Thứ Hai, 18 tháng 6, 2007

Viết đơn gửi Bí thư Tỉnh ủy xin 'chừa' chống tham nhũng


Bà Đoàn Thị Nhâm viết đơn trình bày xin rút lại lá thư báo cáo. Ảnh : Tạ Kim Hùng
Bà Đoàn Thị Nhâm sinh năm 1956, tại huyện Tứ Kỳ (Hải Dương). Năm 1973, bà thoát ly gia đình, trở thành công nhân lâm nghiệp huyện Ba Chẽ, công tác tại Đội cơ giới cầu đường.

Năm 1978, chiến tranh biên giới xảy ra, đơn vị này trở thành Cty Cầu đường ngành lâm nghiệp của tỉnh, vừa làm đường lâm nghiệp, vừa làm đường phục vụ nhu cầu quốc phòng… Năm 1979, bà Nhâm được kết nạp vào Đảng và lần lượt được cử đi học các lớp sơ cấp, rồi trung cấp kế toán.

Hiện nay, bà là Trưởng phòng Kế toán-tài vụ của Lâm trường Hoành Bồ. Năm 2000, chồng bà bị tai nạn, mất. Bà sống với người con trai duy nhất trong cảnh mẹ góa, con côi!

Bà Nhâm viết : “Từ nay về sau sẽ không còn dám nghĩ đến đấu tranh chống tham nhũng nữa”.

Trong đơn bà Nhâm xin rút lại thư đã báo cáo ông về hành vi vụ lợi và những sai phạm nghiêm trọng của ông giám đốc Lâm trường Hoành Bồ Nguyễn Duy Đãng, gây thất thoát cho lâm trường nhiều tỷ đồng. Vì sao người phụ nữ dũng cảm này lại phải làm cái việc “đặng chẳng đừng”?

Giám đốc lộng quyền

Bà Nhâm kể: Suốt 34 năm công tác trong ngành lâm nghiệp, lúc làm công nhân mở đường, lúc làm kế toán… bà luôn trăn trở, vì sao, anh chị em làm đường, trồng, tu bổ rừng ngành lâm nghiệp thường phải sống ở vùng xa, vùng sâu, heo hút: Nắng sạm da, mưa nhòa nước mắt, ve vắt quanh mình, mà có dạo, lương tháng chỉ vỏn vẹn trên dưới 150.000 đồng, lại phải 3 - 4 tháng sau mới được truy lĩnh.

Có chị em, sau 10 năm công tác, không chắt chiu nổi vài trăm ngàn đồng về phép. Có anh nhận điện: “Mẹ sắp mất, về ngay”, loay hoay mãi mới vay nổi vài trăm ngàn đồng, về đến nhà, nấm mồ của mẹ, cỏ đã chớm xanh…

Chiến tranh biên giới kết thúc, theo quy chế mới, Cty Cầu đường đứng trước hai ngã đi thấp thỏm: Giải thể, hoặc tự kinh doanh, hạch toán nuôi nhau?

Trong chiến tranh, dù phải bám trụ mặt đường cả ngày đêm, có lúc phải sửa đường dưới làn đạn pháo từ bên kia bắn sang, lương đã thấp, lại chậm, nhưng cứ kiên nhẫn chờ, sẽ có. Nay, nếu phải tự kinh doanh hạch toán để nuôi nhau, biết làm gì? Cty không có một đồng vốn. Còn công nhân, ngoài cái túi xách tay, cái ba lô chứa mấy bộ quần áo bạc màu, là hai bàn tay trắng.

Bí bách quá, một số chị em dưới tuổi 30, đành lĩnh trợ cấp thôi việc, rồi lủi thủi hồi hương. Số còn lại, sống vật sống vã: lúc đan tranh nứa, lúc mót than rơi. Thậm chí, có dạo còn đi đào than thuê cho cai than thổ phỉ…

Nhưng rồi, nhờ tài xoay xở của người đứng đầu Cty là ông Lại Văn Giang, UBND tỉnh, đồng ý cho đơn vị thành lập Xí nghiệp (XN) vay vốn ngân hàng, khai thác than ở những nơi có trữ lượng than quá mỏng và rừng đã bị nạn khai thác thổ phỉ triệt hạ tanh bành. XN phải cam kết, khai thác than xong đến đâu, trồng cây, tạo rừng ngay đến đó.

XN làm than chưa đầy 2 năm thì UBND tỉnh ra quyết định cho ngừng khai thác than, chuyển cả đơn vị thành Lâm trường Hoành Bồ số 2 để quản lý, tu bổ rừng và trồng rừng nơi đất còn trống, dọc các tuyến đường, dài gần 100 km, từ Sơn Dương lên hồ Cao Vân, Vũ Oai, Đồng Ho…

Hàng trăm công nhân đang quần tụ tại góc rừng Dương Huy, làm than, trồng rừng… nuôi nhau, nay lại phải chia đàn, xẻ nghé! Cả XN nháo nhác như gà mất ổ.

Giám đốc Giang thuyết phục công nhân: “Vượt qua cái khó, sẽ có niềm vui. Cả XN đang phải tự kiếm sống cầu bơ cầu bất, giờ trở thành lâm trường quốc doanh, công nhân thành người nhà nước là quá may mắn. Các bạn còn trăn trở gì nữa?”. Mọi người nghe ra, lại hào hứng, đội vào Hòa Bình, đội lên Thác Cát, đội đến Đồng Ho… lập bản doanh, nhận đất, nhận rừng…

Sau 8 năm thành lập, Lâm trường Hoành Bồ đã trồng, tu bổ được hơn một ngàn héc-ta rừng keo và rừng tái sinh. Cuối năm 2000 nhìn những cánh rừng tái sinh xanh ngút ngàn, những khoảng rừng keo mênh mông, đã và sắp đến tuổi khai thác, đường kính gốc 20-30 cm, cao 7 - 8 mét, đều tăm tắp, công nhân lâm trường hả hê lắm. Khi đó lãnh đạo lâm trường đưa ra ý tưởng “Muốn giàu, phải quyết tâm biến gỗ rừng thành sản phẩm hàng hóa!”…

