Thứ Hai, 18 tháng 6, 2007

Lối thoát nào cho người lao động?


Trong cơn lốc phát triển không ngừng của nhân loại, Việt Nam cũng từng bước nhập cuộc, nhưng lại bằng những bước đi thật khập khiễng. Chính sách đóng cửa nền kinh tế và áp đặt mô hình kinh tế tập trung quan liêu bao cấp, đã kéo Việt Nam lún sâu vào vũng lầy tụt hậu, kinh tế trì trệ không phát triển, đời sống nhân dân cơ cực, bấp bênh.

Đến năm 1986 đảng CS nhận ra sai lầm của mình và bắt đầu mở cửa kinh tế, kêu gọi đầu tư nước ngoài. Nhưng nhìn lại một cách khách quan hai mươi năm đổi mới ấy, Việt Nam thực sự đã đạt được những gì? Có phải chăng thực chất kết quả mặt nổi mà đảng CS gọi là thành tựu trong thời kỳ đổi mới chỉ là cái vỏ bọc bên ngoài. Nó che lấp đi những mất mát mà cả dân tộc phải gánh chịu. Chưa kể, nó đang gây ra những hậu quả cho các thế hệ con cháu chúng ta.
Những hoạch định mà đảng CS tung hô là đúng đắn, là sáng suốt ấy lại gây ra cho nước ta những khoản nợ khổng lồ, tình trạng lạm phát không ngừng gia tăng, và các tệ nạn xã hội ngày càng nghiêm trọng. Nguy hại hơn nữa, khi Việt Nam chưa là một nước phát triển, thì tình trạng ô nhiễm môi trường lại được xếp vào hàng đầu, ngang hàng với mức độ ô nhiễm của những nước công nghiệp lớn.

Mặt khác, khi nhà nước cho đầu tư ồ ạt các dự án, tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn, thu hồi đất canh tác của người nông dân để xây dựng nên những khu công nghiệp, khu đô thị, thì lợi ích chung đâu chưa thấy, mà chỉ thấy vô số nhân dân phải lâm cảnh khốn khổ. Vì không có cách nào khác hơn là phải chấp hành lệnh của nhà nước, người nông dân đã phải chịu thiệt thòi khi chấp thuận mức giá đền bù. Tuy nhiên, khi các địa phương áp dụng thực thi bồi thường thì chỉ còn 10%-20% so với mức giá quy định, thậm chí còn bị giải tỏa trắng. Thực tế ấy đã chỉ ra rằng nhà nước đã chỉ chạy theo những lợi hời hợt bên ngoài, và không màng đến tác động, hậu quả mà những dự án gây ra. Nhưng tình trạng cưỡng chế không phải chỉ là để thực thi kế hoạch công nghiệp hoá, mà trong nhiều trường hợp là do đám tham quan cậy quyền ngang nhiên cướp đất của người dân để chia chác làm tài sản riêng, bất chấp luật pháp và tiếng than oán của gia đình các nạn nhân.

Vì lý do đó, nhiều người phải chịu sống trong cảnh màn trời chiếu đất, thiếu thốn, lang thang cơ cực còn bị o ép đủ điều. Cảnh đội đơn đi đến các ngành TW ngày càng nhiều. Nhưng vì sự độc tài bao bọc, đến tòa án thì tòa án xử sai, báo chí mất đi quyền tự do ngôn luận, đến TW thì nhận được những văn bản, công văn đưa về các địa phương, và địa phương cũng chỉ coi là những tờ giấy lộn; trình lên chuyển xuống rồi đi vào im lặng, kéo dài theo năm tháng. TW chẳng có quyền uy gì nữa, hay đó là sự bao che từ trên xuống dưới? Đắng cay hơn nữa là họ còn bị địa phương trù dập, bắt bớ khi đi khiếu nại tố cáo… Vậy thì người dân biết tìm đâu sự công bằng? Cán cân công lý ởû đâu? Tại sao người dân lành phải gánh chịu sự lộng hành từ nạn cửa quyền, tham ô lũng loạn của cán bộ các cấp?

Từ chỗ không còn đất đai, nhiều nông dân và cả con cái họ phải bán sức lao động của mình một cách rẻ mạt cho các công ty, nhà máy sản xuất với đồng lương thấp, thời gian lao động kéo dài. Điều đáng nói hơn những quyền căn bản của người công nhân lại không được các tổ chức công đoàn bảo vệ. Bởi lẽ công đoàn chỉ là cánh tay trá hình của quyền lực. Chính vì vậy mà người công nhân không có quyền bãi công, không có quyền đòi hỏi quyền lợi. Nếu có nơi nào dám lên tiếng thì lập tức bị công đoàn, công an ngang nhiên dập tắt, đàn áp.

