các quốc gia cần "quan tâm đặc biệt" về vi phạm tự do tôn giáo, đặt căn bản trên những hứa hẹn của Hà Nội về việc cải thiện tình trạng nhân quyền và áp dụng sự cởi mở rộng rãi hơn về chính trị

Trái ngược với sự mong đợi của nhiều người cũng như nhiều chính phủ trên thế giới, chế độ Hà Nội đã mở một chiến dịch đàn áp tàn bạo đối với bất cứ ai kêu gọi cho dân chủ nhân quyền. Trong số những nạn nhân gồm có: cha Nguyễn Văn Lý, một linh mục Công giáo bị bịt miệng trong phiên toà và bị kết án 8 năm tù; ông Lê Nguyên Sang, một Bác sĩ bị tuyên án 5 năm tù; ký giả Huỳnh Nguyên Đạo bị tuyên án 3 năm tù; luật sư Nguyễn Văn Đài và Trần Quốc Hiền mỗi người bị 5 năm; nhà hoạt động công đoàn Lê Thị Công Nhân và doanh gia kiêm nhà bất đồng chính kiến xử dụng mạng internet Nguyễn Bắc Truyển mỗi người bị tuyên án 4 năm tù. Tất cả các tù nhân này chắc chắn sẽ phải chịu đựng thêm nhiều năm quản thúc tại gia, ngay cả sau khi được thả. Đồng thời, kết quả của cuộc bầu cử Quốc hội ngày 20/5, mà ĐCSVN chiếm đoạt được đa số 91 phần trăm, đã thực tế chấm dứt tất cả những hy vọng mong manh về một nền chính trị tương lai của đất nước trong đó có sự tham gia của nhiều đảng phái khác nhau.

Bây giờ, là một thành viên của cộng đồng các quốc gia trên thế giới, Việt Nam có nhiều quyền lợi mới nhưng cũng có nhiều trách nhiệm mới – trách nhiệm ưu tiên nhất là đối với người dân trong nước. Bây giờ là lúc Việt Nam phải thoát ra khỏi thời kỳ đen tối và đón nhận tự do, tinh thần thượng tôn luật pháp và nhân quyền quốc tế. Bộ chính trị ĐCSVN phải nhìn nhận rằng 65 phần trăm dân số thuộc về thế hệ lớn lên sau chiến tranh và không chấp nhận sự mất tự do, và thế hệ mới này, nếu không bị ngăn cấm, sẽ tham dự vào việc tái xây dựng nền kinh tế và tổ quốc. Nếu Bộ chính trị ĐCSVN tiếp tục chối bỏ những nguyện vọng của nhân dân, họ sẽ thấy người ngoại quốc sẽ không hăng hái đầu tư trong sự tăng trưởng kinh tế -- và người Việt hải ngoại cũng thế. Rồi sự tăng trưởng kinh tế tuy cao nhưng không chắc chắn của Việt Nam sẽ lâm vào tình trạng dễ bị suy sụp, và có thể gây ra rối loạn xã hội. Khi điều đó xảy ra thì không một ai được lợi lộc gì.

Một tiến trình thay đổi đang xảy ra. Mặc dù có sự đàn áp của ĐCSVN, phong trào ủng hộ dân chủ đã có một bước tiến dài vào năm 2006. Một phong trào dân chủ tên là Khối 8406 đã được thành lập, cũng như một số đảng phái mới như Đảng Dân Chủ và Đảng Thăng Tiến. Các nhóm nhân quyền như Uỷ ban Nhân Quyền, Công Đoàn Độc Lập, và Hiệp hội Đoàn Kết Công Nông xuất hiện. Các nhóm truyền thông báo chí mới được ra đời như các tờ báo online Tự Do Ngôn Luận và Tự Do Dân Chủ. Trên hết, một số lớn nhân sự đang tập hợp dưới danh xưng của Liên Minh Dân Chủ Nhân Quyền Việt Nam, là một tổ chức gốc của các nhóm đấu tranh nhân quyền.

Kết quả bị hạn chế vì những nhóm này bị bó buộc phải giới hạn sự trao đổi với nhau qua mạng internet khi họ muốn tham khảo mọi người. Nguyện vọng của họ rất đơn giản chỉ là sự đòi hỏi cho những quyền căn bản và sự cải thiện về chính trị theo quy định của Bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền và Công ước Quốc tế về những Quyền Dân sự và Chính trị..