Chiểu theo nguyện vọng của cán bộ, công nhân Lâm trường Hoành Bồ, cuối năm 2000, UBND tỉnh – được Chính phủ cho phép – đã cho lâm trường vay vốn từ Quỹ đầu tư để xây dựng nhà máy sản xuất ván ép sợi MDF. Nhà máy sẽ tận dụng gỗ tạp, cành cây và các phế liệu lâm nghiệp để sản xuất các loại ván, có độ bền cao, lợi nhuận gấp nhiều lần bán gỗ, củi thô. Người trồng rừng sẽ dư vốn tái sản xuất rừng, xã hội sẽ có thêm sản phẩm, nhà nước sẽ có thêm nguồn thu…

Sông, suối không còn bị phế liệu lâm nghiệp đổ tràn xuống, trôi ra biển, môi trường Vịnh Hạ Long sẽ ngày càng xanh, sạch... và, cuối cùng, người làm nghề lâm trường sẽ giàu lên, thoát khỏi cảnh đói nghèo.

Dự án xây nhà máy đang được triển khai thì đùng một cái Giám đốc lâm trường Lại Văn Giang được Sở NN và PTNT thông báo: Bàn giao ngay mọi công việc ở lâm trường cho Giám đốc mới là ông Nguyễn Duy Đãng (nguyên là Giám đốc lâm trường Bình Liêu), để nhận quyết định nghỉ hưu, trước sự ngỡ ngàng của cả lâm trường và Huyện ủy Hoành Bồ lúc ấy.

Bà Nhâm kể: Là một đảng viên gần 30 tuổi Đảng, 28 năm làm kế toán, bà chưa thấy một giám đốc lâm trường nào độc đoán, vụ lợi, tiêu tiền Nhà nước “bạo” như ông Đãng.

Mới về lâm trường, đáng lẽ phải đôn đốc ngay việc xây dựng nhà máy để sớm có sản phẩm bán, trả nợ quỹ đầu tư, thì ông Đãng lại cho đập phá nhiều hạng mục công trình trụ sở lâm trường vừa xây xong, rồi dùng vốn xây dựng nhà máy để xây sửa lại, gây tốn kém và lãng phí lớn cho lâm trường.

Giám đốc lâm trường cũ, mỗi lần đi công tác, thường chỉ tạm ứng vài triệu đồng. Còn ông Đãng mỗi lần đi công tác, bắt lái xe tạm ứng từ 10-15 triệu đồng, chi tiêu xả láng.

Khi thủ quỹ giục lái xe, nhắc GĐ hoàn ứng, ông quát: “Hoàn hay không là quyền tao. Ai sợ, làm việc khác”. Nói rồi, ông cho cả lái xe và thủ quỹ chuyển việc. Ông tuyển lái xe khác nhưng thường tự mình lái xe.

Chiếc xe con của lâm trường mới mua được hai năm, giá 320 triệu đồng, vào tay ông Đãng được vài tháng, do va quệt nhiều, bung cả ba-đờ-xốc, ông đem bán hạ giá, rồi mua luôn một chiếc xe Camry 2.4 bóng loáng, vi phạm nghiêm trọng quy định của Chính phủ, nên chiếc xe không đăng ký được. Ông Đãng nhờ một người buôn gỗ tự do, đứng tên, đăng ký hộ.

Người này, sau đó được ông Đãng lấy về lâm trường, cho làm giám đốc nhà máy ván MDF, vốn đầu tư 33 tỷ đồng, mặc dù người này không học một ngày về chế biến lâm sản.

Còn giám đốc nhà máy cũ, kiêm phó giám đốc lâm trường nhiều năm, có bằng kỹ sư chế biến lâm sản. Ông Đãng chuyển làm việc khác. Chính vì dùng người tùy tiện nên nhà máy ván MDF, đến nay đã 5 năm, vẫn chưa bàn giao được.

Những năm nhà máy mới lắp ráp hòm hòm, cứ chạy thử là trục trặc kỹ thuật, ngừng hàng tháng. Ông Đãng vẫn lấy cớ “Khai thác rừng làm nguyên liệu cho nhà máy”, để phá hàng trăm hec ta rừng...

Với những sai phạm không thể chối cãi (Tiền phong từng có loạt bài phản ánh). Năm 2005, ông Đãng lĩnh hai án kỷ luật Cảnh cáo - Một của UBND tỉnh, một của Huyện ủy Hoành Bồ.

Nhận kỷ luật rồi, ông Đãng lại mắc nhiều sai phạm lớn hơn: Ồ ạt đưa một số người thân bên ngoài vào biên chế của lâm trường, làm vây cánh... Năm 2006 cũng là năm ông Đãng cho chặt phá rừng tàn bạo nhất.

Kế hoạch do tỉnh khống chế, chỉ được khai thác 15.000 m3 gỗ, thì ông Đãng chặt phá 432 ha rừng, khai thác hơn 27.700m3. Ông tự đặt giá, bán mỗi héc-ta rừng cho các đội trưởng là 6 triệu đồng, không qua đấu thầu.

Có đội trưởng được mua đến 30 ha, đang tuổi khai thác, để tự do chặt phá. Có người làm đội trưởng vài năm, tậu được cả ô tô, giá 500 triệu đồng. Còn rừng Hoành Bồ thì bị chặt phá tan hoang.

Vì sự sống còn của lâm trường, trước nguy cơ phá sản, do ông Đãng gây ra, các phó giám đốc, Bí thư Đảng ủy, kế toán trưởng,... của Lâm trường Hoành Bồ đã nhiều lần góp ý, kiến nghị.