Những điều nói trên là những minh chứng thực tế nhất về sự thiếu dân chủ, tự do, ấm no và tiến bộ. Điều đó phải được lên án và loại bỏ để trả lại sự công bằng cho người lao động Việt Nam.

Những ngày cùng với nhân dân


Nhân loại đã bước sang thế kỉ 21- thế kỉ của nền đại công nghiệp, của khoa học thông tin, và đó cũng là thế kỉ của tự do, dân chủ, công bằng xã hội. Đánh giá một cách khách quan trên bình diện rộng, thì ở những nước tiến bộ, nhân quyền, dân chủ của mọi tầng lớp nhân dân luôn được bảo vệ, đề cao. Đó là quyền lợi mà không một ai, không một thế lực nào có thể xâm phạm được. Vậy mà ở Việt Nam, một đất nước mà nhà nước luôn tuyên bố là hoàn toàn tự do, nhưng mảnh đất này đâu đã xuất hiện sự dân chủ, nhân quyền; đâu đã được bảo vệ một cách an toàn trong vòng tay pháp luật và công bằng; đâu đã thuộc về người dân như nhà nước nói!!!

Suy nghĩ, cảm tưởng mà tôi nêu ở trên về những bất cập trong cuộc sống xã hội Việt Nam hiện nay là hoàn toàn có căn cứ. Bởi lẽ, khi được trực tiếp trao đổi, tâm tình với người dân nghèo ở nhiều địa phương, tôi mới có điều kiện để hiểu biết và suy ngẫm về mặt trái tiêu cực, thoái hóa, biến chất của xã hội Việt Nam; của các vị được gọi là lãnh đạo chủ chốt của nhà nước hiện nay. Với vai trò là cộng tác viên, tôi có nhiều điều kiện đi sâu, thâm nhập vào cuộc sống xã hội để nhận thấy bản chất sâu mọt, vị kỉ của các vị lãnh đạo quan chức từ TW đến địa phương. Và từ đó mới đồng cảm, thấu hiểu một cách sâu sắc nỗi thống khổ mà những người dân thấp cổ bé họng đang phải gánh chịu. Hình ảnh “người đè người, người dẫm lên người” để tồn tại đâu phải là hình ảnh ở một xứ có tự do, hòa bình và bác ái!!!

Trong mỗi chuyến công tác, khi trực tiếp tiếp xúc với những người dân đang phải oằn mình chống chọi với những bất công mà chính quyền XHCN gây nên, tôi không khỏi xót xa cay đắng. Tôi muốn chỉ ra đây một thực trạng là cảnh tượng người dân từ mọi miền Tổ Quốc kéo về thủ đô Hà Nội khiếu kiện tố cáo ngày càng gia tăng. Phải chăng số lượng người dân vượt cấp lên TW khiếu nại là một biểu hiện rõ nét nhất về sự bất công ngày một nhiều hơn? Một xã hội thật sự công bằng thì người dân đâu phải kiện cáo nhiều đến vậy?!!

Nhưng tôi không khỏi băn khoăn là liệu những người dân nghèo kia có thể giành lại cho mình quyền lợi chính đáng đã mất, và liệu họ có bị chính quyền địa phương trù dập sau khi lên TW khiếu kiện hay không?

Khi gặp gỡ và trao đổi với người dân, tất cả đều mong muốn và hi vọng tôi có thể giúp họ nói lên tiếng nói, bênh vực lẽ phải, giành lại công bằng. Họ mong rằng những hành vi đè nén, áp bức, cưỡng đoạt của chính quyền các cấp được dư luận thế giới biết đến. Họ muốn vạch trần bộ mặt thật của những kẻ luôn miệng hô to khẩu hiệu “là người đầy tớ trung thành của nhân dân”.