Hoa Kỳ nên khuyến khích cuộc cách mạng xã hội này, lắng nghe lại mục đích can thiệp của Hoa Kỳ vào những thập niên 1960 và 1970, khi 3 triệu người Mỹ đã phục vụ và 58 ngàn đã hy sinh, 300 ngàn bị thương trong một cuộc đấu tranh cho một Việt Nam độc lập và dân chủ. Tổng thống Bush đã thấy áp lực chính trị có thể hoàn thành được. Ông Bush vừa gặp gỡ 4 nhà tranh đấu cho dân chủ người Mỹ gốc Việt tại Phòng Bầu Dục, một hành động để gởi một thông điệp rõ ràng đến chế độ Hà Nội. Ông Bush đã tiếp theo bằng một bài diễn văn tại Hội nghị Prague về Dân chủ Toàn cầu, nơi mà ông đã bày tỏ sự ủng hộ cho các nhà đấu tranh dân chủ tại Việt Nam, và tại các quốc gia khác, đồng thời kêu gọi trả tự do ngay lập tức và vô điều kiện cho tất cả các tù nhân chính trị. Vài ngày sau, chế độ Hà Nội đã đáp ứng bằng cách thả nhà báo Nguyễn Vũ Bình, và vài ngày nữa sau đó lại thả luật sư Lê Quốc Quân.

Nhưng dù sao đi nữa, việc thả vài nhà bất đồng chính kiến không chứng tỏ được một thái độ nghiêm túc muốn cải tổ. Giống như các nhà đấu tranh khác, tôi hy vọng sẽ được thấy thêm nhiều kết quả đầy khuyến khích từ việc ông Bush tiếp đón người lãnh đạo hàng đầu của Việt Nam. Đất nước Việt Nam sẽ đạt được nhiều lợi ích lớn lao từ những quyền tự do rộng rãi hơn, đặc biệt là quyền tự do ngôn luận và quyền tự do lập hội. Bây giờ là lúc mà chế độ Hà Nội không nên chần chờ nữa mà hãy bắt đầu một thời gian biểu cho tiến trình dân chủ hóa Việt Nam.

Hoa Kỳ có khả năng xoay sở về kinh tế và chính trị để giúp đạt được những mục tiêu này, bởi vì cuối cùng thì chế độ Hà Nội cần Hoa Thịnh Đốn hơn là Hoa Thịnh Đốn cần Hà Nội. Di sản tốt nhất của thời kỳ chiến tranh để lại cho cả 2 dân tộc chúng ta là sự xuất hiện của một xã hội dân chủ đầy sức sống; một xã hội phản ánh được lòng mong ước của toàn thể nhân dân Việt Nam, và một xã hội nắm giữ một vai trò lạc quan tại Á Châu như một đồng minh kinh tế và chiến lược của Hoa Kỳ. Khi điều đó xảy ra thì thế giới sẽ thấy một nước Việt Nam mới xuất hiện như một thành viên đầy năng động của Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á, và là một người bạn tin cậy trên trường quốc tế.

Dr. Quế là một bác sĩ y khoa, hiện đang bị quản thúc tại gia trong Chợ Lớn vì cổ vũ một cách ôn hoà cho dân chủ nhân quyền.




--------------------------------------------------------------------------------
Vietnamese Rights and Wrongs...
By NGUYEN DAN QUE
June 20, 2007

CHO LON, Vietnam -- When President George W. Bush sits down with Vietnamese President Nguyen Minh Triet at the White House on Friday, it will be the first time that a Communist President of Vietnam has called on the President of the former enemy, the United States. The meeting may also mark a turning point in the history of the Socialist Republic of Vietnam.

Vietnam's industrious people and cultural heritage make it a country rich in natural and human resources. For too long, Vietnam's authoritarian state trampled on the country's tremendous potential by crushing freedoms and basic human rights. After South Vietnam ceased to exist, a million people were sent to re-education camps, and an estimated one million more fled to foreign shores. Inside Vietnam, the demagogic North -- wielding terror and deception -- collectivized agriculture, confiscated property, prohibited private businesses, monopolized educational and cultural activities and applied various other forms of government- and party repression. The national economy stagnated.

Fortunately, many people in the South, with some resilience left from the previous market economy and millions of dollars sent back home by overseas Vietnamese, stood up to their communist oppressors. Ordinary citizens firmly and nonviolently called for economic openness and greater societal freedoms. Contagious protests, spreading even upward to the North, took place as communism in Europe was collapsing.