Thậm chí, Ban chấp hành Đảng ủy họp, ra nghị quyết, đề nghị ông Đãng chấm dứt những việc làm nguy hại cho lâm trường, nhưng ông Đãng bỏ ngoài tai. Quá bức xúc, buộc họ phải có thư báo cáo cấp trên. Bà Nhâm viết thư gửi đích danh Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ninh, tố cáo những việc làm sai trái của ông Đãng.

“... Từ nay xin chừa”

Ngày 1/2/2007, Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ninh ra quyết định: Tạm đình chỉ công tác đối với ông Đãng, giao cho Thanh tra tỉnh thanh tra toàn diện các sai phạm ở Lâm trường Hoành Bồ, báo cáo UBND tỉnh trước ngày 15/2/2007 để xử lý... nhưng đến nay, Thanh tra vẫn chưa có kết luận!

Trong thời gian chờ Thanh tra kết luận, cháu ông Đãng, tên Huyền – được ông đưa từ Bình Liêu về, biên chế vào phòng hành chính của lâm trường – đã vào phòng kế toán đốt, hủy máy in, lấy máy vi tính dìm vào bể nước, để xóa các dữ liệu lưu trong máy.

Nhiều người ở lâm trường nhận định Huyền chỉ là kẻ “Liều mình cứu chúa”. Lúc đầu, Huyền khai với công an: Bà Nhâm kế toán trưởng xui Huyền hủy hoại máy vi tính. Nhưng sau đó cũng tại cơ quan điều tra, Huyền đính chính là tự mình làm việc đó và xin lỗi bà Nhâm.

Nhưng sắp đến ngày ra tòa, được gặp luật sư tại trại giam – do gia đình mời từ Hà Nội về – Huyền lại khai: Bà Nhâm kế toán trưởng xui Huyền hủy tài liệu.

Người làm chứng cho lời khai của Huyền lại chính là anh trai, con bác ruột ông Đãng và hai đệ tử thân tín của ông Đãng tại lâm trường. Vì lời khai lật lọng của Huyền và các nhân chứng trên, phiên tòa xử Huyền phải tạm hoãn.

Bà Nhâm lại năm lần, bảy lượt bị Công an và Viện KSND huyện Hoành Bồ gọi lên lục vấn, khuyên bà thành khẩn nhận tội. Bà Nhâm nói: “Tôi là người tố cáo những sai phạm của ông Đãng, có điên tôi mới xui người phá hủy máy tính đang lưu các dữ liệu, chứng cứ trong máy tính”.

Bà Nhâm kể: Từ ngày bị tôi tố cáo các hành vi sai trái, ông Đãng lôi kéo những người thân ở lâm trường, cô lập, bóng gió công kích, đe dọa tôi “Trước sau cũng bị khởi tố”.

Thậm chí một ông Viện phó Viện KSND huyện Hoành Bồ còn “khuyên” tôi “nhận tội”. Sao họ dễ đồng tình với nhau như thế? Thân phận mẹ góa nuôi con côi như tôi, còn biết dựa vào ai?

Ngay cả đồng chí Bí thư Đảng ủy lâm trường, vì dám chống tiêu cực, cũng bị họ cô lập và phản công bằng các đơn tố cáo bịa đặt, rồi tung tin vịt rằng, đồng chí ấy sắp bị đình chỉ công tác... trong khi ông Nguyễn Duy Đãng sở hữu riêng một xưởng sản xuất keo, hàng ngàn mét vuông trong đất trụ sở của lâm trường, để hàng ngày thu lợi và vẫn nghênh ngang cưỡi chiếc xe Camry 2.4 (giờ đã thành của riêng gia đình ông) đi đó, về đây, nhởn nhơ cười thách thức...

Trong lá thư thứ hai gửi Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ninh, bà Nhâm viết: “Tôi hối hận vì đã dám tố cáo tội tham ô, vụ lợi của người có chức, có quyền, có vây cánh mạnh và “xin chào thua” họ.

Để bảo toàn tính mệnh và tránh vòng lao lý cho hai mẹ con thân cô thế cô, trước những tai họa có thể trút xuống bất cứ lúc nào, tôi đã có đơn trân trọng đề nghị ông Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ninh, cho tôi rút lại lá thư, báo cáo về những sai phạm của ông Nguyễn Duy Đãng, Giám đốc Lâm trường Hoành Bồ mà tôi đã tin tưởng, kính gửi ông ấy hồi cuối năm 2006. Và kính thưa ông, từ nay về sau, “thân lươn bao quản lấm đầu”, sẽ không bao giờ dám nghĩ đến chống tham nhũng nữa”.

Tạ Kim Hùng

Đặng Hùng: người sinh viên chống bất công xã hội


Đặng Hùng: người sinh viên chống bất công xã hội

— THAY CHO TRANG TIỂU SỬ —

Họ Tên: Đặng Hùng

Ngày sinh: 22/08/1981

Trú quán: Thị xã Hải Phòng

Nghề nghiệp: Sinh viên

Hoàn cảnh gia đình: Độc thân

Ngày bị bắt: 17/05/2007




Đặng Hùng là một thanh niên có tư cách và đạo đức. Anh theo đạo Phật, ăn chay trường và là người rất hoà nhã.

Là một người trẻ có lòng từ bi, Hùng đã thao thức trước hiện tình xã hội và đất nước. Điều này thể hiện trong phần trình bày của anh khi xin tham gia Đảng Vì Dân:

Trong xu thế phát triển chung của thế giới, Việt Nam đã có những cố gắng lớn trong tiến trình hội nhập và phát triển. Nhưng trong thực tế, là một nước XHCN dưới sự cầm quyền của đảng CSVN, nước ta phải chịu ảnh hưởng và hạn chế về nhiều mặt của đời sống xã hội, nhất là về chính trị và kinh tế. Sự độc tài là nguyên nhân làm nảy sinh nạn cửa quyền, tham nhũng... làm người dân phải chịu muôn vàn cơ cực, bức xúc...