Xót xa thay cho cảnh 10 năm, 20 năm… đội đơn đi tìm công lý! Đau thương thay cho nỗi bất bình tột độ: “Tôi xin chết để chứng minh lòng mình ơn nhờ chính nghĩa phân minh…kẻ tử tiết này xin đem đầu đi kêu oan cho dân!” Những người dân hiền lành ấy đâu có tội lỗi gì? Họ tần tảo làm lụng trên những mảnh vườn bờ lúa. Nhưng vì lòng tham mà các cán bộ, những người lẽ ra phải hết lòng phụng sự nhân dân, lại sẵn sàng bóp méo đi những dự án để cưỡng đoạt tài sản, đất đai của người dân, đẩy nhân dân vào cảnh lầm than cơ cực. Phải chăng những mái nhà tranh của người dân là những “ viên gạch” xây nên những tòa biệt thự trị giá hàng tỉ đồng của cán bộ các cấp!!! Như vậy ai là “đầy tớ”của ai??? Vì được chứng kiến những bất công ấy, tôi luôn tự nhủ với lòng mình phải gắng hết sức, phải đem bầu nhiệt huyết của tuổi trẻ để góp phần đấu tranh, vạch trần những mặt trái của xã hội, đem những vết đen ấy phơi bày ra ngoài ánh sáng.

Nếu trong bạn đang chảy dòng máu Việt thì xin hãy lưu tâm đến cuộc sống đau khổ của đồng bào! Xin hãy góp một tiếng nói để giành lại công bằng cho xã hội. Xin hãy thể hiện bằng hành động đấu tranh, để góp phần xây dựng một nước Việt Nam mới thật sự có hòa bình, tự do, ấm no và tiến bộ. Chúng ta, những chủ nhân của đất nước, là nòng cốt, là sinh khí quốc gia, phải có trách nhiệm đưa Việt Nam trở thành một quốc gia thật sự tiến bộ mà nơi ấy, cuộc sống của người dân thật sự có công bằng, dân chủ.

Thanh Hùng

CSVN tiếp tục đàn áp Đảng Vì Dân, bắt giữ Sinh viên ĐẶNG HÙNG

Thông báo số 5 của Đảng Vì Dân

CSVN tiếp tục đàn áp Đảng Vì Dân, bắt giữ Sinh viên ĐẶNG HÙNG

17.06.2007

Kính gửi: - Các đoàn thể, cơ quan nhân quyền, truyền thông, báo chí Việt Nam và Quốc tế.

- Đồng bào trong và ngoài nước.


Tiếp theo sau cuộc bắt giữ Ký giả Trương Minh Đức, nhà cầm quyền CSVN đã bắt giam một thành viên khác của Đảng Vì Dân là Sinh viên Đặng Hùng.

Sinh viên Đặng Hùng sinh năm 1981, cư trú tại Thị xã Hải Phòng. Theo thông tin nhận được từ Việt Nam, anh bị công an TP.HCM bắt ngày 17/05/2007 tại khu công nghiệp tỉnh Bình Dương. Đến nay, nhà cầm quyền Việt Nam không thông báo với gia đình sinh viên Đặng Hùng về lý do, tình trạng và nơi anh bị giam giữ.

Sinh viên Đặng Hùng là một thanh niên có tư cách và đạo đức. Anh theo đạo Phật, ăn chay trường và là người rất hoà nhã.

Sinh viên Đặng Hùng là người đại diện phân phối Tập san Hoa-Mai ở miền Bắc Việt Nam . Anh đã tích cực trợ giúp cho nhiều đồng bào dân oan (từ Bắc chí Nam ) khiếu kiện, và làm đơn tố cáo tình trạng tham nhũng, bất công. Sinh viên Đặng Hùng đồng thời đã tạo điều kiện để nhiều bà con dân oan lên tiếng đấu tranh cho quyền lợi của những người bị chèn ép, bóc lột trong chương trình phát thanh của đài Radio Hoa-Mai.

Sinh viên Đặng Hùng là tác giả một số bài viết đăng tải trên Tập san Hoa-Mai với bút danh Thanh Hùng. Kể từ đầu năm 2007, anh cũng đã lên tiếng khẳng định chính nghĩa của phong trào đấu tranh đối lập ôn hoà trong chương trình Việt ngữ của các đài quốc tế như VOA, Chân Trời Mới, v.v...

Các bài viết và phát biểu của Sinh viên Đặng Hùng gồm có:

· 01.05.2006: Những ngày cùng với nhân dân

· 01.06.2006: Lối thoát nào cho người lao động?

· 01.08.2006: Tuổi trẻ Việt Nam – Tương lai Đất nước

· 01.11.2006: Mái nhà đích thực của người Công Nhân Việt Nam

· 01.05.2007: Không có tự do ứng cử -- Không bầu cử!