As a result, the government decided to try capitalism in 1986 and Hanoi looked to its former foe, the U.S., for help. Hanoi and Washington established diplomatic relations in 1995, and signed a bilateral trade agreement in 2001 that proved a real rainmaker for Vietnam's parched economy. In early 2007, the U.S. helped Vietnam join the World Trade Organization by granting it Permanent Normal Trade Relations status. Washington even removed Vietnam from a list of countries of "particular concern" for religious freedom violations, based on Hanoi's commitment to improve its human-rights record and to adopt greater political openness.

Contrary to the expectations of many people as well as some governments, however, Hanoi launched a brutal campaign of repression against anyone who called for human rights and democracy. Among the victims: Nguyen Van Ly, a Catholic priest tried with his mouth muzzled and sentenced to eight years in prison; Le Nguyen Sang, a doctor sentenced to five years; writer Huynh Nguyen Dao, sentenced to three years; lawyers Nguyen Van Dai and Tran Quoc Hien, each sentenced to five years; and labor activist Le Thi Cong Nhan and businessman-cum-cyberdissident Nguyen Bac Truyen, each sentenced to four years. All of these prisoners almost certainly face many additional years of house arrest, even after their release. Meanwhile, the results of the May 20 National Assembly elections, which gave the Communist Party a 91% majority, have practically put an end to all tenuous hopes of multiparty participation in the political future of the country.

Now, as a member of the community of nations, Vietnam has new rights but also new responsibilities -- above all to its own citizens. It's time to emerge from the dark ages and embrace freedom, the rule of law and universal human rights. The Politburo must realize that 65% of the population belongs to the post-war generation that does not accept the loss of their liberties and that the new generation, if unfettered, will join in rebuilding the economy and the nation. If the Politburo continues to reject the demands of its own people, it will find that foreigners might not be so eager to invest in its growth -- and neither would the Vietnamese diaspora. Vietnam's high but unstable economic growth would be imperiled, and could trigger social unrest. That outcome benefits no one.

The movement for change is already underway. In spite of all the repression by the Vietnamese Communist Party, in 2006 the pro-democracy movement made great strides forward. Block 8406, a democracy group, was formed, as were a host of other new parties such as the Democratic Party and the Progressive Party. Rights groups like the Committee for Human Rights, the Independent Labor Union and the Peasants and Workers Solidarity Association sprouted. New media were founded, like the online newspapers Liberty of Expression and Liberal Democracy. Above all, large numbers of people are now rallying under the name of the Human Rights and Democracy Alliance for Vietnam, an umbrella organization of human-rights activist groups.

The results are limited because all these groups are compelled to restrict their communications with each other to using only the Internet as they try to mobilize the people. Their demands are simply for fundamental rights and political reforms according to the U.N. Universal Declaration of Human Rights and the U.N. Convention of Civil and Political Rights.

The U.S. should encourage this social revolution, hearkening back to the aims of U.S. involvement in the 1960s and early 1970s, when three million Americans served, 58,000 died, and 300,000 were wounded in the struggle for an independent, democratic Vietnam. President Bush has already seen what political pressure can accomplish. He recently met in the Oval Office with four Vietnamese-American democracy activists, an act that sent a clear message to Hanoi. He followed that up by speaking to the Global Democracy Conference in Prague, where he expressed public support for democratic activists in Vietnam, among other countries, and called for the immediate, unconditional release of all political prisoners. A few days later, Hanoi responded by freeing journalist Nguyen Vu Binh and, a few days after that, lawyer Le Quoc Quan.

Releasing a few dissidents, however, doesn't represent a serious commitment to reform. Like other activists, I hope I shall see some more encouraging results from Mr. Bush's welcome to Vietnam's top leader. Vietnam would benefit greatly from wider freedoms, particularly freedom of speech and freedom of assembly. It's time for Hanoi to adopt, without delay, a timetable for the democratization of Vietnam.

The U.S. has the economic and political leverage to help achieve these goals, because ultimately, Hanoi needs Washington more than Washington needs Hanoi. The best legacy of the war era for both our peoples would be to have a vibrant democratic society emerge; one that reflects the aspirations of all Vietnamese people, and one that plays a positive role in Asia as a strategic and economic ally of the U.S. When that happens, the world will see a new Vietnam emerge as a dynamic member of the Association of South East Asian Nations and a creditable partner on the international scene.

Dr. Que, a physician, is currently under house arrest in Cho Lon for peacefully advocating human rights and democracy

http://online.wsj.com/article/SB118228680082041020.html?mod=googlenews_wsj