Trước những vấn nạn của Đất Nước hiện nay, là thế hệ trẻ, chủ nhân của Đất Nước mai sau, tôi không thể khoanh tay đứng nhìn hay nghoảnh mặt làm ngơ để Đất Nước lâm nạn, nhân dân chịu cảnh lầm than cơ cực.

Với sức trẻ, tôi muốn đóng góp trong tiếng nói chung cùng với những nghĩa cử cao đẹp của Đảng Vì Dân để thay đổi và xây dựng một Việt Nam Hòa Bình-Tự Do-Ấm No-Tiến Bộ.

Sau một thời gian dài tìm hiểu, sinh viên Đặng Hùng chính thức tham gia Đảng Vì Dân.

Kể từ ngày dấn thân hoạt động, sinh viên Đặng Hùng đã tạm gác cuộc sống bình thường và đóng góp tâm trí, công sức của mình trong các công tác đấu tranh cho dân chủ tự do, công bằng xã hội và quyền lợi của dân nghèo một cách bình thản như đi làm công tác thiện nguyện.

Hoạt động của sinh viên Đặng Hùng được tổ chức giao phó bao gồm công tác phát hành Tập san Hoa-Mai ở các tỉnh miền Bắc Việt Nam. Anh đồng thời là tác giả năm bài viết đăng tải trên Tập san Hoa-Mai với bút danh Thanh Hùng.

Kể từ đầu năm 2006, anh đã tích cực trợ giúp cho các đồng bào dân oan (từ nhiều tỉnh thành cả nước) khiếu kiện, làm đơn tố cáo tình trạng tham nhũng, bất công; và tạo điều kiện để nhiều nạn nhân bị chèn ép, bóc lột có cơ hội lên tiếng đấu tranh trong các chương trình phát thanh của đài Radio Hoa-Mai.

Vào ngày 01/08/2006, sinh viên Đặng Hùng bị công an tỉnh Hải Phòng bắt tạm giam 3 ngày về quá trình trợ giúp dân oan và sự liên hệ với Đảng Vì Dân. Trong suốt thời gian sau đó, công an triệu tập tra vấn nhiều lần và liên tục khủng bố tinh thần anh. Tuy nhiên, anh không chấp nhận ngưng sinh hoạt và quyết định tiếp tục đấu tranh với tư thế sẵn sàng công khai hoá khi cần thiết. Điều đáng khen ngợi là dù với hoàn cảnh bị theo dõi và cô lập đầy khó khăn, anh đã linh động để tiếp tục hoạt động đấu tranh một cách hiệu quả.

Kể từ thời điểm Đảng Vì Dân tuyên bố công khai hoạt động, đặc biệt là sau khi Mục sư Hồng Trung bị bắt giữ vào ngày 22/2/2007, sinh viên Đặng Hùng đã lên tiếng khẳng định chính nghĩa của phong trào đấu tranh đối lập ôn hoà trong chương trình Việt ngữ của các đài quốc tế như VOA, Chân Trời Mới, v.v...

Theo thông tin ghi nhận được từ Việt Nam, sinh viên Đặng Hùng bị công an TP.HCM bắt giữ tại khu công nghiệp tỉnh Bình Dương vào ngày 17/05/2007. Đến nay, nhà cầm quyền Việt Nam không thông báo với gia đình sinh viên Đặng Hùng về lý do, tình trạng và nơi anh bị giam giữ.

Đảng Vì Dân đánh giá cao tinh thần dấn thân và hy sinh của sinh viên Đặng Hùng, và tin tưởng rằng anh sẽ tiếp tục đóng góp cho tiến trình đấu tranh cho dân chủ tự do, công bằng xã hội và quyền lợi của dân nghèo khi có điều kiện thuận hợp.

Không có tự do ứng cử -- Không bầu cử!



Ngày 20/5 tới đây là ngày bầu cử Quốc Hội khoá 12 của nước CHXHCNVN, một chủ đề mà dư luận trong cũng như ngoài nước hết sức quan tâm chú ý. Nhiều vấn đề được đưa ra thảo luận và phân tích. Hàng trăm câu hỏi đã được nêu lên như: Cuộc bầu cử Quốc Hội khoá 12 có gì đổi mới; sẽ là một cuộc bầu cử dân chủ tự do hay không; những ai sẽ ra ứng cử; có sự tham gia ứng cử của Việt kiều và các chính đảng đối lập với ĐCS hay không; v.v...

Thực tế đã lần lượt giải đáp bằng những câu trả lời khá rõ ràng, cụ thể, dù rằng có lắm sự thất vọng, bẻ bàng.

Vào khoảng hai tháng trước đây, dư luận đã ít nhiều phấn khởi khi có nhiều người ghi danh tham gia ứng cử, trong đó số lượng ứng cử viên trẻ khá cao so với từ trước đến nay. Điều này mở ra một tia hi vọng rằng ý thức trách nhiệm của người dân Việt Nam đối với cộng đồng xã hội có bước chuyển biến đáng mừng. Bước đầu đó nhen nhúm lên niềm vui cho người dân về một sự đổi mới chính trị.

Những hi vọng đó vừa lóe thì tiếp đến là tin hàng loạt ứng cử viên độc lập xin rút đơn ra khỏi danh sách tự ứng cử với những lý do khác nhau; như tổ chức không cử ra ứng cử, vì sức khoẻ, vì gia đình, v.v… Những lý do “vì” kia thực ra là vì đâu, vì sao, vì cái gì và những áp lực nào đã đến với họ? Số còn lại phải qua 3 vòng hiệp thương để lựa chọn tư cách, tiêu chuẩn để có danh sách chính thức trước khi được bầu chọn.