· Đ;ặng Hùng: người sinh viên chống bất công xã hội

Đảng Vì Dân đánh giá cao tinh thần dấn thân, hy sinh của Sinh viên Đặng Hùng, và tin tưởng rằng anh sẽ tiếp tục đóng góp cho tiến trình đấu tranh cho dân chủ tự do, công bằng xã hội và quyền lợi của dân nghèo khi có điều kiện thuận hợp.

Theo qui ước đã được đồng thuận trước với anh Đặng Hùng, VPLLHN/ĐVD nay kính báo tin đàn áp này đến quý đoàn thể, cơ quan nhân quyền, truyền thông, báo chí cùng toàn thể đồng bào ở trong và ngoài nước. Kính đề nghị quý vị cùng lên tiếng phản đối các hành động đàn áp nhân quyền của CSVN đối với sinh viên Đặng Hùng, ký giả Trương Minh Đức và những chiến sĩ dân chủ ôn hòa trong thời gian qua.

Đảng Vì Dân đồng thời yêu cầu nhà cầm quyền CSVN hãy trả tự do cho Sinh viên Đặng Hùng và ký giả Trương Minh Đức, cùng những người ôn hoà đấu tranh cho dân chủ tự do đang bị giam cầm vì sự thể hiện bất đồng chính kiến.

Trân trọng thông báo,

Ngày 17 tháng 06 năm 2007

Nguyễn Công Bằng

Đại diện VPLLHN/ĐVD

Mừng Ngày Quân Lực 19-6 - TỈM LẠI CHÍNH MÌNH


Tìm Lại Chính Mình
Đỗ Văn Phúc

Tôi là người lính Bộ binh. Người lính với đầy đủ tư chất và tác phong của một người cầm súng chiến đấu nơi những tuyến lửa đầu gian khổ và hiểm nguy. Bởi yêu đời lính nên tôi đã rời ghế nhà trường tòng quân khi tuổi thanh xuân chưa hưởng được một ngày trọn vui cho đúng ý nghĩa của nó. Mà trong hàng triệu thanh niên thời bấy giờ có mấy ai vui trọn vẹn khi đất nước đang chịu cảnh khói lửa lầm than; khi đồng bào từ thành thị đến thôn quê miền Nam hàng ngày đêm đối diện với bom rơi đạn lạc, với khủng bố điên cuồng của bọn cộng quân. Mười tám tuổi, tôi trốn mẹ tìm cách tham gia quân ngũ. Cơm sấy nhà binh khô sặc quanh năm thay cho những thức ăn ngon ngọt mẹ tự tay đi chợ mua nấu cho vừa ý con. Giường nhà binh võng đu đưa giữa rừng mưa dầm nắng cháy thay cho chiếc giường êm đêm đêm mẹ kê gối giăng mùng. Ra đi bỏ mẹ già nơi một thị xã nhỏ miền Trung để tìm an bình cho mẹ quê hương. Tôi đã quá mê những bài thơ đầy hùng khí của Nguyễn Công Trứ, khích động chí trai tang bồng hồ thỉ. Tôi cũng tâm đắc bài Tống Biệt Hành của Thâm Tâm mà lời thơ vừa bi hùng, vừa tráng lệ.

“Ly khách, ly khách con đường nhỏ,

Chí lớn chưa về bàn tay không.

Thì không bao giờ nói trở lại,

Ba năm mẹ già cũng đừng trông.”

Ấy thế là chàng trai hai mươi tuổi tròn vừa mới giã từ quân trường Ðà Lạt sương mờ để nhập mình vào cuộc chiến mà ngày về thì mong manh cũng như sương khói miền cao. Một sáng tháng năm ba mươi tám năm về trước, tôi thấy mình cùng hai bạn lắc lư trên chiếc xe GMC tiếp tế từ hậu cứ Trung đoàn 8 Bộ binh ra đáo nhận đơn vị. Ba chàng tân sĩ quan áo quần còn thẳng nếp, giày sô bóng loáng bám chặt vào thành xe nhìn ra xa hai bên con đường bụi mù đất đỏ miền Ðông. Con đường thì gập gềnh, lỗ chỗ những hố bom. Hàng chục năm hình như chỉ có xe nhà binh qua lại. Hai bên, thuốc khai quang đã mở rừng ra một khoảng trống dễ đến trăm mét. Cây chồi đã mọc lên chen chúc với các cành cây gãy gục do bom đạn chém nát. Nơi đây những năm giữa thập niên 60, Cộng quân đã mở những trận đánh đẫm máu; để lại trong quân sử những địa danh Hố Bò, Bời Lời, Chánh Lưu, Nhà Ðỏ. Ði xa thêm về hướng Bắc là Ðồng Xoài, Bù Na, Bù Ðốp.. Cứ nghe đến là đã rợn người. Thảo nào thanh niên Sài gòn đi lính xa đâu thì xa, chứ về Sư Ðoàn 5 là ngại lắm. Chẳng phải họ nhát sợ cái chết binh đao. Vì quân nhân thì dù đơn vị tác chiến nào cũng ngày đêm đối diện với hiểm nguy. Chẳng qua cái đơn vị mang phù hiệu ngôi sao trắng trên nền xanh lá cây rừng gánh chịu một chiến trường nặng nề nhất miền Nam, chỉ sau Trị Thiên của sư đoàn 1 bộ binh mà thôi. Chiến khu D chạy xuyên qua hết nửa lãnh thổ sư đoàn là con đường chiến lược của Cộng quân, là sào huyệt của bọn côn đồ Mặt trận Giải phóng Miền Nam. Vì thế, người lính sư đoàn 5 chạm địch gần như thường ngày; mà toàn là những trận long trời lỡ đất; những trận mà tổn thất lên đến hàng trăm người một lúc.

Năm tôi về Sư đoàn, là lúc đơn vị đang được vực lên nhờ những cấp chỉ huy can trường và đãm lược. Sư đoàn đã được 6 lần tuyên dương công trạng trước quân đội. Người lính hãnh diện mang trên vai dây biểu chương màu đỏ thấm bao máu đồng đội anh hùng.

Ða số các cấp tiểu đoàn trưởng ngày đó thuộc các khoá 18, 19 Võ bị. Vũ Huy Thiều lên Ðại úy sau chiến thắng Phước Quả, nắm tiểu đoàn 4 nơi tôi bắt đầu thực hành chiến sự. Tiểu đoàn đang dừng quân ở Chánh Lưu. Tôi được phân bổ về Ðại đội 16 đi cà nhỏng theo các trung đội một thời gian cho quen mặt lính. Mấy tay chuẩn uý trung đội trưởng cùng lưá tuổi tôi nên chúng tôi mau chóng thân thiết. Ngày đó các đại đội đã có sẵn các đại đội phó. Chúng tôi trở thành dư thừa trong đơn vị. Chẳng có quân, thì chẳng có quyền, chẳng thể có uy. Nhưng chiến trường không để cho chúng tôi thất vọng lâu. Sau trận ác chiến giải vây cho đơn vị bạn bị phục kích trên chặng đường từ Bù Na đi Phước Bình, Ðại Uý Thiều đã gửi gấm chúng tôi lại cho vị Tiểu đoàn trưởng mới là Thiếu tá Nguyễn Nhơn và sau đó là Đại Úy Nguyễn Chí Hiền với nhiều lời khích lệ. Khi tôi từ Tổng Y viện Cộng Hoà trở về tái nhậm, Dương Quang Bồi đã coi đại đội 16. Tôi theo Trung Uý Nguyễn Hữu Ðát học nghề một vài tháng sau cũng nắm luôn đại đội 15. Nhơn được cho về coi đại đội chỉ huy. Chỉ còn 14 dành cho Ðèo Chính Tường khoá 24 Thủ Ðức. Bốn chúng tôi thân thương nhau như anh em ruột thịt. Ba đưá kia chưa vợ con, bồ bịch rải rác khắp hang cùng ngõ hẹp từ Bến Cát, An Lộc, Lộc Ninh, Bình Dương, Sài Gòn. Nhưng hành quân về là dồn nhau lên một chiếc xe jeep kiếm chỗ nhậu nhẹt một chầu lúy tuý mới chịu cho tách riêng hú hí với tình nhân. Ngày đó có chị Hai chủ một tiệm cà phê lịch sự ở ngay sát chợ Bình Dương rất thương chúng tôi. Lần nào kéo nhau về chị cũng đãi cho một bữa ăn ngon. Chúng tôi coi chị như chị ruột, và cư xử tự nhiên như các em út trong gia đình. Ngày đó có quán Tam Nương gồm ba chị em xinh xắn mà biết làm đồ nhậu trứ danh. Ðến đó lúc nào cũng gặp đủ giang hồ hào kiệt của Sư đoàn; từ các quan to ở Bộ tư lệnh xuống đến các anh em Trinh sát ngang tàng. Ðời lính bộ binh tuy vậy không thiếu chất thơ. Những chiều dừng quân góc rừng xa vắng, vặn nhỏ chiếc radio bỏ túi nghe nhạc hậu phương, thứ nhạc nào cũng hay, ca sĩ nào cũng mến. Dù rằng khi còn thời học sinh, rất kén nhạc, kén ca sĩ; chỉ mê được giọng ca Thái Thanh, Châu Hà, Kim Tước, Quỳnh Dao... Rừng miền Ðông không có hoa cài thép súng thi vị như lời nhạc của Lam Phương, mà chỉ có chập chùng bóng đêm đe dọa; chỉ có mìn bẫy giăng đầy, hố bom sâu hun hút với những xác thú vật, xác người đã thối rữa. Ôi những con người “Sinh Bắc Tử Nam”, những người cũng trẻ tuổi như chúng tôi, cũng để lại trên miền Bắc nghèo nàn người mẹ già, đàn em nhỏ hay người vợ trẻ quê mùa để ra đi và bỏ xác trên chiến trường miền Nam xa xôi. Chắc chắn họ gian khổ hơn chúng tôi; và cũng chắc chắn họ chết uất ức và đau đớn hơn chúng tôi, vì họ đã chết cho những tham vọng ngông cuồng của những người lừa bịp họ.