Vòng hiệp thương có đúng với nghĩa là để người dân đánh giá về mọi tiêu chuẩn của các ứng cử viên sẽ được bầu hay không, hay đó chỉ là một hình thức nguỵ biện trong kế hoạch chọn người ửng cử của đảng CS? Chính xác hơn, đó chính là vòng tuyển chọn ra các ứng cử viên mà đảng CS sẽ quyết định đưa vào danh sách bầu chính thức. Điều đó thấy rất rõ sau các vòng hiệp thương. Con số đại biểu chính thức đại diện cho nhân dân sau cuộc bầu cử khoá 12 sẽ cũng vẫn như từ trước đến nay: “Đảng cử Dân bầu”, hay cũng vẫn là đảng cứ chọn rồi nhân dân theo đó mà bỏ phiếu.

Đến nay, bên cạnh Trung quốc, Cuba và Bắc Hàn, Việt Nam cũng là một là nước chưa dám tin vào sự ủng hộ của quần chúng. Vì vậy, cả bốn nước này đều có chính sách dàn dựng, kiểm soát ứng và bầu cử một cách nghiêm nhặt. Hơn 60 năm cầm quyền, đảng CSVN tuy luôn cho rằng được nhân dân thương yêu, tín nhiệm nhưng trong thực tế họ chưa bao giờ dám để cho nhân dân sử dụng quyền làm chủ xã hội của họ. Tình trạng “một mình một sân, một bóng, vừa đá vừa thổi còi” của đảng CS đã tự định cho họ tính chất độc tài toàn trị.

Ngày nay người dân đã hiểu được sự song hành của cuộc sống và nhân quyền. Sự cần thiết của sự tự do và các quyền căn bản, bao gồm quyền tự do ngôn luận, tự do lập hội và tự do ứng bầu cử, là những yêu cầu lớn của cuộc sống trong bối cảnh thời đại mới. Sự thiếu vắng những nhân quyền căn bản cũng không khác gì sự vi phạm quyền tự quyết của người dân.

Việt Nam sau hai mươi năm “đổi mới” đã khác nhiều hơn thời kỳ lụn bại của xã hội chủ nghĩa. Sự tự do kinh tế, dù chưa hoàn toàn, cũng đã cứu đất nước thoát khỏi cảnh đói kém thê thảm. Những tiến bộ của xã hội bây giờ là kết quả tự nhiên của sự hồi phục kinh tế, sau khi nó không còn bị đè nén bởi những chính sách “phản động” của đảng. Thực tế xã hội đặt ra một câu hỏi khẩn trương là tại sao đảng CSVN không chấp nhận “đổi mới” các lãnh vực quan yếu khác, nhất là như chính trị, để toàn xã hội có thể vươn lên, giúp đất nước có điều kiện cất cánh trong trào lưu mới.

Tại sao đảng CSVN cứ bảo thủ ôm chặt quyền hành một mình khiến cho công cuộc phát triển đất nước bị ngập ngừng, khập khễnh bởi các chính sách bất cập?

Tại sao đảng CSVN lớn tiếng là đảng của nhân dân mà lại để cho chính đảng viên của họ bòn rút của công và cưỡng đoạt tài sản của nhân dân? Nếu đảng thật sự vì tổ quốc thì tại sao để cho nạn tham nhũng lan tràn khắp các cơ quan công quyền một cách công khai từ trên xuống dưới?

Con đường duy nhất để giải quyết những vấn nạn của đất nước là dân chủ hóa đất nước, để những người tài đức từ nhiều đoàn thể, tổ chức ngoài đảng CSVN có thể cùng nhau tham gia lãnh đạo, điều hành đất nước.

Chỉ khi nào nước ta có được một chính phủ dân cử đúng nghĩa, thì tình trạng lạm dụng quyền lực mới có cơ hội chấm dứt. Dưới chế độ dân chủ, sự cạnh tranh phục vụ đất nước của các thành phần chính trị khác nhau sẽ tự tác động việc theo dõi, kềm chế nhau để ngăn chận và tiêu diệt sự quan liêu, tham nhũng.

Với bao nhiêu năm bị khống chế và sống trong cảnh thiếu thốn mọi mặt, nhân dân Việt Nam có thể cần có thời gian để nâng cao dân trí hầu có thể hành xử đúng đắn và hữu hiệu quyền dân chủ của mình. Tuy nhiên, sự khiếm khuyết đó không có nghĩa là Việt Nam phải tiếp tục sống dưới sự cai trị độc tài độc đảng.

Việt Nam cần có một cuộc Tổng Tuyển Cử tự do với sự giám sát của các cơ quan nhân quyền quốc tế, để quyền làm chủ đất nước của nhân dân được tôn trọng và thực thi một cách cụ thể. Cuộc bầu cử dân chủ đó cần có thời gian và điều kiện chuẩn bị để việc ứng và bầu cử có thể được thực hiện một cách công bằng và hữu hiệu.

Trong hoàn cảnh hiện nay, nếu như đảng CSVN không độc tài bảo thủ để các ứng cứ viên độc lập có thể tự ứng cử tự do, thì đó cũng là một bước thay đổi cần thiết để làm nền tảng cơ bản cho một cuộc bầu cử dân chủ toàn diện hơn trong vài năm tới. Tiếc rằng, vì ích kỷ và bảo thủ, đảng CSVN đã từ khước nhìn nhận thiện chí của hơn 200 ứng cử viên và kỳ vọng của nhân dân Việt Nam.

Cuộc bầu cử Quốc hội năm nay đã không còn là một cơ hội vận động dân chủ hoá đất nước một cách ôn hoà nữa. Đây là một điều đáng tiếc cho lịch sử và đáng trách cho đảng CSVN. Vậy thì nhân dân Việt Nam cần phải phản đối một cách cụ thể và tích cực là tẩy chay cuộc bầu cử ngày 20-5 sắp tới, bằng cách không đi bầu hoặc bỏ phiếu trắng, để khẳng định nguyện vọng có được đất nước thật sự dân chủ tự do đúng nghĩa./.