Ðã nói đến bộ binh, thì không phải anh hùng chỉ là những anh sĩ quan chỉ huy. Tôi thương những lính khinh binh. Họ là những người luôn luôn đi đầu trong hành quân. Họ là người đầu tiên đón nhận viên đạn rình mò từ góc bụi nào đó, hay cũng là người đầu tiên đạp lên chiếc mìn để rồi tung xác lên và chỉ còn nắm thịt vụn. Họ là những người mỗi đêm phải mở mắt, chong súng canh gác hàng giờ cho đồng đội. Họ chỉ ăn cơm sấy và khô sặc ngày hai lần, hoặc nướng hoặc xé ra nấu canh chua lá vang. Họ là những người chia nhau từng ngụm nước lấy từ hố bom còn tanh mùi thịt rữa. Họ mang nặng trên lưng hành trang, vũ khí hàng chục kí lô, lặn lội mỗi ngày hàng chục cây số đường rừng, để khi dừng quân là khom lưng đào hào, đắp hố. Tôi có những người lính nông dân miền Tây chân chất và ít học. Có anh em cả năm chưa gặp gia đình một lần, có anh chết chưa hề thấy mặt đưá con mới đầu mới sanh, có anh vợ cưới chưa nồng hương lửa đã vĩnh viễn ra đi. Nhiều anh trở về với tấm thân tàn phế, được sống là điều may mắn nhưng chua hẳn hạnh phúc. Nếu may ra gặp người vợ thủy chung nuôi nấng thì cũng suốt đời mang mặc cảm phế nhân làm gánh nặng cho gia đình.

Chúng tôi đánh nhau quanh năm. Trận này chưa hồi sức thì lại tham gia vào trận mới. Tuy tổn thất coi là nhẹ so với tổn thất của địch, nhưng mỗi cái chết đều mang lại những cảm xúc khó lường. Lính cũ một ngày một vơi, những khuôn mặt mới xuất hiện, lại phải hướng dẫn, kềm cặp cho dạn chiến trường.

Trận Trapeang Leak bên xứ Chùa Tháp xa xôi nuốt trọn quân số gần trăm người của Tiểu đoàn sau hơn một tuần giao tranh khốc liệt. Tiểu đoàn bị đánh bất ngờ, không kịp trở tay; phải tan tác sau hơn một giờ cầm cự. Trong vòng vây kín của quân thù, Tường, Nhơn, Tòng, Mâu cùng vài quân sĩ nằm trong hố chiến đấu kẹt lại giữa hàng hàng lũ lũ của bọn lính trung đoàn 174, Công trường 5. Bọn quạ đỏ đi lùng xục khắp chiến địa còn ngỗn ngang xác chết, súng đạn để kết liễu cuộc sống của những người lính miền Nam bị thương không thoát ra kịp. Chúng tôi đã tập hợp lại hàng ngũ. Sống chết cũng trở lại giải vây cho các bạn. Bồi bị thương, giải ngũ. Tòng về vùng 4. Tôi về Không quân. Mâu bỏ xác đất Snuol.

Hai năm sau, có dịp từ căn cứ Không quân Phan Rang về Sai Gòn công tác, tôi mua mấy chai rượu quá giang trực thăng tải thương ra tận chiến trường thăm các bạn. Tường, Nhơn đều làm Tiểu đoàn trưởng. Uống với nhau hàn huyên trọn một đêm giữa rừng; xung quanh là quân thù dày đặc. Thế mà chỉ vài tháng sau, lần lượt nghe tin Tường, rồi Nhơn đều hy sinh. Ðúng là cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi. Ngay cả dàn đại đội phó, trung đội trưởng của chúng tôi ngày trước, cũng chẳng mấy ai còn sống sót.

Tôi kể chuyện bộ binh, mà không quên rằng những anh em đồng đội các binh chủng khác cũng chiến đấu hào hùng gian nan có khi còn gấp bội. Họ là những người lính Dù, Biệt Ðộng, Thủy Quân Lục Chiến hay Lực Lượng Ðặc biệt, mà binh nghiệp đã là sự lựa chọn dứt khoát. Họ quả cảm và thiện chiến hơn người lính bộ binh. Tôi cũng không quên những người lính Ðiạ phương, Nghĩa quân âm thầm nơi các làng mạc xa. Họ cũng chết cái chết anh dũng, họ cũng nhận lãnh những vết thương cắt đứt phần thân thể dấu yêu. Nói chung người lính miền Nam đã rất anh hùng và rất xứng đáng với các tượng đài ghi công; xứng đáng với tất cả những lời khen tặng của hậu phương. Dù cuộc chiến đã kết thúc mà phần thua thiệt về phía chúng ta, ngày nay không ai có thể phủ nhận cái lý tưởng mà chúng ta đã hy sinh là cao quý. Lý tưởng đó đã thắng thế trên gần nữa địa cầu chôn vùi chủ nghĩa Cộng sản phi nhân. Lý tưởng đó cũng đang được thắp sáng tại đất nước thân yêu, chờ ngày chôn vùi bọn cầm quyền ngoan cố.

May mắn sống còn qua cuộc chiến, mỗi lần đi qua nghĩa trang quân đội trên đường Sài Gòn Biên Hoà, nhìn bức tượng Tiếc Thương mà lòng se lại. Hình ảnh người lính ngồi, cây súng kê ngang đùi, khuôn mặt trầm buồn, u uẩn. Như phảng phất đâu đây hương hồn của các anh em chúng ta, những chàng trai tuổi đời vừa chớm đã hy sinh cả cuộc sống cho sự tồn vong của miền Nam tự do. Cả thế hệ thanh niên chúng tôi dã lên đường, chiến đấu hào hùng như thế đó. Ðã gian khổ, hy sinh như thế đó. Ðã để cho những kẻ hèn nhát trốn tránh hưởng lợi và bán rẻ miền Nam qua các hành vi lũng đoạn, tham nhũng, đấu tranh nối giáo cho giặc. Rồi cũng chúng tôi lũ lượt kéo nhau vào các trại tù cải tạo chịu thêm hàng chục năm khổ nhục đọa đày. Ngày ra tù, mấy ai còn giữ lại được phong thái hào hùng, lanh lẹ ngày xưa!

Cộng sản đã kéo đổ bức tượng Tiếc Thương. Cộng sản đã san bằng khu mộ chiến sĩ anh hùng. Cộng sản đã luà hàng trăm ngàn thương phế binh miền Nam ra đường. Anh em ta phải lê tấm thân tàn phế đi xin ăn, mong chờ lòng thương xót của đồng bào mà ngày xưa họ đã đổ máu để bảo vệ.

Những người may mắn ra đi, vượt thoát qua bên này bờ đại dương còn lại bao nhiêu người đang tiếp tục chiến đấu? Bao nhiêu người nhìn nhận chính mình, chứ không phải bọn Bắc Bộ Phủ, là kẻ chiến thắng trong cuộc chiến tranh vĩ đại mang màu sắc ý thức hệ của thế kỷ 20. Một ngày không xa, chỉ trong thế hệ chúng ta, những bức tượng anh hùng Cộng sản sẽ bị kéo xuống, xẻ nát ra lấy đồng đúc làm công cụ phục vụ sản xuất. Và sẽ thế vào đó những bức tượng người lính Cộng Hoà đã oan ức bị khai tử bởi quyền lợi của siêu cường.