Mái nhà đích thực của người Công Nhân Việt Nam



Thưa toàn thể anh chị em công nhân Việt Nam!

Suốt mấy chục năm qua, sự đóng góp của các anh chị là một thực tế rất lớn mà ai cũng có thể nhận ra trong sự phát triển của nền kinh tế nước nhà, . Điều đó đáng được tôn vinh cũng như những sáng tạo và sự cần cù chịu khó đáng quí, mà các anh chị là người luôn cố gắng gìn giữ.

Thưa các anh chị,

Nhưng thật thiếu sót và đáng buồn, bởi vì những đóng góp bằng mồ hôi công sức của các anh chị trong suốt quảng đường dài vừa qua đã không được đền bù một cách xứng đáng, về vật chất cũng như tinh thần, cho những thành quả mà các anh chị đã tạo ra.

Nhận thức đó là niềm đau, không phải của riêng các anh chị, mà còn ở những người có quan tâm muốn chia sẻ với các anh chị, phải nhận thấy có trách nhiệm tìm kiến phương thức giúp các anh chị đáp ứng được những nhu cầu trong đời sống khó khăn của các tầng lớp lao động nghèo.

Qua những thực tế gần đây cùng với xu thế phát triển chung của khu vực, nhu cầu cuộc sống bây giờ ngày càng lên cao, mà mức thu nhập của các anh chị không được gia tăng kịp thời, đời sống không được cải thiện đúng mức. Nỗi khổ đó đã dẫn đến những cuộc đình công ồ ạt khắp nơi trong thời gian qua, nhưng sự kiện nổi cộm đó vẫn không thúc đẩy được nhà nước có những thay đổi cụ thể với những quyền lợi đích thực của các anh chị.

Những băn khoăn, trăn trở về đời sống hằng ngày của các anh chị từ trước đến nay chưa thể biến thành hành động cụ thể, vì các khó khăn từ sự áp dụng chế tài quản lý của Đảng Cộng sản (ĐCS). Sự kềm toả này làm cho các anh chị đã thực sự bị bất lực trước mọi nguyện vọng chính đáng của mình, không tự làm chủ được chính mình, không thể hưởng hay có thể kiểm soát mọi quyền lợi, phúc lợi của mình được. Chính vì thực tế về nhu cầu chính đáng của các anh chị là hoàn toàn thích đáng, Hội Nghị Warszawa 2006 Về Quyền Lao Động Của Công Nhân Việt-Nam đã được tổ chức với chủ đề hội thảo là: (1) Kinh nghiệm đấu tranh của Công Đoàn Đoàn Kết Ba Lan, Ủy Ban Bảo Vệ Công Nhân Ba Lan, và các tổ chức lao động tại Âu châu, Úc Châu, và Bắc Mỹ. (2) Luật lao động và tình trạng công nhân tại Việt-Nam; (3) Những biện pháp đấu tranh cụ thể đòi quyền lợi cho công nhân Việt-Nam.

Một tuần lễ trước đó, một nỗ lực yểm trợ công nhân khác cũng đã được ra đời tại Hà Nội với danh xưng là Công Đoàn Độc Lập Việt Nam; tuyên bố sẽ “1. Bảo vệ quyền lợi chính đáng của người công nhân Việt Nam; 2. Giúp đỡ những công nhân găp khó khăn trong cuộc sống, lúc ốm đau, bệnh tật; 3.Nâng cao tình đoàn kết của giai cấp công nhân.” Dù thực tế chưa biết là công đoàn mới này sẽ có thể đem đến được sự trợ giúp cụ thể nào cho người lao động, song sự chấp nhận đối đầu với những khó khăn, thử thách trong điều kiện thực tế của Việt Nam hiện nay là một thiện chí đáng ca ngợi. Buổi hội thảo ở Ba-Lan và sự thành hình này đánh dấu một bước ngoặc rất quan trọng và vô cùng quí giá cho đời sống hiện thời cũng như tương lai của người công nhân Việt Nam.

Khi nào giới lao động Việt Nam có được một tổ chức công đoàn, hay nghiệp đoàn, có khả năng bảo vệ được quyền lợi của người công nhân, nông dân một cách thực tiễn thì lúc đó người lao động mới có được một mái nhà tinh thần đúng nghĩa. Đó sẽ là mái nhà thực sự của các anh chị -- là mái nhà mà các anh chị có thể sẽ được chính thức bảo vệ mọi mặt, về tinh thần cũng như cuộc sống, điều kiện làm việc, v.v.. Nó đồng thời cũng là nơi mà các anh chị có thể chia sẻ trọn vẹn những băn khoăn, lo âu về nghề nghiệp mà không sợ bị tù đày, mất việc. Nó cũng có thể sẽ trở thành chiếc cầu nối mang tinh thần khách quan và xây dựng giữa những người chủ doanh nghiệp với những người làm ra sản phẩm được hiểu nhau hơn, gần gủi, gắn bó nhau hơn. Từ đó sẽ tạo ra những thuận lợi, và là nền tảng tiến bộ không ngừng cho mọi sự phát triển chung của đất nước.

Thưa các anh chị,

Trong suốt chặng đường dài đã qua, sự quên lãng và rào cản đã xâm phạm đời sống và quyền lợi của các anh chị, thì nay ánh sáng, niềm vui và mái nhà địch thực đã đến với các anh chị -- những người công nhân Việt Nam thông minh, cần cù, chịu khó sẽ được chăm lo, sẽ được bạn bè quốc tế coi trọng.

Các anh chị sẽ là người chủ nhân đích thực, xứng đáng với mọi nỗ lực và nguyện vọng chính đáng của mình. Hãy gắng giữ gìn, chăm sóc và xây dựng thật rộng lớn mái nhà đích thực này vì nó là của các anh chị; là sự đền đáp mà những người có quan tâm đã tạo ra cho các anh chị.