Dù phải chờ đợi thời gian để tái dựng bức tượng Tiếc Thương, thì tôi cũng không thể nào quên một bức tượng vô hình mà trong tận cùng trái tim người miền Nam luôn luôn nuôi dưỡng. Ðó là một tình cảm gắn bó, cảm phục, tiếc thương đối với chúng ta. Bức tượng đó cũng chính là cái nhìn đã thay đổi của nhiều cán bộ và nhân dân miền Bắc đối với chúng ta sau những năm dài chiêm nghiệm sự bất lực, ngu dốt của bọn lãnh đạo Cộng sản.

Hơn 70 năm sau, người Nga lưu vong đã trở về quê hương mình, làm sống lại lá cờ tưởng đã bị chôn vùi vĩnh viễn. Con đại bàng lại hiên ngang ngự trị trên tháp khải hoàn thành phố Berlin. Tại sao không phải là hình ảnh Nguyễn Khoa Nam, Lê Nguyên Vỹ trên thành phố Sài Gòn sau năm 2000 nhỉ?

Nhưng trước hết là bức tượng đã được dựng lên tại thủ đô tị nạn quận Cam mà các giới chức Hoa Kỳ đã chấp thuận dự án với kinh phí lớn lao hơn năm trăm ngàn Mỹ kim. Chúng ta chắc rất muốn nhìn lại hình ảnh chính mình bên cạnh người lính đồng minh, mà lịch sử Hoa Kỳ cũng đã có thời quay lưng đem lại cho họ nhiều tủi nhục. Họ đang được phục hồi trong con mắt, tầm suy nghĩ của quần chúng. Tuy muộn còn hơn không. Chúng ta cũng có quyền lên tiếng đòi hỏi được trả lại vị trí xứng đáng khỏi những thiên kiến do chính cơ quan truyền thông Hoa Kỳ đã tạo ra những năm chiến tranh.

Chúng ta hãy nhìn lại chính mình, không mặc cảm tự ti hay tự tôn. Hãy ôn lại quá khứ anh hùng để đứng vững trong giây phút cuối của cuộc chiến cho nhân quyền, tự do. Hãy hãnh diện đã là người lính Cộng hoà dù ở phương vị nào, dù ở chiến trường nào hay dù đã từng phục vụ trong các nghành hậu cứ. Bởi vì chúng ta đứng trong hàng ngũ những người chân chính đối diện với đoàn quân hung ác mà ngày nay đã hoàn toàn lộ diện chân tướng.

Rồi có ngày ta về lại đường phố Sài Gòn, đắp lại nắm đất nơi phần mộ các đồng đội ngày xưa. Rồi có ngày ta bù đắp cho anh em thương phế binh một cuộc sống có nhân phẩm trong những ngày cuối đời của họ. Rồi sẽ có ngày chúng ta hân hoan gắn lên các góc đường phố thành thị miền Nam tên các anh hùng nghĩa sĩ từ Châu Minh Kiến, Nguyễn Văn Ðương, Phạm Phú Quốc, đến Lê Văn Hưng,Nguyễn Huy Ánh, Truơng Bá Ân, Phạm Văn Phú...

Tôi tiễn anh lên đường

Tôi tiễn anh lên đường.

Dạ thôi anh hãy bước đi.
Đau thương.
Rồi cũng biệt ly giã từ.
Em về.
Xếp áo thiên thư.
Xếp ân tình cũ dấu dư hương sầu.
Nụ hôn trên ảnh chìm sâu.
Thắt trong tim héo.
Dầy câu ân tình.

Trăng qua khung cửa lung linh.
Nhoà lên hư ảnh chiến binh sa trường.
Anh đi.
Để lại vấn vươn.
Anh đi.
Lưu mối đoạn trường em mang.

Đời trai sương gió dọc ngang.
Vượt bao gian khó thác ngàn hiểm nguy.
Cô đơn.
Em tiễn người đi.
Trời ơi xa cách biết khi nào về !.

Chinh nhân.
Xin giữ lời thề.
Làm trai.
Tình nước tình quê vẹn toàn.
Tang bồng thoả chí nước non.
Tình đầu.
Mười tám sắc son em chờ.
Mong anh đạt được ước mơ.
Đoàn quân chiến thắng.
Dựng cờ vinh quang.

Nguyên Thạch.
Tháng Tư 2007.