Xin được chia sẻ niềm hi vọng này đến hàng triệu người công nhân Việt Nam. Cầu mong nó sẽ trở thành mái nhà đích thực, lớn rộng theo dòng thời gian cùng với mọi sự phát triển không ngừng của xã hội Việt Nam; xứng đáng với niềm tin và hy vọng của những người công nhân nói riêng và nhân dân Việt Nam nói chung.

Tuổi trẻ Việt Nam – Tương lai Đất nước



Các bạn thanh niên thân mến,

Phải nói rằng Việt Nam chúng ta có khá nhiều thuận lợi, vừa được thiên nhiên ưu đãi, vừa có nhiều nguồn tài nguyên đa dạng, phong phú.

Không những thế, con người Việt Nam bao đời nay với đức tính cần cù, siêng năng, chịu khó vừa lao động sản xuất, vừa anh dũng chiến đấu chống giặc ngoại xâm. Lịch sử Việt Nam với 4000 năm dựng nước và giữ nước đã khẳng định rằng: dân tộc Việt Nam là một dân tộc anh hùng với truyền thống đấu tranh bất khuất.

Hơn nữa, tuổi trẻ mọi thời đại chính là niềm tự hào dân tộc vì mỗi khi đất nước lâm nguy thì Việt Nam lại xuất hiện những anh hùng trẻ tuối dũng cảm, tài trí. Điều đó cho thấy rằng tuổi trẻ Việt Nam luôn suy nghĩ, lo lắng và quan tâm đến vận mệnh của dân tộc và luôn phát huy truyền thống anh hùng.

Mỗi người trong chúng ta ai cũng từng đi qua tuổi trẻ - tuổi của sức mạnh phi thường với sự căng tràn bầu nhiệt huyết, tuổi không chịu khuất phục trước khó khăn, và sẵn sàng chấp nhận hi sinh vì đạo nghĩa. Sức mạnh vô song của tuổi trẻ hô “sông kia sông phải chuyển, núi kia núi phải dời”. Sự xoay vần của tạo hóa giúp con người luôn có những cái nhìn mới mẻ, hiện đại và ngày càng có thêm sức mạnh muôn trùng.

Tuổi trẻ cả nhân loại đang ra sức tìm kiếm và xây dựng những thứ tưởng chừng như viễn tưởng nhưng nay lại trở thành hiện thực, như những thành tựu trong ngành công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, v.v... Họ có đủ điều kiện để phát huy hết khả năng nội lực của chính mình, họ có tự do trong suy nghĩ và hành động, họ có sự dân chủ trong mọi ý tưởng và lý tưởng, họ có được sự tôn trọng về thực quyền sáng tạo. Vậy thì tiềm năng và tương lai phát triển của mỗi quốc gia đều mong đợi và đều đặt niềm tin vào tuổi trẻ.

Tuổi trẻ Việt Nam những năm gần đây đã khẳng định được sức mạnh của chính mình trong mọi lĩnh vực như : kinh tế, khoa học kĩ thuật, giáo dục, v.v... Ngày càng xuất hiện nhiều nhà kinh doanh trẻ năng động; những nhà khoa học tài năng; đặc biệt là những thành tích của học sinh, sinh viên Việt Nam tham dự các kì thi Olympic khu vực và quốc tế.

Với sức mạnh nội lực của con người và tuổi trẻ Việt Nam, với sự ưu đãi của thiên nhiên, Việt Nam hoàn toàn đủ khả năng khẳng định và vươn lên trở thành một quốc gia hùng mạnh. Tuy nhiên trên thực tế chúng ta vẫn bị xếp vào những nước đang phát triển, còn nghèo nàn và lạc hậu.

Vậy thì cái nghèo là do đâu? Phải chăng đó là “thành tựu” của 60 năm lãnh đạo “tài tình, sáng suốt” của ĐCSVN? Giải phóng dân tộc, đưa đất nước không ngừng phát triển là những lời lẽ mà đảng CS đã, đang và còn lớn tiếng rêu rao. Nhưng thực tế ai trong chúng ta cũng đều thấy rằng: phát triển thì chưa thấy đâu nhiều mà nạn tham nhũng ngày càng gia tăng với mức độ đặc biệt nghiêm trọng. Vì vậy mà mấy ai trong chúng ta còn đủ niềm tin vào đảng CS, còn tin vào sự dân chủ, công bằng, tự do trong xã hội hiện nay?

Sáu mươi năm lãnh đạo của ĐCS là 60 năm chúng ta bị mất đi bao tài nguyên thiên nhiên, mất đi bao chất xám của mọi thế hệ, mất đi bao thực quyền của một con người- một con người theo đúng nghĩa. Những nội lực, đáng lẽ ra phải là vũ khí chiến lược để xây dựng Việt Nam thành một nước công nghiệp hiện đại nhưng thực ra chỉ là hàng trăm ngàn nỗi khổ đổ lên đầu người dân: nông dân thì mất đất, lang thang cơ cực; và công nhân bị vắt kiệt sức lao động trong các xí nghiệp, chỉ để làm giàu cho những kẻ có chức có quyền.

Có lẽ giờ đây chúng ta cũng đã hình dung được phần nào tương lai của đất nước sẽ ra sao dưới sự lãnh đạo của ĐCS. Liệu rằng tuổi trẻ của chúng ta chấp nhận khoanh tay nhìn dân tộc lâm nguy -- chấp nhận để đất Việt ngày càng nhỏ bé yếu ớt trong mắt bạn bè thế giới?

Để cứu lấy đất nước, xin hãy biến suy nghĩ thành hành động, chúng ta hãy bắt tay nhập cuộc cùng chung sức xây dựng một Việt Nam lớn mạnh.

Các bạn trẻ !!! Dù chúng ta xuất thân khác nhau, trình độ học vấn khác nhau, điều kiện sống khác nhau trong mỗi chúng ta có chung một dòng máu lạc hồng, đều có chung một thứ ngôn ngữ và đều có lòng nồng nàn yêu nước. Vì thế hãy cùng nghĩ đến vận mệnh của dân tộc, nghĩ đến tương lai của chúng ta và của cả con cháu chúng ta mà đấu tranh để giữ lấy hùng khí dân tộc. Chúng ta không cho phép bất kì một thế lực độc tài toàn trị nào hủy diệt sự sống của cả một dân tộc. Hãy đấu tranh để giành lấy bầu không khí của chính chúng ta -- bầu không khí của tự do, dân chủ, công bằng. Vì vậy chỉ có một lộ trình dân chủ thực sự mới đưa dân tộc chúng ta, đất nước chúng ta tiến tới hòa bình - tự do - ấm no - tiến bộ như mong đợi của nhân dân ta từ bấy lâu nay.--


Trong cơn lốc phát triển không ngừng của nhân loại, Việt Nam cũng từng bước nhập cuộc, nhưng lại bằng những bước đi thật khập khiễng. Chính sách đóng cửa nền kinh tế và áp đặt mô hình kinh tế tập trung quan liêu bao cấp, đã kéo Việt Nam lún sâu vào vũng lầy tụt hậu, kinh tế trì trệ không phát triển, đời sống nhân dân cơ cực, bấp bênh.

Đến năm 1986 đảng CS nhận ra sai lầm của mình và bắt đầu mở cửa kinh tế, kêu gọi đầu tư nước ngoài. Nhưng nhìn lại một cách khách quan hai mươi năm đổi mới ấy, Việt Nam thực sự đã đạt được những gì? Có phải chăng thực chất kết quả mặt nổi mà đảng CS gọi là thành tựu trong thời kỳ đổi mới chỉ là cái vỏ bọc bên ngoài. Nó che lấp đi những mất mát mà cả dân tộc phải gánh chịu. Chưa kể, nó đang gây ra những hậu quả cho các thế hệ con cháu chúng ta.
Những hoạch định mà đảng CS tung hô là đúng đắn, là sáng suốt ấy lại gây ra cho nước ta những khoản nợ khổng lồ, tình trạng lạm phát không ngừng gia tăng, và các tệ nạn xã hội ngày càng nghiêm trọng. Nguy hại hơn nữa, khi Việt Nam chưa là một nước phát triển, thì tình trạng ô nhiễm môi trường lại được xếp vào hàng đầu, ngang hàng với mức độ ô nhiễm của những nước công nghiệp lớn.

Mặt khác, khi nhà nước cho đầu tư ồ ạt các dự án, tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn, thu hồi đất canh tác của người nông dân để xây dựng nên những khu công nghiệp, khu đô thị, thì lợi ích chung đâu chưa thấy, mà chỉ thấy vô số nhân dân phải lâm cảnh khốn khổ. Vì không có cách nào khác hơn là phải chấp hành lệnh của nhà nước, người nông dân đã phải chịu thiệt thòi khi chấp thuận mức giá đền bù. Tuy nhiên, khi các địa phương áp dụng thực thi bồi thường thì chỉ còn 10%-20% so với mức giá quy định, thậm chí còn bị giải tỏa trắng. Thực tế ấy đã chỉ ra rằng nhà nước đã chỉ chạy theo những lợi hời hợt bên ngoài, và không màng đến tác động, hậu quả mà những dự án gây ra. Nhưng tình trạng cưỡng chế không phải chỉ là để thực thi kế hoạch công nghiệp hoá, mà trong nhiều trường hợp là do đám tham quan cậy quyền ngang nhiên cướp đất của người dân để chia chác làm tài sản riêng, bất chấp luật pháp và tiếng than oán của gia đình các nạn nhân.

Vì lý do đó, nhiều người phải chịu sống trong cảnh màn trời chiếu đất, thiếu thốn, lang thang cơ cực còn bị o ép đủ điều. Cảnh đội đơn đi đến các ngành TW ngày càng nhiều. Nhưng vì sự độc tài bao bọc, đến tòa án thì tòa án xử sai, báo chí mất đi quyền tự do ngôn luận, đến TW thì nhận được những văn bản, công văn đưa về các địa phương, và địa phương cũng chỉ coi là những tờ giấy lộn; trình lên chuyển xuống rồi đi vào im lặng, kéo dài theo năm tháng. TW chẳng có quyền uy gì nữa, hay đó là sự bao che từ trên xuống dưới? Đắng cay hơn nữa là họ còn bị địa phương trù dập, bắt bớ khi đi khiếu nại tố cáo… Vậy thì người dân biết tìm đâu sự công bằng? Cán cân công lý ởû đâu? Tại sao người dân lành phải gánh chịu sự lộng hành từ nạn cửa quyền, tham ô lũng loạn của cán bộ các cấp?

Từ chỗ không còn đất đai, nhiều nông dân và cả con cái họ phải bán sức lao động của mình một cách rẻ mạt cho các công ty, nhà máy sản xuất với đồng lương thấp, thời gian lao động kéo dài. Điều đáng nói hơn những quyền căn bản của người công nhân lại không được các tổ chức công đoàn bảo vệ. Bởi lẽ công đoàn chỉ là cánh tay trá hình của quyền lực. Chính vì vậy mà người công nhân không có quyền bãi công, không có quyền đòi hỏi quyền lợi. Nếu có nơi nào dám lên tiếng thì lập tức bị công đoàn, công an ngang nhiên dập tắt, đàn áp.

Những điều nói trên là những minh chứng thực tế nhất về sự thiếu dân chủ, tự do, ấm no và tiến bộ. Điều đó phải được lên án và loại bỏ để trả lại sự công bằng cho người lao động Việt Nam.